Chỉ khi đó việc cho-nhận trẻ em làm con nuôi mới phù hợp với quyền của trẻ em được sống trong gia đình, phù hợp với nguyên tắc: “Trẻ em không bị buộc cách li khỏi cha mẹ trái với ý muố
Trang 1TS NguyÔn Ph−¬ng Lan * uật hôn nhân và gia đình năm 2000 và
các văn bản hướng dẫn thi hành đã có
quy định về điều kiện nuôi con nuôi Tuy
nhiên, có thể thấy quy định về điều kiện nuôi
con nuôi chưa có sự thống nhất trong các
văn bản pháp luật, chưa phản ánh và phù hợp
với bản chất của quan hệ cho-nhận con nuôi
Trong bài viết này chúng tôi muốn trao đổi
một số ý kiến về việc cần thiết phải sửa đổi,
bổ sung để hoàn thiện hơn các quy định về
điều kiện nuôi con nuôi nhằm đảm bảo việc
nuôi con nuôi đúng với bản chất của nó
Trước hết, cần nhận thức rằng việc
cho-nhận trẻ em làm con nuôi chỉ thực sự cần
thiết và vì lợi ích của trẻ em được cho làm
con nuôi khi trẻ em đó không thể được nuôi
dưỡng, chăm sóc trong gia đình ruột thịt của
mình vì những lí do nhất định Chỉ khi đó
việc cho-nhận trẻ em làm con nuôi mới phù
hợp với quyền của trẻ em được sống trong
gia đình, phù hợp với nguyên tắc: “Trẻ em
không bị buộc cách li khỏi cha mẹ trái với ý
muốn của cha mẹ, trừ trường hợp sự cách li
như thế là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của
trẻ em”.(1) Ngay cả trong trường hợp phải
cách li khỏi cha mẹ thì ý muốn của trẻ em
cũng phải được quan tâm trước tiên khi trẻ
em có khả năng thể hiện ý chí của mình Vì
vậy, việc đưa trẻ em ra khỏi gia đình ruột thịt
của mình để làm con nuôi người khác chỉ có
thể xuất phát từ lợi ích của chính trẻ em Do
đó, quy định về các điều kiện của việc cho-nhận con nuôi phải xuất phát từ nguyên tắc
cơ bản này
Xuất phát từ bản chất của việc cho-nhận con nuôi là xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi nên việc nuôi con nuôi phải đáp ứng được các điều kiện nhất định do pháp luật quy định Các điều kiện đó vừa phải đảm bảo việc cho-nhận con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em đồng thời đảm bảo tạo ra môi trường gia đình tốt nhất cho việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em được nhận làm con nuôi Do đó, các điều kiện cho-nhận con nuôi cần được xem xét từ các góc độ sau:
1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi
Theo pháp luật hiện hành, điều kiện của người được nhận làm con nuôi chỉ bị ràng buộc bởi độ tuổi Theo quy định tại Điều 68 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, người được nhận làm con nuôi là người từ 15 tuổi trở xuống, trừ trường hợp con nuôi là người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn Tuy nhiên, pháp luật không quy định độ tuổi tối đa của người làm con nuôi trong những trường hợp này Có thể thấy quy định này
L
* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2mặc dù phản ánh truyền thống đạo đức của
dân tộc nhưng có phần không phù hợp với
thực tế, với bản chất của việc nuôi con nuôi
Việc nuôi con nuôi trước hết hướng tới đối
tượng là trẻ em không được nuôi dưỡng,
chăm sóc trong gia đình ruột thịt nên việc
nuôi con nuôi là vì lợi ích của trẻ em được
nhận nuôi Với quy định người trên 15 tuổi
cũng có thể được nhận làm con nuôi mà
không giới hạn độ tuổi tối đa là quá mở rộng
diện những người có thể được nhận làm con
nuôi Điều đó không phù hợp với thực tế đời
sống nên không có tính khả thi
Mặt khác, việc chỉ quy định độ tuổi mà
không kèm theo bất cứ điều kiện nào khác
của người được cho làm con nuôi đã dẫn đến
nhận thức rằng mọi trẻ em từ 15 tuổi trở
xuống đều có thể được cho làm con nuôi
Điều này là không phù hợp với bản chất của
việc cho-nhận con nuôi là chỉ cho trẻ em làm
con nuôi khi trẻ em đó không thể được chăm
sóc, nuôi dưỡng trong gia đình ruột thịt Do
đó, quy định này đã dẫn đến hiện tượng lợi
dụng việc cho-nhận con nuôi nhằm những
mục đích trục lợi khác mà không nhằm xác
lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận
nuôi và người được nhận làm con nuôi Ví
dụ, việc cho trẻ em làm con nuôi của người
thương binh, người có công với cách mạng
để được hưởng các chế độ đãi ngộ của nhà
nước dành cho thân nhân của các đối tượng
này nhưng trẻ em được nhận nuôi vẫn sống ở
nhà cha mẹ đẻ, quan hệ cha mẹ và con
không được xác lập, thực hiện trên thực tế
giữa người nhận nuôi và trẻ em được nhận
nuôi Để khắc phục hiện tượng này, Nghị
định của Chính phủ số 69/2006/NĐ-CP ngày
21/7/2006 và Thông tư số 08/2006/TT-BTP ngày 8/12/2006 đã quy định rõ hơn về điều kiện của trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài Theo quy định tại các văn bản này thì trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em bị
bỏ rơi, mồ côi, trẻ em bị tàn tật, khuyết tật, mất năng lực hành vi dân sự, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo khác đang sống tại các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp hoặc sống tại gia đình Trong trường hợp trẻ em đang sống tại gia đình mà có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi thì chỉ giải quyết cho làm con nuôi của cô, cậu, dì, chú, bác (bên nội
hoặc bên ngoại) ở nước ngoài, “nếu trẻ em
đó bị mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị mồ côi
mẹ hoặc cha, còn người kia không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó; trường hợp trẻ em còn cha, mẹ nhưng cả cha và mẹ đều không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó thì trẻ em cũng được giải quyết cho làm con nuôi Trong trường hợp trẻ em tuy có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi, nhưng trẻ em đó còn cả cha và mẹ, sức khoẻ của trẻ em và của cha
mẹ bình thường, cha mẹ vẫn có khả năng lao động và có điều kiện để bảo đảm chăm sóc con mình tại Việt Nam thì không giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài”.(2) Có thể thấy quy định như vậy là cần thiết và phù hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi, tuy nhiên điều kiện đó không chỉ đặt ra trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
mà cần được coi là điều kiện chung đối với
Trang 3người được nhận nuôi Pháp luật của các
nước như Trung Quốc, Philippines bên
cạnh độ tuổi đều quy định những điều kiện cụ
thể về hoàn cảnh của trẻ em có thể được cho
làm con nuôi, chỉ khi đó việc cho trẻ em làm
con nuôi mới thực sự cần thiết và vì lợi ích tốt
nhất của trẻ em.(3) Ví dụ, pháp luật Trung
Quốc quy định: Trẻ em dưới 14 tuổi bị mồ
côi, bị bỏ rơi, trẻ trong gia đình khó khăn
không có khả năng nuôi dưỡng có thể được
cho làm con nuôi (Điều 4 Luật nuôi con nuôi
của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
ngày 4/11/1998, có hiệu lực từ ngày 1/4/1999)
Do vậy, theo chúng tôi, ngoài quy định
về tuổi, pháp luật cần quy định về hoàn cảnh
cụ thể của trẻ em được cho làm con nuôi
Trẻ em được cho làm con nuôi là những trẻ
em từ 15 tuổi trở xuống có hoàn cảnh sau:
- Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy
định tại Điều 41 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục trẻ em năm 2004;
- Trẻ em tuy còn cha mẹ nhưng cha mẹ
không có khả năng nuôi dưỡng do bị mất năng
lực hành vi dân sự, bị bệnh hiểm nghèo,
không có khả năng lao động và kinh tế
- Trẻ em bị cha mẹ đẻ đối xử tàn tệ, bị bỏ
mặc hoặc bị cha mẹ hành hạ, ngược đãi, xúc
phạm nghiêm trọng đến thân thể, nhân phẩm
một cách thường xuyên, có hệ thống, gây
nguy hiểm cho trẻ, nếu trẻ vẫn tiếp tục sống
cùng cha mẹ đẻ
2 Điều kiện đối với người nhận nuôi
con nuôi
Điều kiện đối với người nhận nuôi con
nuôi được quy định tại Điều 69 Luật hôn
nhân và gia đình Các điều kiện đó phần nào
thể hiện được những yêu cầu cần phải có của
người nhận nuôi con nuôi song các quy định này chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, cần được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn Theo chúng tôi, những nội dung cần được sửa đổi, bổ sung về điều kiện của người nhận nuôi con nuôi là:
- Độ tuổi của người nuôi: Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định người nhận nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên Theo chúng tôi quy định như vậy là chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với mục đích của việc nuôi con nuôi Quan hệ cha mẹ và con trong việc nuôi con nuôi không gắn với quy luật tự nhiên về mặt sinh học mà nó được hình thành trên cơ sở ý chí, tình cảm của các bên Để phù hợp với thực chất của quan hệ nuôi con nuôi, để việc xác lập quan hệ cha mẹ
và con giữa người nhận nuôi và con nuôi có
cơ sở, cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi con nuôi kết hợp với quy định về khoảng cách tuổi giữa hai bên
Quy định về độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi phải căn cứ vào bản chất của việc nuôi con nuôi là hình thành quan hệ cha mẹ
và con hợp pháp giữa hai bên, do đó tuổi của người nuôi phải tương xứng, phù hợp với tuổi có thể làm cha mẹ về mặt sinh học Đồng thời, người nhận nuôi phải đạt tới độ tuổi tối thiểu nhất định thì mới có được kinh nghiệm, hiểu biết, điều kiện kinh tế phù hợp
và quan trọng nhất là nhận thức rõ về nhu cầu nhận nuôi con nuôi của mình Do đó, cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nuôi một cách rõ ràng, cụ thể hơn và có thể quy định độ tuổi đó là từ 25 tuổi trở lên, kết hợp với khoảng cách tuổi tối thiểu giữa người nuôi và con nuôi là 20 tuổi Pháp luật của các nước, bên cạnh quy định về khoảng cách
Trang 4tuổi tối thiểu giữa người nhận nuôi và con
nuôi, đều quy định độ tuổi tối thiểu của
người nhận nuôi con nuôi Pháp luật ở nước
ta trước đây cũng đã quy định về độ tuổi tối
thiểu này.(4)
Song, việc quy định giới hạn tuổi tối đa
của cha mẹ nuôi cũng có ý nghĩa không nhỏ
Việc nhận nuôi con nuôi là nhằm đem lại gia
đình cho đứa trẻ, gia đình đó càng giống,
càng tương hợp với gia đình tự nhiên của trẻ
thì càng tốt, vì vậy “sẽ không hợp với tự
nhiên chút nào nếu trẻ ở với các cặp vợ
chồng đã quá tuổi sinh nở”.(5) Hơn nữa, khi
tuổi đã quá cao thì khả năng nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con nuôi sẽ giảm dần
theo tuổi tác và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
ích của trẻ được nhận nuôi Vì vậy, để phù
hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi và
có tính khả thi, pháp luật nên quy định hạn
chế tuổi tối đa của người nhận nuôi con nuôi,
chẳng hạn người nhận nuôi con nuôi là
người không quá 60 tuổi
- Cần quy định cụ thể các điều kiện thực
tế của người nhận nuôi con nuôi là gì để có
cơ sở thống nhất khi xem xét công nhận
việc nuôi con nuôi Cần quy định rõ những
người mắc các bệnh hiểm nghèo có nguy cơ
lây nhiễm cao như nhiễm HIV/AIDS, các
bệnh viêm gan, lao có được nhận nuôi con
nuôi hay không? Xét về lợi ích lâu dài của
trẻ em được nhận nuôi thì theo chúng tôi,
pháp luật cần quy định những người mắc
các bệnh trên không được nhận nuôi con
nuôi để đảm bảo sức khỏe của trẻ em, vì trẻ
em không có khả năng để tự bảo vệ mình
Pháp luật của một số nước như Trung Quốc
cũng quy định cấm người mắc một số bệnh
nguy hiểm không được nhận nuôi con nuôi (Điều 6 Luật nuôi con nuôi của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa)
- Về tư cách đạo đức của người nhận nuôi con nuôi: Quy định người nhận nuôi con nuôi phải có tư cách đạo đức tốt là quy định rất chung chung, khó xác định, do đó nên gộp chung với quy định tại khoản 5 Điều
69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Tuy nhiên, khoản 5 Điều 69 chưa rõ ràng, còn quy định chung chung giữa nhóm những hành vi phạm tội với những hành vi khác Sự diễn đạt đó có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng pháp luật Bên cạnh
đó, để tránh khả năng lạm dụng, bóc lột sức lao động của con nuôi, cần quy định những người đã bị kết án mà chưa được xoá án tích
về tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228 BLHS năm 1999) cũng không được nhận nuôi con nuôi Do đó, theo chúng tôi, quy định này cần sửa lại như sau: Không phải là người có hành vi xúi giục, ép buộc trẻ em làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án
mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; tội ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, người có công nuôi dưỡng mình; tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em
- Đối với người nhận nuôi là người đang
có vợ hoặc có chồng: Trong trường hợp người nhận nuôi đang có vợ hoặc có chồng,
Trang 5pháp luật cần có quy định cụ thể về một số
khía cạnh sau:
Thứ nhất, nên quy định người đang có vợ,
có chồng được nhận nuôi con nuôi, nếu cả hai
người cùng đồng ý nhận nuôi con nuôi chung
mà không nên cho phép người đang có vợ, có
chồng nhận nuôi con nuôi riêng, trừ trường
hợp nhận con riêng của chính chồng hoặc vợ
mình làm con nuôi Điều này tạo điều kiện
hình thành gia đình trọn vẹn, tự nhiên giống
như gia đình huyết thống của trẻ, để trẻ có
môi trường thuận lợi trong quá trình hình
thành tình cảm với cha mẹ nuôi, phát triển
thể chất và nhân cách Quy định như vậy còn
đảm bảo tính khả thi của điều luật
Thứ hai, khi cả hai vợ chồng cùng nhận
nuôi con nuôi thì cả hai người đều phải đáp
ứng các điều kiện của việc nuôi con nuôi, trừ
trường hợp vợ hoặc chồng nhận con riêng
của người kia làm con nuôi thì không bắt
buộc phải đủ khoảng cách tuổi tối thiểu giữa
người nhận nuôi và con nuôi (20 tuổi) mà
chỉ cần đáp ứng điều kiện đủ tuổi tối thiểu
3 Sự thể hiện ý chí của các bên có liên quan
Sự thể hiện ý chí của các chủ thể có liên
quan trong việc xác lập quan hệ nuôi con
nuôi có ý nghĩa quan trọng Về vấn đề này,
theo chúng tôi cần có sự quy định chặt chẽ,
cụ thể hơn ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, cha mẹ đẻ cần thể hiện ý chí rõ
ràng về việc cho con làm con nuôi theo hình
thức nào, đơn giản hay đầy đủ, tức là cha mẹ
đẻ phải xác định rõ việc cho con làm con
nuôi có dẫn đến chấm dứt hoàn toàn các
quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa cha mẹ đẻ và
đứa con được cho làm con nuôi hay không
Đây là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc xác định hình thức nuôi con nuôi, hậu quả pháp lí của việc nuôi con nuôi theo pháp luật của nước nhận trong trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài
Vì vậy, việc quy định rõ ràng trong pháp luật Việt Nam về các hình thức nuôi con nuôi và hậu quả pháp lí của nó là rất cần thiết
Thứ hai, khoản 1 Điều 26 Nghị định của Chính phủ số 158/2005/NĐ-CP về đăng kí
và quản lí hộ tịch quy định: “trong trường hợp một bên cha hoặc mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì chỉ cần chữ kí của người kia; nếu cả cha và mẹ đẻ đều đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì người hoặc tổ chức giám hộ trẻ em kí giấy thoả thuận” Quy định này theo chúng tôi là chưa chính xác bởi
vì trong trường hợp cha đẻ hoặc mẹ đẻ hoặc
cả hai người bị “hạn chế năng lực hành vi dân sự” theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) thì họ vẫn có quyền và vẫn có khả năng thể hiện ý chí tự nguyện của mình về việc cho con mình làm con nuôi người khác Đó là quyền nhân thân độc lập của cha mẹ đẻ, không thể chuyển giao cho người khác nên khi đó người giám hộ hoặc người đứng đầu
cơ sở nuôi dưỡng không thể kí giấy thoả thuận thay cha, mẹ đẻ được Do đó, trong quy định trên cần phải loại bỏ cụm từ “hạn chế năng lực hành vi dân sự” thì mới chính xác
Thứ ba, sự đồng ý của người giám hộ theo quy định tại Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là chưa chặt chẽ, chưa đảm bảo được lợi ích của trẻ em được giám
hộ Bởi vì, việc cho đứa trẻ làm con nuôi cần được xem xét, cân nhắc đầy đủ mọi khía
Trang 6cạnh và phải đảm bảo rằng “khi bố mẹ không
thể hoặc không phù hợp để chăm sóc con thì
thân nhân của bố mẹ đứa trẻ hoặc người
thay thế khác - gia đình nuôi dưỡng…”.(6)
Việc đứa trẻ được giám hộ ra khỏi môi
trường gia đình ruột thịt của trẻ chỉ là biện
pháp cuối cùng, khi đứa trẻ không thể có
được sự chăm sóc, nuôi dưỡng trong gia
đình họ hàng mở rộng của trẻ Vì vậy, việc
cho đứa trẻ đó làm con nuôi cần có ý kiến
của những người họ hàng thân thích của trẻ
như ông bà nội, ông bà ngoại, các anh, chị
ruột, các cô, chú, bác ruột Những người
này có quyền thể hiện ý chí của mình về việc
nhận nuôi dưỡng trẻ hoặc cho trẻ làm con
nuôi Khi không có ai trong số những người
họ hàng thân thích của trẻ có thể nuôi dưỡng
hoặc việc nuôi dưỡng trong gia đình họ hàng
của trẻ là không có lợi cho trẻ thì việc cho
trẻ làm con nuôi là cần thiết Quy định như
vậy còn tạo điều kiện để việc nuôi con nuôi
giữa những người họ hàng ruột thịt trở thành
hiện thực Pháp luật của Pháp (Điều 348-2
BLDS Cộng hoà Pháp), của Bỉ(7) cũng quy
định cần có sự đồng ý của hội đồng gia tộc
trong việc cho trẻ làm con nuôi, khi cha mẹ
đẻ của nó đều chết, đều mất năng lực hành vi
dân sự Tuy nhiên, cũng cần quy định thêm
là nếu những người họ hàng của đứa trẻ mà
lạm quyền không cho trẻ làm con nuôi thì
việc cho trẻ làm con nuôi vẫn có thể được
thực hiện vì lợi ích của trẻ (Điều 348-6
BLDS Cộng hoà Pháp)
4. Điều kiện nhận nuôi con nuôi giữa
những người có quan hệ họ hàng
Giữa những người có quan hệ họ hàng
xác lập quan hệ nuôi con nuôi là điều kiện
thuận lợi cho trẻ em vì nó được tiếp tục sống trong môi trường ruột thịt của mình Điều này vừa phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống đạo đức của dân tộc, vừa phù hợp với các văn bản pháp lí quốc tế về nuôi con nuôi Pháp luật Philippines cho phép nhận người có quan hệ họ hàng cùng dòng máu hoặc thân thích từ đời thứ tư làm con nuôi,(8) Điều 7 Luật nuôi con nuôi của Trung Quốc cho phép nhận người họ hàng cùng huyết thống nhưng khác chi ở đời thứ ba làm con nuôi(9) Tuy nhiên, giữa những người
có quan hệ họ hàng trong phạm vi nào thì có thể xác lập quan hệ nuôi con nuôi cần được pháp luật quy định rõ Theo chúng tôi, việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thiết lập giữa những người có quan hệ bàng
hệ với nhau giữa người ở đời trên với người
ở đời dưới, tức là ít nhất cách nhau một đời
mà việc xác lập quan hệ cha mẹ-con đó không làm thay đổi thứ bậc giữa họ với nhau
trong gia đình Ví dụ: giữa chú, bác, cô, cậu,
dì với cháu có thể được xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi Nhưng giữa những người có quan hệ huyết thống trực hệ thì không thể xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và
con nuôi Ví dụ: Ông bà ngoại hoặc ông bà
nội không thể nhận cháu ruột trực hệ làm con nuôi; người cha đẻ về huyết thống không thể nhận con đẻ ngoài giá thú của chính mình làm con nuôi Vấn đề này trước đây chưa được quy định trong các văn bản luật hôn nhân và gia đình Chỉ gần đây, khía cạnh này mới được đề cập trong một số văn bản dưới luật, dưới dạng thông tư,(10) nên hiệu lực chưa cao, chưa có tính phổ cập Vì thế khía cạnh này cần được quy định thống nhất
Trang 7và cụ thể hơn trong luật về nuôi con nuôi
5 Thời gian thử thách trong việc xác
lập quan hệ nuôi con nuôi
Việc nuôi con nuôi nhằm hình thành
quan hệ cha mẹ và con hợp pháp mà không
trên cơ sở huyết thống, nên đó là việc không
dễ dàng Quá trình xác lập việc nuôi con
nuôi vừa là sự bắt đầu vừa là sự chấm dứt
Đó là sự bắt đầu quan hệ giữa cha mẹ nuôi
và con nuôi và có thể dẫn tới sự chấm dứt
quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con Trong quá
trình đó các bên đều phải đối mặt với những
biến động, khủng hoảng tâm lí sâu sắc và trải
nghiệm những xúc cảm mạnh mẽ Sự hoà
hợp, thích ứng với nhau là yếu tố căn bản tạo
nên sự bền vững, gắn bó trong quan hệ giữa
cha mẹ nuôi và đứa trẻ được nhận làm con
nuôi Do những đặc điểm đó của việc cho
nhận con nuôi, nên pháp luật của nhiều nước
đã quy định về thời gian thử thách trong việc
xác lập quan hệ nuôi con nuôi và coi đó là
điều kiện để xem xét công nhận việc nuôi
con nuôi Thời gian thử thách là điều kiện
được quy định tại Điều 20 Công ước La Hay
về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực
con nuôi nước ngoài
Như vậy, thời gian thử thách là khoảng
thời gian pháp luật quy định mà trong
khoảng thời gian đó, người nhận nuôi sống
chung với người được nhận làm con nuôi để
cùng thích nghi và xem xét khả năng phù
hợp với nhau giữa hai bên, từ đó cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định công
nhận hay không công nhận việc nuôi con
nuôi trên cơ sở bảo đảm lợi ích tốt nhất của
người được nhận làm con nuôi
Pháp luật về nuôi con nuôi ở nước ta
không quy định về thời gian thử thách giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi trước khi công nhận việc nuôi con nuôi Pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước có quy định về vấn đề này, như pháp luật Philippines, pháp luật Pháp… Quy định
về thời gian thử thách rất cần thiết đối với hình thức nuôi con nuôi đầy đủ, không chỉ trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mà ở cả trong nước Theo chúng tôi, nên quy định thời gian thử thách là 6 tháng Chỉ sau khi trải qua thời gian thử thách, cơ quan có thẩm quyền mới có cơ sở để ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi, nếu giữa người nhận nuôi và đứa trẻ thiết lập được mối quan hệ hoà hợp Nếu hai bên không có sự hoà hợp, không thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp thì cần đưa đứa trẻ ra khỏi gia đình người nhận nuôi, đồng thời tìm gia đình khác có mong muốn nhận con nuôi phù hợp hơn với đứa trẻ
6 Đăng kí việc nuôi con nuôi và vấn
đề nuôi con nuôi thực tế
Đăng kí việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện bắt buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lí
Về nguyên tắc, việc nuôi con nuôi không đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sẽ không có giá trị pháp lí, các bên không được công nhận có quan hệ cha mẹ và con trước pháp luật
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, ở nước ta đã từng tồn tại việc nuôi con nuôi thực tế Trong từng giai đoạn lịch sử, việc nuôi con nuôi thực tế đã được pháp luật điều chỉnh và công nhận giá trị pháp lí.(11) Qua các văn bản này có thể hiểu nuôi con nuôi
Trang 8thực tế là việc nuôi con nuôi đã đáp ứng đầy
đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi theo
quy định của pháp luật, phù hợp với mục
đích nuôi con nuôi, trong đó các bên đã thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ
và con đối với nhau, việc nuôi con nuôi đã
được mọi người công nhận nhưng chưa đăng
kí tại cơ quan có thẩm quyền
Có thể thấy nếu áp dụng những quy định
đã có về nuôi con nuôi thực tế một cách
cứng nhắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền,
lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ
nuôi con nuôi và không phù hợp với thực tế
của quan hệ nuôi con nuôi Bởi vì, có nhiều
trường hợp quan hệ nuôi con nuôi đã được
xác lập trên thực tế, giữa hai bên đã thực
hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha
mẹ và con đối với nhau, việc nuôi con nuôi
đáp ứng đầy đủ các điều kiện, phù hợp với
mục đích của việc nuôi con nuôi và đã tồn
tại trong thời gian dài, được mọi người công
nhận, đến nay con nuôi có thể đã trên 15 tuổi
nhưng nếu các bên có nguyện vọng đăng kí
việc nuôi con nuôi thì không có cơ sở pháp lí
để giải quyết, vì vậy quyền lợi của các bên
không được bảo đảm Do đó, theo chúng tôi,
đối với những trường hợp này, Nhà nước cần
có biện pháp linh hoạt, mềm dẻo nhằm bảo
vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các
bên Biện pháp đó có thể dành cho các
đương sự thời hạn nhất định, có thể là hai
năm để thực hiện đăng kí việc nuôi con nuôi
Sau thời hạn nhất định đó, nếu các bên
không thực hiện việc đăng kí thì không được
công nhận có quan hệ nuôi con nuôi Điều
này có thể được điều chỉnh bằng văn bản
riêng biệt, tương tự như cách giải quyết đối
với các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước khi Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 có hiệu lực Khi đó, thời hạn hai năm sẽ được tính kể từ thời điểm văn bản riêng biệt đó có hiệu lực Theo chúng tôi, khi xây dựng Luật nuôi con nuôi cần cân nhắc và có quy định cụ thể, hợp tình, hợp lí để giải quyết thoả đáng những trường hợp nuôi con nuôi thực tế đã tồn tại trong quá khứ nhằm bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi./
(1).Xem: Điều 9 Công ước quốc tế về quyền trẻ em (2).Xem: Thông tư số 08/2006/TT-BTP ngày 8/12/2006 (3).Xem: Điều 8 Đạo luật về nhận nuôi con nuôi trong nước năm 1998 của Philippines
(4).Xem: Điều 183 Hoàng Việt Trung Kì hộ luật
(5) Nilima Mehta, Cha mẹ đã chọn con, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.36
(6) Điều 4 Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lí liên quan đến bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là việc thu xếp nuôi con nuôi ở trong
và ngoài nước Xem: Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Việt Nam, Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền
trẻ em, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1997, tr 198 (7).Xem: Viện khoa học pháp lí, Đề tài khoa học cấp
bộ: “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài trước yêu cầu gia nhập Công ước La Haye năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế”, Chủ nhiệm: TS Vũ Đức Long, Hà Nội 10/2005, tr 218
(8).Xem: Điều 7 Đạo luật về nhận nuôi con nuôi trong nước năm 1998 của Cộng hòa Philippines
(9).Xem: Điều 7 Luật nuôi con nuôi của CHND Trung Hoa thông qua ngày 4/11/1998 và có hiệu lực ngày 1/4/1999
(10).Xem: Thông tư số 08/2006/TT-BTP và Thông tư
số 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008
(11).Xem: Nghị quyết số 01/1988/NQHĐTP-TATC ngày 20/1/1988 và Nghị định của Chính phủ số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002