Bảo đảm thực hiện pháp luật bao gồm rất nhiều điều kiện và yếu tố, “từ chất lượng của văn bản pháp luật hệ thống pháp luật; các yếu tố liên quan đến việc triển khai tổ chức thực hiện
Trang 1ts nguyÔn minh ®oan *
ặc dù pháp luật đã quy định nghĩa vụ,
trách nhiệm của các tổ chức và cá
nhân trong việc thực hiện pháp luật và tổ
chức thực hiện pháp luật song những quy
định ấy chưa đủ để pháp luật được thực hiện
nghiêm minh trong đời sống thực tế Để
pháp luật được thực hiện nghiêm minh cần
phải có những điều kiện chủ quan và khách
quan nhất định tạo ra cơ sở vững chắc cho
việc thực hiện pháp luật được tiến hành
thuận lợi, có hiệu quả trong thực tế Những
điều kiện đó được gọi là bảo đảm thực hiện
pháp luật Bảo đảm thực hiện pháp luật bao
gồm rất nhiều điều kiện và yếu tố, “từ chất
lượng của văn bản pháp luật hệ thống pháp
luật; các yếu tố liên quan đến việc triển khai
tổ chức thực hiện pháp luật, trong đó có
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cho
đến các yếu tố có tính chất nền tảng, cơ sở
bảo đảm thực hiện pháp luật như trình độ
phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng; trình độ
văn hoá, ý thức pháp luật; trình độ, năng
lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công
chức; kinh phí, vật chất bảo đảm thực hiện
pháp luật”.(1) Mỗi điều kiện, yếu tố đều có
vai trò, tác dụng nhất định đối với việc thực
hiện pháp luật đồng thời cũng có sự ảnh
hưởng qua lại lẫn nhau và cùng ảnh hưởng
đến quá trình thực hiện pháp luật Bài viết
này tập trung phân tích về một số bảo đảm
trực tiếp quan trọng của thực hiện pháp luật
1 Chất lượng của hệ thống pháp luật thực định được thể hiện ở cả hình thức và nội dung của nó Để có chất lượng đòi hỏi các văn bản pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định, có tên gọi phù hợp với nội dung thể hiện, có hình thức rõ ràng, có nội dung được kết cấu chặt chẽ, logic các thuật ngữ pháp lí được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân
Hệ thống pháp luật có chất lượng cần thoả mãn những yêu cầu cơ bản sau:
+ Toàn diện và đồng bộ: Hệ thống pháp luật toàn diện và đồng bộ thể hiện ở cấu trúc hình thức của nó, nghĩa là hệ thống pháp luật phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, các quy định pháp luật phải có khả năng bao quát toàn bộ đời sống xã hội, để các quan hệ xã hội quan trọng có tính điển hình, phổ biến cần có sự điều chỉnh của pháp luật thì đều có pháp luật điều chỉnh Về kết cấu mỗi quy phạm pháp luật phải có cấu trúc logic, chặt chẽ; mỗi chế
M
* Giảng viên chính Khoa hành chính-nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2định pháp luật có đầy đủ các quy phạm pháp
luật cần thiết; mỗi ngành luật có đầy đủ các
chế định pháp luật theo cơ cấu của ngành
luật; còn hệ thống pháp luật có đủ các ngành
luật đáp ứng được nhu cầu phát triển của các
quan hệ xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển của
đất nước Điều này đòi hỏi việc ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật không chỉ chú
trọng tới các luật về tổ chức bộ máy nhà
nước, củng cố chính quyền nhân dân mà còn
phải chú ý tới các luật điều chỉnh một cách
toàn diện các quan hệ xã hội thuộc các lĩnh
vực đời sống dân sinh như dân sự, thương
mại, đầu tư, môi trường , không chỉ chú
trọng tới luật nội dung mà còn phải chú ý tới
luật hình thức về trình tự, thủ tục
Bất kì quy phạm hay văn bản quy phạm
pháp luật nào cũng được tạo ra và tác động
không phải trong sự độc lập, riêng rẽ mà
trong tổng thể những mối liên hệ và những
ràng buộc nhất định Do vậy, tính toàn diện
và đồng bộ của hệ thống pháp luật có ảnh
hưởng rất lớn tới tính khả thi và hiệu quả của
việc thực hiện pháp luật Bởi tất cả những
mối liên hệ, những sự ràng buộc đó của các
quy định, các văn bản pháp luật với những
yếu tố và hiện tượng khác nhau trong đời
sống xã hội xét đến cùng đều có ảnh hưởng
tới sự tác động, điều chỉnh của pháp luật
Việc thực hiện một quy phạm pháp luật hay
một chế định luật không tốt có thể sẽ làm
việc thực hiện các quy phạm, các chế định
pháp luật khác gặp nhiều khó khăn thậm chí
là không thể thực hiện được, tuỳ theo vị trí,
vai trò và các mối liên hệ của nó với các yếu
tố, các bộ phận khác
Tính toàn diện, đồng bộ của hệ thống
pháp luật còn thể hiện ở việc ban hành đầy
đủ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trong những trường hợp cần thiết để khi văn bản pháp luật có hiệu lực thì
nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế + Luôn thống nhất: Sự thống nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho sự thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật Sự thống nhất của hệ thống pháp luật được thể hiện trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật; giữa các chế định pháp luật trong ngành luật; giữa các quy phạm pháp luật trong chế định pháp luật cũng phải thống nhất Không có các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận
và trong các bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung
mà còn phải bảo đảm tính thứ bậc về giá trị pháp lí của chúng
+ Được ban hành phù hợp: Điều này thể
hiện ở nội dung của hệ thống pháp luật luôn
có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Có thể nói pháp luật
là những nhu cầu cơ bản, điển hình và có tính phổ biến nhất của đời sống kinh tế-xã hội được khái quát hoá, mô hình hoá dưới hình thức pháp lí cụ thể thông qua hoạt động
lí trí và ý chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do vậy, sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật mà đặc biệt là của các
Trang 3văn bản luật với quy luật khách quan của sự
phát triển kinh tế-xã hội là điều kiện vô
cùng quan trọng bảo đảm cho tính khả thi
và hiệu quả của pháp luật Phù hợp với các
quy luật và điều kiện kinh tế-xã hội sẽ làm
cho pháp luật dễ dàng được thực hiện đồng
thời cũng góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện
cho sự phát triển của kinh tế-xã hội, trường
hợp ngược lại, pháp luật khó được thực hiện
trên thực tế, thậm chí có thể cản trở hoặc
gây ra những thiệt hại nhất định cho sự phát
triển kinh tế-xã hội
Trước hết các quy định pháp luật phải
vừa phản ánh được những quy luật kinh tế
chung vừa phản ánh được những quy luật
kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất
đang tồn tại Nó phải tạo ra được những điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh, bền
vững của kinh tế đất nước Trong giai đoạn
hiện nay khi chúng ta xác định xây dựng chủ
nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc
hệ thống pháp luật phản ánh đúng tính chất,
đặc điểm, trình độ phát triển của kinh tế-xã
hội, định hướng đúng cho sự phát triển kinh
tế là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng
Tiếp đến là sự phù hợp của pháp luật
với điều kiện chính trị của đất nước mà quan
trọng nhất là phù hợp với đường lối, chính
sách của Đảng Hệ thống pháp luật Việt
Nam hiện nay phải thể chế hoá cương lĩnh
chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã
hội của Đảng trong điều kiện đổi mới, xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân, mở cửa, hội nhập quốc tế Trong xã hội Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều giai tầng khác nhau và lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, giai tầng cũng khác nhau Để bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định thì đòi hỏi pháp luật phải quy định một cách hài hoà về lợi ích cơ bản của tất cả các lực lượng chủ yếu trong xã hội sao cho có thể chấp nhận được Vì vậy, nội dung của hệ thống pháp luật phải quy định sao cho tương quan giữa các loại lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau có được sự hài hoà và có thể chấp nhận được Dưới hình thức pháp lí, trong khuôn khổ các văn bản pháp luật, nhà làm luật phải làm sao cho lợi ích hợp pháp của tầng lớp xã hội này không xung đột với lợi ích của các tầng lớp khác Chỉ trong những điều kiện như vậy mới bảo đảm được sự phát triển bình thường của các quan hệ xã hội và việc thực hiện các quyền, tự do, lợi ích của tầng lớp xã hội này sẽ không làm tổn hại đến tự
do, lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội Nếu không quan tâm tới sự thống nhất, hài hoà giữa các loại lợi ích của các lực lượng khác nhau trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật có thể dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội, chẳng những không phát huy được vai trò của pháp luật mà còn làm lu mờ bản chất tốt đẹp của pháp luật dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Trong xã hội, ngoài pháp luật còn có những công cụ khác như đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo những công cụ này cùng với pháp luật luôn có tác động rất lớn lên các quan hệ xã hội Sự tác động của các quy phạm xã hội khác nhau lên các quan
hệ xã hội luôn không giản đơn, chúng có liên
Trang 4quan, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Pháp luật
chỉ có thể phát huy được vai trò, tác dụng
của mình một cách tốt nhất khi có sự tác
động cùng chiều, phù hợp với những công cụ
điều chỉnh khác Do vậy, hệ thống pháp luật
đòi hỏi phải phù hợp với phong tục, tập
quán, những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hoá
cao đẹp của nhân dân các dân tộc cùng sinh
sống trên đất nước Sự phù hợp của hệ thống
pháp luật với đạo đức, văn hóa dân tộc, với
thuần phong mĩ tục của đất nước, các công
cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác cũng là
một trong những yếu tố phản ánh chất lượng
của nó, làm cho hệ thống pháp luật được tôn
trọng và là điều kiện bảo đảm cho việc thực
hiện pháp luật nghiêm minh trên cơ sở tự
giác của mọi người
Không chỉ phù hợp với các điều kiện
kinh tế-xã hội của đất nước, hệ thống pháp
luật quốc gia còn phải phù hợp với pháp luật
quốc tế Trong xu hướng hội nhập và hợp
tác hiện nay, vấn đề này luôn đòi hỏi phải
được chú trọng và trong những giới hạn có
thể, hệ thống pháp luật quốc gia cần phải
phù hợp với các công ước, điều ước và
thông lệ quốc tế mà quốc gia đã kí kết hoặc
tham gia Hệ thống pháp luật quốc gia phải
được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc
cơ bản của các điều ước và thông lệ quốc tế,
tiếp thu và sử dụng có hiệu quả lí luận, kinh
nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước
khác trên thế giới
Phương pháp điều chỉnh pháp luật được
sử dụng phù hợp cho mỗi loại quan hệ xã
hội Chất lượng của hệ thống pháp luật còn
biểu hiện ở việc lựa chọn phương pháp điều
chỉnh pháp luật phù hợp cho mỗi loại quan
hệ xã hội Việc lựa chọn phương pháp điều chỉnh pháp luật phụ thuộc vào nội dung, tính chất của các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh và ý muốn chủ quan của nhà làm luật thông qua sự nhận thức, sự tính toán của
họ về những lĩnh vực, những vấn đề cần điều chỉnh pháp luật trong mỗi giai đoạn lịch sử của sự phát triển xã hội Sự lựa chọn phương pháp điều chỉnh pháp luật không đúng, không phù hợp sẽ làm mất đi hoặc giảm đi tính hiệu quả của pháp luật, bởi khi đó sẽ không đạt được mục đích mong muốn hoặc chỉ đạt được ở mức độ thấp Chẳng hạn, những tranh chấp, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lí và sử dụng đất đai có thể giải quyết bằng thủ tục hành chính và cũng
có thể bằng thủ tục tư pháp, vì vậy, đòi hỏi phải chọn phương pháp nào và giao cho cơ quan nào giải quyết thì phù hợp hơn, hiệu quả cao hơn
Chất lượng của hệ thống pháp luật còn thể hiện ở trình độ kĩ thuật pháp lí khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật Đó là tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hoá pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật có được đầy đủ các khả năng để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội Điều này đòi hỏi khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải đưa ra được những nguyên tắc, những trình tự thủ tục tối ưu để tiến hành có hiệu quả quá trình đó nhằm tạo ra được những quy định, những văn bản pháp luật tốt nhất, đồng thời phù hợp với các quy định đã có; xác định chính xác, khoa học cơ cấu của
hệ thống pháp luật phù hợp với các điều kiện
Trang 5kinh tế-xã hội của đất nước; ngôn ngữ được
sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ
thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu,
đảm bảo tính cô đọng, logic và một nghĩa
Đối với những thuật ngữ chuyên môn cần
xác định rõ nội dung đều được giải thích
trong văn bản
Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp
luật phải thường xuyên sử dụng các phương
tiện, các cách tiếp cận, các kĩ thuật pháp lí,
các quy tắc pháp lí tiên tiến khoa học nhất đã
đạt được của nhân loại trong lĩnh vực điều
chỉnh pháp luật Nội dung các quy phạm
pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật
được xây dựng với trình độ kĩ thuật pháp lí
cao có kết cấu chặt chẽ, logic các thuật ngữ
pháp lí được sử dụng chính xác, một nghĩa,
lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù
hợp với khả năng nhận thức của quảng đại
quần chúng nhân dân, “một quy phạm pháp
luật sẽ phát huy được hiệu quả cao hơn nếu
phù hợp với quan niệm, ý thức hiện có của
công dân và ngược lại”.(2) Sự chặt chẽ, rõ
ràng, chính xác của các quy phạm pháp luật
cũng tránh được những thiếu sót, sơ hở có
thể bị lợi dụng trong quá trình thực hiện và
áp dụng pháp luật Để có chất lượng các văn
bản pháp luật phải được xây dựng đúng thẩm
quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định, có tên
gọi phù hợp với nội dung thể hiện, hình thức
rõ ràng, dễ thực hiện
Mức độ hệ thống hóa cao và sự tồn tại
của nhiều bộ luật cũng được coi là biểu hiện
của hệ thống pháp luật hoàn thiện Tính hệ
thống hóa cao là đảm bảo rất quan trọng cho
việc thực hiện pháp luật dễ dàng, thuận lợi
và chính xác
+ Các quy định của pháp luật phải có khả
năng thực hiện được: Hệ thống pháp luật có
chất lượng thì phải bảo đảm tính khả thi, nghĩa là các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong điều kiện kinh tế, chính trị-xã hội hiện tại Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật phải được ban hành phù hợp với trình độ phát triển của đất nước
ở mỗi thời kì phát triển nhất định Nếu các quy định pháp luật được ban hành quá cao hoặc quá thấp so với các điều kiện phát triển của đất nước thì đều có ảnh hưởng đến chất lượng của pháp luật Trong những trường hợp đó hoặc là pháp luật không có khả năng thực hiện hoặc là được thực hiện không triệt
để, không nghiêm, không phát huy hết vai trò tác dụng của nó trong đời sống xã hội Tính khả thi của hệ thống pháp luật còn thể hiện ở việc các quy định pháp luật phải được ban hành đúng lúc, kịp thời đáp ứng những nhu cầu mà cuộc sống đang đặt ra, đồng thời phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành Khi ban hành pháp luật phải xem xét tới điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước có cho phép thực hiện được quy định hoặc văn bản pháp luật đó hay không, đồng thời phải tính đến các điều kiện khác như
tổ chức bộ máy nhà nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức có cho phép thực hiện được không, dư luận xã hội trong việc tiếp nhận quy định hoặc văn bản pháp luật
đó (ủng hộ hay không ủng hộ), trình độ văn hoá và kiến thức pháp lí của nhân dân Pháp luật có chất lượng phải là pháp luật đưa ra được phương án tốt nhất với phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp
Trang 6nhất để thông qua đó có thể đạt được mục
đích mong muốn trong những điều kiện
kinh tế-xã hội hiện tại
Chất lượng của hệ thống pháp luật là một
trong những cơ sở để bảo đảm cho việc thực
hiện và áp dụng pháp luật đạt được kết quả
cao trong thực tiễn, đồng thời cho phép dự
báo được khả năng hiện thực hoá các quy
định pháp luật trong đời sống xã hội, “pháp
luật được ban hành kịp thời, đầy đủ, đồng
bộ, phù hợp với các quy luật khách quan và
phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và ở
trình độ pháp lí cao: rõ ràng, chính xác và
một nghĩa thì tạo cơ sở cho điều chỉnh và tác
động pháp luật đạt được kết quả cao và
ngược lại”.(3)
2 Nâng cao chất lượng hệ thống pháp
luật Việt Nam hiện nay góp phần bảo đảm
cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh,
hiệu quả Có thể nói những năm gần đây
chất lượng của hệ thống pháp luật Việt Nam
đã được nâng cao nhiều cả về số lượng và
chất lượng Nội dung các văn bản quy phạm
pháp luật được mở rộng bao quát hầu hết các
lĩnh vực cơ bản, quan trọng của đời sống xã
hội Bên cạnh những thành tựu thì thực tế
không thể phủ nhận là chất lượng của một số
văn bản quy phạm pháp luật được ban hành
thời gian qua vẫn không cao Bản thân hệ
thống pháp luật chưa thật sự hoàn thiện,
thiếu đồng bộ, thống nhất, tính quy phạm
của hệ thống pháp luật chưa cao Nhiều quy
định pháp luật chỉ mới dừng lại ở dạng
những nguyên tắc chung, chưa thực sự phù
hợp với thực tế cuộc sống nên rất khó thực
hiện Việc ban hành các văn bản quy định
chi tiết, văn bản quy định về trình tự, thủ tục,
văn bản hướng dẫn thi hành luật hay quy định pháp luật thường không đầy đủ, chậm
so với yêu cầu và nhiều khi còn ban hành trái pháp luật
Một số luật có những quy định không thống nhất với nhau hoặc trùng lặp quá nhiều Chẳng hạn, sự lặp lại của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật là quá nhiều, đến mức không cần thiết Đọc các luật này người ta có cảm giác Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân chỉ là sự chi tiết hoá các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân Nhiều văn bản quy định chi tiết thi hành lại là sự sao chép văn bản chính và có bổ sung đôi chút nên số lượng quy phạm (các quy định pháp luật) là quá nhiều, dẫn đến khả năng bao quát nội dung của tất cả các văn bản, xác định sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản là rất khó khăn, ảnh hưởng không tốt đến cả hoạt động ban hành và thực hiện pháp luật Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do lực lượng, chất lượng và kĩ năng của cán
bộ làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các cán bộ ở các
bộ, ngành vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công tác này; số lượng các văn bản cần ban hành để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các văn bản luật quá nhiều; chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa văn bản quy định chi tiết thi hành với văn bản giải thích chính thức
Trang 7Nhiều văn bản được ban hành vội vàng
do sức ép về thời gian nên công tác chuẩn bị
chưa được tốt Sức ép thời gian còn thể hiện
ở chỗ cứ mỗi công đoạn, quy trình, thủ tục
soạn thảo, ban hành văn bản thường bị chậm
dẫn đến các công đoạn sau càng phải vội
vàng, bị dồn ép về thời gian
Số lượng cán bộ trực tiếp tham gia thẩm
định hoặc thẩm tra dự thảo văn bản là không
nhiều và số có điều kiện đọc, nghiên cứu kĩ dự
thảo văn bản để thẩm tra, thẩm định lại càng ít
nên chất lượng thẩm tra, thẩm định không cao
Pháp luật là hiện tượng chính trị-xã hội
theo nghĩa rộng của nó, do vậy, việc xây
dựng và nội dung các văn bản luật, các quy
phạm pháp luật luôn phản ánh kết quả của sự
tranh đấu, sự thoả hiệp giữa các cấp, các
ngành, các tầng lớp, lực lượng xã hội khác
nhau trong xã hội hiện tại Từ đó cho thấy
việc phân chia quyền lực, lợi ích giữa những
lực lượng trong xã hội sẽ ảnh hưởng rất lớn
tới việc đưa ra chính sách pháp luật này hay
chính sách pháp luật khác, ban hành văn bản
hay quy định pháp luật Tất cả những sự
phức tạp đó sẽ lí giải cho việc xây dựng các
quy phạm pháp luật phù hợp với quy luật
vận động và phát triển xã hội hay chỉ phù
hợp với lợi ích của lực lượng này hay của
lực lượng khác và lực lượng đó có đại diện
cho sự tiến bộ xã hội hay không? Vấn đề này
tuỳ thuộc vào giác độ và quan điểm của
người đánh giá Vấn đề lợi ích của các lực
lượng mà văn bản hay quy định pháp luật sẽ
mang lại diễn ra ngay từ khi soạn thảo văn
bản (giữa các thành viên của ban soạn thảo
hoặc những người có ảnh hưởng tới quá
trình soạn thảo văn bản); trên diễn đàn các kì
họp của Quốc hội và cả trong quá trình ban hành các quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nội dung các vấn đề được giao cho các
bộ, ngành để quy định chi tiết thường phức tạp nên mỗi ngành, mỗi cơ quan luôn có xu hướng quy định, hướng dẫn sao cho có lợi cho bộ, ngành mình nhiều nhất)
Nếu trước đây khi nói đến tính giai cấp của pháp luật thì người ta thường nhấn mạnh đến lợi ích giữa giai cấp này với giai cấp khác thì ngày nay nó liên quan không chỉ lợi ích của giai cấp mà còn là lợi ích của các nhóm có chung lợi ích ngay trong cùng giai cấp Bởi trong mỗi giai cấp cũng có sự phân tầng và tầng lớp trên thường có nhiều quyền hạn, lợi ích hơn, gắn bó với quyền lực nhà nước chặt chẽ hơn, còn tầng lớp dưới thường là đông đảo hơn song lợi ích thường ít hơn, vai trò và ảnh hưởng thường nhật đến quyền lực nhà nước ít hơn Vì vậy,
để có thể giải quyết được vấn đề lợi ích của các lực lượng thông qua các quy định của một văn bản quy phạm pháp luật một cách hài hoà là rất khó
Đôi khi tư tưởng chỉ đạo về nội dung của một số dự án luật không thống nhất, chưa rõ ràng, đầy đủ Những nhà phân tích chính sách không đưa ra được những định hướng chính xác, tối ưu và đầy đủ Các cơ quan lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, kể cả Quốc hội thường không đưa ra được đề cương chi tiết với những tư tưởng chỉ đạo thật chặt chẽ, đầy đủ nên những người trực tiếp soạn thảo văn bản gặp rất nhiều khó khăn Công việc soạn thảo dự án luật được dồn lên vai ban soạn thảo là chủ yếu Song trên thực tế những người trong Ban soạn
Trang 8thảo tham gia trực tiếp soạn thảo văn bản là
không nhiều, hầu hết công việc là do tổ biên
tập thực hiện
Một số bộ, ngành, hay cá nhân được giao
chủ trì hay tham gia soạn thảo văn bản chỉ
chú trọng đến việc bảo vệ hay đấu tranh vì
lợi ích cục bộ của bộ, ngành mình được quy
định trong dự thảo văn bản mà không chú ý
đến lợi ích chung của toàn xã hội
Trách nhiệm của mỗi người trong quá
trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật thường không cao và pháp luật
cũng không quy định trách nhiệm pháp lí bất
lợi đối với những người tham gia soạn thảo,
thẩm định, thẩm tra, ban hành những văn
bản quy phạm pháp luật sai trái hoặc có chất
lượng không tốt Những chuyên gia pháp lí
trực tiếp soạn thảo cũng chưa thực sự giỏi để
có thể chuyển hoá những tư tưởng chỉ đạo
của các cấp có thẩm quyền thành những dự
thảo có chất lượng, đúng đắn và chính xác
nhất, nói cách khác kĩ năng của các ban soạn
thảo là chưa thật cao
Nội dung một số văn bản luật thường
thuận lợi cho việc quản lí của Nhà nước
nhiều hơn là cho xã hội, cho người dân, các
đối tượng bị quản lí Trong khi theo tinh
thần “nhà nước của dân, do dân, vì dân”,
nhà nước phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân
thì nội dung các văn bản luật phải vì lợi ích
của xã hội, của nhân dân nhiều hơn Ban
hành pháp luật tức là nhà nước thay mặt xã
hội, ghi nhận những quy luật vận động,
phát triển của xã hội bằng các quy định
pháp luật để đảm bảo cho toàn xã hội hoạt
động thống nhất, có trật tự vì lợi ích của xã
hội trong đó có lợi ích của nhà nước
Không nên chỉ đặt lợi ích của nhà nước (mà thực chất là của bộ máy nhà nước) lên trên lợi ích xã hội Với cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội như hiện nay nên trên diễn đàn Quốc hội ít có những cuộc tranh luận nảy lửa mà người ta thường tìm cách dung hoà các quan điểm khác nhau dẫn đến một số dự thảo văn bản luật mặc
dù chưa tốt vẫn được thông qua
Các văn bản quy phạm pháp luật để được ban hành đều phải trải qua thủ tục, trình tự khắt khe từ thẩm định, đến thẩm tra của các
cơ quan có thẩm quyền nhưng tình trạng sai phạm vẫn tồn tại khá phổ biến và các cơ quan chịu trách nhiệm thẩm tra, thẩm định thường không phải chịu trách nhiệm Nếu văn bản có sai phạm thì người ta chỉ nói tới cơ quan ban hành văn bản chứ không quy trách nhiệm cho cơ quan thẩm định, thẩm tra
Biện pháp xử lí đối với các văn bản có sai phạm (trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp) chỉ là kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ văn bản hay quy định đó Còn những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không đúng thời điểm (thường là chậm trễ so với quy định của pháp luật hoặc nhu cầu của cuộc sống) hoặc có chất lượng không tốt gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của đất nước và nhân dân thì thường không bị xử lí
Một thực trạng là ở nước ta văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành theo quy định của pháp luật thì có hiệu lực và giá trị pháp lí thấp nhưng lại được thực hiện tốt hơn, có giá trị thực tế cao hơn, mặc dù có văn bản hướng
Trang 9dẫn nội dung còn trái với cả văn bản mà nó
hướng dẫn Điều này có nhiều nguyên nhân
như: Văn bản luật của nước ta còn quá
chung chung nên có nhiều trường hợp không
áp dụng trực tiếp được; thói quen của các cơ
quan, nhân viên nhà nước là chờ các văn bản
hướng dẫn thi hành mà ít chú ý đến văn bản
gốc vì văn bản hướng dẫn thi hành thường là
của cơ quan quản lí hay chỉ đạo trực tiếp;
nhiều cơ quan, nhân viên không nắm được
hoặc không dám tuân theo các nguyên tắc áp
dụng văn bản hay quy phạm pháp luật là
trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các văn
bản thì phải áp dụng quy định của văn bản có
giá trị pháp lí cao hơn, văn bản của cơ quan
quyền lực cùng cấp hoặc văn bản ban hành
sau nếu các văn bản của cùng một cơ quan
Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
xây dựng pháp luật chỉ là trách nhiệm có tính
chất đạo đức chính trị nhiều hơn hoặc trách
nhiệm theo nghĩa nghĩa vụ chứ chưa có trách
nhiệm theo nghĩa hậu quả pháp lí bất lợi Từ
đó cho thấy trách nhiệm của những cơ quan
ban hành hoặc các bộ phận trực tiếp xây
dựng chủ yếu là trách nhiệm đối với ngành
mình, cơ quan mình hoặc lợi ích cục bộ của
bản thân nhiều hơn là đối với đất nước, dân
tộc theo nghĩa rộng
Để hệ thống pháp luật ở nước ta có chất
lượng hơn cần chú trọng những biện pháp cơ
bản sau:
+ Đổi mới tổ chức và hoạt động của
Quốc hội theo hướng tăng số lượng, chất
lượng và kĩ năng xây dựng luật của đại
biểu Quốc hội chuyên trách Tăng cường
hoạt động giám sát của Quốc hội đối với
hoạt động ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhất
là giám sát việc ban hành những văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các văn bản luật
+ Củng cố, nâng cao đội ngũ những người trực tiếp tham gia soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật ở các bộ, ban ngành Thu hút nhiều chuyên gia pháp luật giỏi của các vụ, viện, trường đại học vào công tác xây dựng pháp luật Trong thành phần các ban soạn thảo cần bổ sung thêm số lượng các chuyên gia pháp lí có trình độ cao Có như vậy thì mới khắc phục được lỗi kĩ thuật trong nội dung các dự thảo và kĩ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật mới được nâng cao + Đẩy mạnh công tác rà soát, hệ thống hoá pháp luật, nhất là hoạt động pháp điển hoá, thậm chí cần xây dựng những tổng tập luật lệ về một số lĩnh vực nhất định Kiên quyết loại bỏ những quy định trùng lặp giữa các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề Như vậy sẽ thuận lợi hơn cho hoạt động xây dựng pháp luật nói riêng và các hoạt động pháp luật khác nói chung
+ Không chỉ đề cao trách nhiệm chính trị mà cần quy định trách nhiệm pháp lí đối với mỗi cơ quan nhà nước trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nếu cơ quan nhà nước hay cá nhân có
(Xem tiếp trang 57)
(1).Xem: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh, Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật, Thông tin nhà nước và
pháp luật, số 4/2008, tr 14
(2).Xem: Đào Trí Úc, Những vấn đề lí luận cơ bản về pháp luật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr 263 (3).Xem: Đào Trí Úc, Những vấn đề lí luận cơ bản về pháp luật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1993, tr 263