Tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường rất phức tạp và việc giải quyết nó gặp nhiều khó khăn do những vấn đề nằm sau các nguyên nhân tranh chấp được cho là vì mục tiêu bảo vệ môi
Trang 1TS Bïi Ngäc C−êng*
1 Đặt vấn đề
Trong hoạt động thương mại, đặc biệt là
thương mại quốc tế phát sinh nhiều loại
tranh chấp, trong đó mới nổi lên là tranh
chấp thương mại liên quan đến môi trường
Tranh chấp thương mại liên quan đến môi
trường rất phức tạp và việc giải quyết nó gặp
nhiều khó khăn do những vấn đề nằm sau các
nguyên nhân tranh chấp được cho là vì mục
tiêu bảo vệ môi trường của các quốc gia
Tranh chấp thương mại liên quan đến
môi trường được hiểu là những tranh chấp
trong hoạt động thương mại mà lí do dẫn đến
tranh chấp là xuất phát từ các vấn đề về bảo
vệ môi trường Như vậy, có phải hoạt động
thương mại đã và đang có những tác động
xấu đến môi trường, là nguyên nhân dẫn đến
việc các quốc gia phải đưa ra những chính
sách, biện pháp nhằm cản trở các hoạt động
thương mại mà quá trình hoạt động đó gây ô
nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên, đa
dạng sinh học? Hay vì lí do bảo vệ môi
trường được các quốc gia sử dụng như công
cụ nhằm tạo nên các rào cản đối với hoạt
động thương mại? Sở dĩ, các tranh chấp
thương mại liên quan đến môi trường phát
sinh là do sự tương tác giữa chính sách
thương mại và chính sách bảo vệ môi trường
của các quốc gia cũng như ở tầm quốc tế Sự
tương tác này được thể hiện ở hai mặt:
Th ứ nhất, sự tác động của chính sách bảo
vệ môi trường với tự do thương mại Điều này được thể hiện ở chỗ, chính sách bảo vệ môi trường có thể trở thành rào cản đối với thương mại đặc biệt là thương mại quốc tế đồng thời tạo ra hình thức bảo hộ mới
Th ứ hai, sự tác động của chính sách tự
do hóa thương mại đối với môi trường của các quốc gia và toàn cầu Về cơ bản, tự do hóa thương mại không phải là nguyên nhân đầu tiên của sự suy thoái môi trường, cũng không phải là công cụ tốt nhất để giải quyết vấn đề môi trường
Xuất phát từ hai vấn đề trên, những tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường cũng được chia thành hai loại theo tính chất hợp lí hay không hợp lí của những lí do mà các quốc gia đưa ra nhằm bảo vệ cho hành động của mình Đó là các tranh chấp xuất phát
từ mục tiêu bảo vệ môi trường và các tranh chấp vì mục tiêu bảo vệ tự do hóa thương mại
- Tranh chấp xuất phát vì mục tiêu bảo
vệ môi trường: Lí do dẫn đến loại tranh chấp này được đưa ra là do những tác động tiêu cực của tự do thương mại đến môi trường, biểu hiện ở những khía cạnh:
+ Tự do hóa thương mại đã khai thác, tận dụng tối đa các tài nguyên dẫn đến suy kiệt,
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2xuống cấp về môi trường nhất là các nước kém
và đang phát triển đã khai thác nhiều hơn các
nguồn tài nguyên do thiên nhiên ban tặng
nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, thương mại;
+ Tự do hóa thương mại làm tăng nguy
cơ tăng ô nhiễm môi trường qua biên giới từ
việc nhập khẩu máy móc, công nghệ lạc hậu,
hàng hóa không đảm bảo các yêu cầu về bảo
vệ môi trường, di nhập các loài động thực
vật lạ, chất thải độc hại, bất bình đẳng trong
việc phân chia lợi ích tài nguyên ;
+ Tự do hóa thương mại tạo ra áp lực
cạnh tranh từ đó có thể dẫn đến tình trạng vì
tối đa hóa lợi nhuận mà các nhà sản xuất,
cung cấp dịch vụ, các nhà đầu tư sẵn sàng sử
dụng các quy trình sản xuất, công nghệ lạc
hậu, không thân thiện với môi trường Vì
mục tiêu bảo vệ môi trường, các quốc gia
thường áp dụng các biện pháp thương mại
như: hạn chế số lượng, hạn chế buôn bán
một số hàng hóa, dùng chính sách thuế, đưa
ra các tiêu chuẩn kĩ thuật về quy trình sản
xuất, chế biến, vệ sinh an toàn thực phẩm…
Điều đó sẽ gây cản trở đối với hoạt động
thương mại và đây là nguyên nhân dẫn đến
những tranh chấp thương mại liên quan đến
môi trường
- Tranh chấp vì mục tiêu bảo vệ tự do
thương mại: Tự do thương mại không cho
phép áp dụng các biện pháp thuế quan hay
hạn chế định lượng số lượng đối với các sản
phẩm hàng hóa dịch vụ Vì vậy, các quốc gia
thường tìm các kẽ hở trong quy định pháp
luật (các hiệp định thương mại) để đưa ra
các rào cản đối với hoạt động thương mại
Những ngoại lệ đó thường là những lí do về
bảo vệ môi trường để dựng nên những rào cản thương mại, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường
Các quy định vì mục tiêu bảo vệ môi trường liên quan đến hoạt động thương mại gồm: + Các quy định về chế biến, sản xuất theo quy định môi trường;
+ Các yêu cầu về đóng gói bao bì sản phẩm; + Các quy định về dán nhãn mác môi trường
Ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã
có nhiều lô hàng thủy sản, gạo xuất khẩu bị các nhà nhập khẩu trả lại hoặc áp dụng các biện pháp kiểm tra khắt khe do vi phạm những quy định liên quan đến vấn đề môi trường Các doanh nghiệp của Việt Nam phần lớn xuất khẩu những mặt hàng là sản phẩm nông, thủy sản, nguyên liệu thô dựa vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu Vì vậy, nguy cơ xảy ra các tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường là rất lớn Chẳng hạn, Việt Nam xuất khẩu gạo sang thị trường Nga đã bị phía Nga tạm ngừng nhập từ 04/12/2006 lí do chất lượng gạo còn tồn dư chất diệt cỏ Clorpiriphos có hại cho sức khỏe con người Mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản bị phát hiện có dư lượng kháng sinh bị cấm, Nhật Bản đã nâng mức kiểm tra
từ 5%, 10% lên 50% và cuối cùng là 100%
lô hàng tôm nhập khẩu từ Việt Nam Điều đó
đã gây tốn kém thời gian và tiền bạc cho các nhà xuất khẩu ở Việt Nam Tại các thị trường Hoa Kỳ, EU, Australia cũng xảy ra tình trạng tương tự Từ thực tiễn đó cho thấy Việt Nam cần phải nhận thức cũng như hành
Trang 3động một cách tích cực, chủ động đưa ra
những giải pháp nhằm hạn chế những tranh
chấp thương mại liên quan đến môi trường
2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn
chế những tranh chấp thương mại liên
quan đến môi trường ở Việt Nam
2.1 Hoàn thi ện khuôn khổ pháp luật về
ho ạt động thương mại và giải quyết tranh chấp
th ương mại quốc tế liên quan đến môi trường
Để thực hiện giải pháp này, cần phải:
Th ứ nhất, nghiên cứu để soạn thảo và
ban hành các quy định pháp luật về các biện
pháp môi trường theo hướng sau:
- Phù hợp với các quy định của WTO và
pháp luật thương mại quốc tế nói chung
Việc soạn thảo và ban hành các quy định
pháp luật về các biện pháp môi trường phải
phù hợp với các quy định của WTO và pháp
luật thương mại quốc tế nói chung Vấn đề
đặt ra là việc áp dụng các biện pháp môi
trường (dưới hình thức các quy định về kĩ
thuật, tiêu chuẩn và các quy định khác) ở mức
độ nào thì bị coi là rào cản đối với thương
mại quốc tế Theo pháp luật thương mại quốc
tế hiện hành, các thành viên WTO có thể tự
do ban hành các quy định pháp luật nhằm
mục tiêu bảo vệ môi trường nhưng phải tuân
thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử trong
việc soạn thảo, thông qua và áp dụng các
quy định kĩ thuật, tiêu chuẩn và nguyên tắc
minh bạch Bên cạnh đó, đoạn 31(iii) Tuyên
bố Doha (2001) yêu cầu các thành viên
WTO phải đàm phán về việc giảm hoặc loại
bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan
đối với “hàng hóa và dịch vụ liên quan đến
môi trường” Tuy nhiên, vấn đề thế nào là
“hàng hóa liên quan đến môi trường” còn
đang trong quá trình tranh luận Điều đó nghĩa
là trong tương lai, các nhà lập pháp cần chú
ý đến yêu cầu của đoạn 31(iii) nêu trên;
- Phải mang tính bao quát, toàn diện;
- Tính đến năng lực của Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung trong việc thực thi các biện pháp môi trường
Theo Nguyên tắc 11 của Tuyên bố Rio
về môi trường và phát triển (1992), các tiêu chuẩn môi trường, các mục tiêu và ưu tiên phát triển cần phản ánh bối cảnh môi trường
và phát triển đặc thù của quốc gia Trong thực tiễn của một số nước, nhất là các nước đang phát triển, tiêu chuẩn môi trường được đặt ra có thể không phù hợp và không đảm bảo chi phí kinh tế và xã hội Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) thường bị tác động về vấn đề này;
- Đáp ứng các mục tiêu chính sách chính đáng của Việt Nam - với tư cách nước nhập khẩu Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy: Năm 1982, một số nước đang phát triển thể hiện sự lo ngại về việc các sản phẩm bị cấm
ở các nước phát triển vì lí do nguy hiểm đối với môi trường, sức khỏe hoặc an toàn, tiếp tục được xuất khẩu sang các nước đang phát triển Tại Hội nghị bộ trưởng năm 1982 của GATT 1947, các bên kí kết quyết định xem xét các biện pháp cần thiết để kiểm soát việc xuất khẩu những mặt hàng cấm tiêu thụ trong nước (DPGs), theo đó tất cả các bên kí kết đều phải thông báo cho GATT về DPGs Trên thực tế, hệ thống thông báo này đã không thành công Năm 1989, GATT 1947 thành lập nhóm công tác về xuất khẩu các hàng hóa và các chất nguy hiểm khác bị cấm
ở trong nước (Working Group on the Export
Trang 4of Domestically Prohibited Goods and Other
Hazardous Substances)
Để đáp ứng các mục tiêu chính sách
chính đáng của Việt Nam - với tư cách nước
nhập khẩu, cần quy định việc cấm nhập khẩu
DPGs Để làm được điều này, cần tăng
cường năng lực kĩ thuật để giám sát và trong
trường hợp cần thiết, phải kiểm soát được
hàng nhập khẩu DPGs
Kinh nghiệm giải quyết các vụ tranh
chấp về nhập khẩu phế liệu và hàng hóa gây
ô nhiễm môi trường ở nước ta trong những
năm qua cho thấy một trong những bất cập
lớn nhất là: Các chính sách bảo vệ môi
trường vạch ra quá “tổng quát” nhưng các
quy định pháp luật lại không đủ chi tiết để
điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tình
huống cụ thể; tiếp đến là vấn đề thiếu năng
lực kĩ thuật để thẩm định, giám sát Do đó,
việc hoàn thiện các quy định về cấm nhập
khẩu, hạn chế nhập khẩu những hàng hóa
gây hại đối với môi trường; cấm cho phép
hoặc hạn chế tiến hành các dịch vụ gây tác
động bất lợi cho môi trường là việc làm cấp
bách hiện nay
- Làm giảm bớt các tác động thương mại
tiêu cực
Một trong các chính sách môi trường
liên quan đến thương mại là chính sách trợ
cấp Chính sách trợ cấp có thể gây tác động
tích cực hoặc tiêu cực đối với môi trường
Trong lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng,
chính sách trợ cấp thường bị coi là biện pháp
bóp méo thương mại nhưng trong một số
trường hợp khác lại bị coi là nguyên nhân
gây suy thoái môi trường Các nhà bảo vệ
môi trường gợi ý rằng các quy tắc thương
mại cần mềm dẻo hơn nữa khi quy định về trợ cấp để khuyến khích các hoạt động hoặc công nghệ gây tác động có lợi cho môi trường
Th ứ hai , nghiên cứu việc ban hành và hoàn thiện các quy định pháp luật về việc sử dụng các công cụ kinh tế để quản lí môi trường, như: nhãn sinh thái, quy trình và phương pháp sản xuất (PPMs), các điều kiện
về đóng gói bao bì, thuế và phí môi trường,
thuế tiêu dùng…
- Nói chung, các thành viên WTO nhất trí rằng các hệ thống nhãn môi trường tự nguyện, có sự tham gia rộng rãi, dựa trên yếu tố thị trường và minh bạch là các công
cụ kinh tế hữu hiệu để thông tin cho người tiêu dùng về các sản phẩm thân thiện với môi trường Tuy nhiên, các hệ thống nhãn môi trường có thể bị lạm dụng để bảo hộ thị trường nội địa Do đó, các hệ thống nhãn môi trường này phải không mang tính phân biệt đối xử và không tạo thành các rào cản không cần thiết hoặc các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế
- Vấn đề đặc biệt gai góc trong cuộc tranh luận về nhãn sinh thái là việc sử dụng các tiêu chuẩn gắn liền với PPMs Các thành viên WTO nhất trí rằng trong phạm vi các quyền của mình theo quy định của WTO, được phép đưa ra các tiêu chuẩn về cách sản xuất sản phẩm, nếu phương pháp sản xuất chúng để lại
dấu hiệu trên thành phẩm (ví dụ: Việc trồng
bông sử dụng thuốc trừ sâu, do đó có dư lượng thuốc trừ sâu trên sản phẩm bông)
- Một số nước ban hành chính sách về đóng gói bao bì, sử dụng lại, tái chế hoặc hủy vật liệu đóng gói Chính sách này có thể làm tăng chi phí cho nhà xuất khẩu, giống
Trang 5như rào cản thương mại tiềm tàng và tạo ra
sự phân biệt đối xử, kể cả trường hợp các
điều kiện giống nhau được áp dụng cho cả
sản phẩm nội địa lẫn sản phẩm nhập khẩu Ví
d ụ: Gỗ được sử dụng để đóng gói bao bì ở
nhiều nước châu Á, nhưng lại không được
coi là sản phẩm có thể tái chế ở châu Âu
- Thuế và phí môi trường ngày càng
được sử dụng nhiều ở các nước thành viên
WTO để theo đuổi các mục tiêu chính sách
môi trường quốc gia Đối với Việt Nam, cần
quan tâm nghiên cứu một số công cụ như:
thuế sử dụng các thành phần môi trường;
tiếp tục thực hiện thu phí bảo vệ môi trường
đối với khí thải, tiếng ồn, sân bay, nhà ga,
bến cảng ; nhãn sinh thái; giấy phép xả thải
chất gây ô nhiễm.(1) Theo kinh nghiệm của
Hoa Kỳ, để kiểm soát lượng khí SO2 phát
thải ra không khí, Đạo luật về không khí sạch
(Clean Air Act) đã được ban hành năm 1970,
trong đó áp dụng phương pháp cấp quota ô
nhiễm và tạo thị trường mua bán quota ô
nhiễm nhằm giảm bớt sự can thiệp của Chính
phủ vào hoạt động của doanh nghiệp.(2)
- Bên cạnh đó, cần nghiên cứu việc áp
dụng một số công cụ kinh tế khác, như thuế
tiêu dùng để điều chỉnh những hành vi tiêu
dùng không hợp lí gây hại cho môi trường và
phát triển bền vững
Th ứ ba, hoàn thiện các quy định pháp
luật về giải quyết tranh chấp thương mại liên
quan đến môi trường
Trước hết, cần hoàn thiện các quy định
pháp luật về giải quyết tranh chấp thương
mại nói chung; tiếp đến là hoàn thiện các
quy định pháp luật về môi trường một cách
đồng bộ (về phát triển nông nghiệp; hệ thống
quản lí và bảo vệ tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, các giống cây trồng, vật nuôi, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác sử dụng trong nông, lâm, ngư nghiệp; các phương pháp canh tác tiên tiến và vấn đề bảo
vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn ): Luật bảo vệ môi trường; Luật đất đai; Luật khoáng sản; Luật dầu khí; Luật hàng hải; Luật thủy sản; Luật bảo vệ và phát triển rừng; các quy định và quy trình kĩ thuật về
sử dụng, bảo vệ và quản lí nguồn nước; các quy định về đánh giá tác động môi trường;
về bảo tồn đa dạng sinh học; các quy định về bồi thường thiệt hại, xử lí vi phạm hành chính và hình sự
Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về hoạt động thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế liên quan đến môi trường
là giải pháp căn bản góp phần xử lí tranh chấp thương mại quốc tế ở trong nước liên quan đến môi trường, bảo vệ quyền lợi quốc gia - với tư cách nước nhập khẩu và các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa
2.2 Tích c ực tham gia xây dựng pháp
lu ật thương mại quốc tế liên quan đến môi
tr ường nhằm bảo vệ lợi ích thương mại và môi tr ường của Việt Nam trong các tranh
ch ấp thương mại ở nước ngoài và trong khuôn kh ổ WTO
Khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay (1994), các vấn đề môi trường liên quan đến thương mại quốc tế một lần nữa lại được chú
ý, cùng với vai trò của WTO trong lĩnh vực thương mại quốc tế và môi trường Cần khẳng định rằng WTO không phải là tổ chức bảo vệ môi trường Thẩm quyền của WTO trong lĩnh vực thương mại quốc tế và môi
Trang 6trường được giới hạn ở các chính sách
thương mại và các khía cạnh thương mại của
chính sách môi trường mà nó gây tác động
lớn đối với thương mại Khi quan tâm đến
mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi
trường, các thành viên WTO không đặt ra
vấn đề theo đó chính bản thân WTO có thể
giải quyết được các vấn đề môi trường Tuy
nhiên, các chính sách thương mại quốc tế và
bảo vệ môi trường có thể bổ sung cho nhau
Việc bảo vệ môi trường sẽ bảo tồn nguồn tài
nguyên thiên nhiên phục vụ cho tăng trưởng
kinh tế và tự do hóa thương mại dẫn tới tăng
trưởng kinh tế cũng cần phải bảo vệ môi
trường tương xứng Do đó, vai trò của WTO
là tiếp tục thúc đẩy tự do hóa thương mại
đồng thời bảo đảm rằng một mặt các thành
viên không sử dụng chính sách môi trường
như rào cản đối với thương mại quốc tế, mặt
khác các quy tắc thương mại quốc tế không
làm cản trở việc bảo vệ môi trường trong
nước Đảm bảo hài hòa hơn giữa các quy tắc
thương mại toàn cầu và chính sách bảo vệ
môi trường là yếu tố quan trọng của chiến
lược toàn cầu về ngăn chặn suy thoái môi
trường tiếp diễn
Thực tế cho thấy hệ thống pháp luật của
WTO chưa thực sự hoàn hảo Những bất cập
về vấn đề mối quan hệ giữa thương mại quốc
tế và môi trường cần phải được sửa đổi để
bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát
triển nói chung và Việt Nam nói riêng
Để thực hiện giải pháp này, cần phải:
Th ứ nhất, tham gia vào Uỷ ban về thương
mại và môi trường của WTO (CTE) nhằm
tham gia xây dựng pháp luật thương mại quốc
tế, bảo vệ lợi ích quốc gia và doanh nghiệp
Theo quy định của WTO, CTE bao gồm tất
cả các thành viên WTO và Việt Nam có thể trở thành thành viên của CTE
Mặc dù có nhiều văn kiện quốc tế đã đề cập vấn đề kiểm soát xuất khẩu DPGs (như Công ước Basel về kiểm soát việc dịch chuyển các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới) nhưng chúng vẫn chủ yếu đề cập các chất hóa học, dược phẩm, chất thải nguy hiểm, chứ không đề cập các sản phẩm tiêu dùng Đây chính là một trong các quy định chưa hoàn thiện của WTO Chúng ta có thể
đề xuất để WTO sửa đổi bất cập nêu trên Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) và môi trường cũng là vấn đề rất phức tạp, gây nhiều tranh cãi (mối quan hệ giữa Hiệp định TRIPs và Công ước về đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity - CBD), vấn đề bảo hộ tri thức truyền thống và văn hóa dân gian, chuyển giao công nghệ thân thiện với môi trường) Việt Nam cần phải tham gia tích cực vào việc soạn thảo các quy định pháp luật thương mại quốc tế như trên nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và doanh nghiệp
Th ứ hai, chủ động và tích cực kí kết,
tham gia các điều ước song phương và đa phương về thương mại, về môi trường (cả cấp khu vực lẫn cấp toàn cầu) Việc tham gia tích cực của Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung vào các giai đoạn của quá trình soạn thảo các tiêu chuẩn môi trường quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo vệ quyền lợi thương mại và môi trường của quốc gia và doanh nghiệp
Trang 7Việc đàm phán, kí kết các điều ước đa
phương về môi trường là cách tốt nhất để
giải quyết các vấn đề môi trường xuyên biên
giới, tránh được việc giải quyết tranh chấp
đơn phương Các giải pháp đơn phương
thường mang tính phân biệt đối xử, tuỳ tiện,
áp dụng các tiêu chuẩn môi trường của nước
mình theo kiểu “trị ngoại lãnh thổ”, do đó
thực chất là sự bảo hộ trá hình Các điều ước
đa phương đồng thời phản ánh mối quan tâm
và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế
đối với nguồn tài nguyên toàn cầu
2.3 D ự liệu các loại hình tranh chấp
th ương mại quốc tế liên quan đến môi trường
có th ể diễn ra trong tương lai, nhằm tăng
kh ả năng phòng ngừa cho doanh nghiệp
Sự xung đột giữa các biện pháp thương
mại quy định trong các điều ước môi trường
đa phương (MEAs) và WTO có thể bắt
nguồn từ việc các biện pháp quy định trong
MEAs vi phạm nguyên tắc không phân biệt
đối xử của WTO Trong thực tế, MEAs
thường cho phép tiến hành thương mại giữa
các thành viên của điều ước mà không cho
phép đối với các nước không phải là thành
viên, do đó vi phạm nguyên tắc đối xử tối
huệ quốc (MFN)
Khi tranh luận về tính tương thích giữa
các quy định thương mại của MEAs với
WTO, CTE cho rằng trong số khoảng 200
MEAs đang có hiệu lực, chỉ có khoảng 20
điều ước có các quy định về thương mại Do
đó, không nên phóng đại sự xung đột giữa
các quy định về thương mại của MEAs và
WTO Thực tế cho thấy chưa có tranh chấp
nào được đưa ra trước WTO liên quan đến
các quy định về thương mại của một MEA
Một số thành viên WTO cho rằng các nguyên tắc hiện hành của công pháp quốc tế
đã đủ để điều chỉnh mối quan hệ giữa các quy định về thương mại của WTO và MEAs Tuy nhiên, cũng cần lưu ý về vụ việc đã kết thúc tranh chấp trước khi thành lập Cơ quan giải quyết tranh chấp cấp sơ thẩm (Panel)
Đó là vụ Chilê - Cá kiếm (Chile - Swordfish Case) - cho thấy nguy cơ xung đột tài phán Trong vụ này, có thể là cả hai cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ phải xem xét xem các biện pháp của Chilê có phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về luật biển (United Nations Convention on the Law of the Sea - UNCLOS) hay không.(3)
2.4 Tích c ực chuẩn bị những điều kiện
c ần thiết để sẵn sàng tham gia giải quyết tranh ch ấp thương mại quốc tế liên quan đến môi tr ường trong khuôn khổ WTO
Từ khi WTO được thành lập (1995), việc
sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO gia tăng đáng kể, trong đó phải kể đến
sự tham gia ngày càng tích cực của các nước đang phát triển (DCs)
Theo thống kê của WTO, trong giai đoạn 1995-2006, các DCs đã chủ động khởi kiện
146 vụ trong tổng số 352 vụ trước DSB, trung bình 13 vụ/năm Bên cạnh đó, các DCs
đã bị động theo kiện khoảng 147 vụ Trong
số 352 vụ kiện trước DSB nêu trên, có 161
vụ diễn ra giữa các nước phát triển và các DCs (chiếm 45,7%), 66 vụ giữa các DCs với nhau (chiếm 18,8%) và 125 vụ giữa các nước phát triển với nhau (chiếm 35,5%).(4) Các vụ tranh chấp chủ yếu tập trung vào các biện pháp hạn chế số lượng, tiếp đến là vấn
đề chống bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu
Trang 8Những con số nêu trên cho thấy WTO
không chỉ là nơi giải quyết tranh chấp dành
riêng cho các nước phát triển mà có sự tham
gia mạnh mẽ của các DCs Bên cạnh đó,
trong những tranh chấp giữa các nước phát
triển và các DCs, kết quả cho thấy trong
nhiều vụ kiện các DCs giành phần thắng
Điều này cho thấy hệ thống giải quyết
tranh chấp của WTO đã được các DCs tin
cậy và phát huy hiệu lực Tuy nhiên, cần
nhấn mạnh rằng các DCs sử dụng hệ thống
giải quyết tranh chấp của WTO phần lớn là
các DCs ở trình độ cao như Brazil, Ấn Độ,
Mexico, Hàn Quốc, Thailand, Argentina
Chỉ có một vụ kiện do Bangladesh - nước
chậm phát triển (LDC) khởi kiện Ấn Độ về
việc áp thuế chống bán phá giá đối với pin
và ắc quy (DS306 ngày 28/01/2004 India -
Anti-Dumping Measure on Batteries from
Bangladesh); một vụ kiện do Sri Lanka - một
DC trình độ trung bình, khởi kiện Brazil về
việc áp thuế đối kháng đối với dừa sấy khô
và bột sữa dừa (DS30 ngày 23/02/1996
Brazil - Countervailing Duties on Imports of
Desiccated Coconut and Coconut Milk
Powder from Sri Lanka).(5) Trên thực tế,
nhiều DCs không thể sử dụng hệ thống giải
quyết tranh chấp của WTO, do không có đủ
nguồn lực cần thiết, hoặc chiếm tỉ lệ không
đáng kể trong thương mại thế giới
Thực tế cho thấy các nước phát triển sử
dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của
WTO đạt hiệu quả cao hơn so với các DCs
So với các nước phát triển, các DCs gặp
nhiều khó khăn hơn trong việc sử dụng hệ
thống giải quyết tranh chấp
Th ứ nhất, những hiệp định của WTO -
đối tượng của tranh chấp có nội dung rất phức tạp Thêm vào đó, ngày càng có nhiều các án lệ mà các bên tranh chấp cần phải nắm vững Những yêu cầu này đòi hỏi các DCs phải có đội ngũ chuyên gia rất giỏi về luật thương mại quốc tế và tiếng Anh Đây thực sự là gánh nặng to lớn đối với các DCs
Th ứ hai, các DCs rất khó áp dụng các
biện pháp trả đũa Hầu hết các DCs không
đủ sức mạnh kinh tế để đe doạ bằng các biện pháp trả đũa thương mại, với tư cách là công
cụ quan trọng để ép buộc tuân thủ các hiệp định WTO Hơn nữa, nếu DC áp dụng biện pháp trả đũa thương mại đối với nước phát triển thì điều này có thể làm thiệt hại hơn cho DC Bởi vì trên thực tế, các DCs thường phụ thuộc vào hàng xuất khẩu từ các nước phát triển.(6)
(Xem ti ếp trang 41)
(1).Xem: Nguyễn Hưng Thịnh & Dương Thanh An,
Công c ụ kinh tế trong quản lí môi trường - Thực trạng
và gi ải pháp hoàn thiện, tài liệu Hội thảo “Đánh giá
thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lí môi trường ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp hoàn thiện”, Viện khoa học pháp lí, Bộ tư pháp, ngày 23/3/2005
(2).Xem: Nguyễn Văn Cương, Sử dụng quota phát
th ải để kiểm soát ô nhiễm môi trường - Kinh nghiệm
Hoa Kỳ, tài liệu hội thảo “Đánh giá thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lí môi trường ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp hoàn thiện”, Viện Khoa học pháp lí, Bộ tư pháp, ngày 23/3/2005
(3) WTO Secretariat, Trade and Environment at the
WTO, April 2004, p 35 - 43
(4) Từ ngày 01/01/1995 đến ngày 20/04/2007, tổng số khiếu nại thông báo với WTO là 363 vụ (www.wto.org) (5).Xem: http://www.wto.org, ngày 11/01/2007 (6).Xem: Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế,
“Tác động của các hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển”, 2005, tr 224 - 234