LOVE Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Nội Khoa – Lão Khoa 218 KHẢO SÁT CHỈ SỐ HUYẾT ÁP CỔ CHÂN – CÁNH TAY BẰNG PHƢƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI[.]
Trang 1KHẢO SÁT CHỈ SỐ HUYẾT ÁP CỔ CHÂN – CÁNH TAY BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2
Phan Thanh Hải Nam 1 , Phạm Như Hảo 1 , Nguyễn Thy Khuê 2
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 là yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch ngoại biên chi dưới
(BĐMNBCD) Tầm soát BĐMNBCD trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 bằng chỉ số huyết áp cổ chân – cánh tay (ABI)
bằng phương pháp đo huyết áp (HA) tự động có khả năng khắc phục những khuyết điểm của phương pháp
Doppler, đặc biệt trong bối cảnh phòng khám ngoại trú
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có ABI ≤1 bằng phương pháp đo HA tự động Khảo sát tính
lặp lại và tính tương đồng của phương pháp đo HA tự động so với phương pháp Doppler
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 tại
phòng khám Nội tiết thuộc Phòng khám đa khoa Hòa Hảo có chỉ định tầm soát BĐMNBCD bằng ABI
Kết quả: Có 2% bệnh nhân (3/151) có ABI ≤1 Phương pháp đo HA tự động có kết quả cao hơn phương
pháp Doppler trung bình là 0,04 với khoảng giới hạn tương đồng [-0,07; 0,14], có hệ số tương quan nội cụm giữa
2 người thực hiện khác nhau là 0,82 và hệ số biến thiên là 3,46%
Kết luận: Phương pháp đo HA tự động có thể thay thế cho phương pháp Doppler để xác định chỉ số ABI
trong bối cảnh phòng khám ngoại trú
Từ khóa: chỉ số huyết áp cổ chân – cánh tay, phương pháp đo huyết áp tự động, đái tháo đường típ 2, bệnh
động mạch ngoại biên chi dưới
ABSTRACT
EVALUATION OF THE ANKLE – BRACHIAL INDEX USING AUTOMATED METHOD IN PATIENTS
WITH TYPE 2 DIABETES
Phan Thanh Hai Nam, Pham Nhu Hao, Nguyen Thy Khue
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 218 - 224
Background: Type 2 diabetes mellitus (T2DM) is a high-risk factor for peripheral artery disease (PAD)
Screening for PAD using ABI obtained by the automated method could potentially improve the drawbacks of the
Doppler method, especially in outpatient settings
Objectives: To determine the proportion of T2DM patients with ABI ≤1 using automated method and to
evaluate the automated method’s repeatability in obtaining ABI and its correlation with the Doppler method
Methods: Cross-sectional study including T2DM patients who had indication for PAD screening with ABI
in the Endocrinology Clinic of Hoa Hao Medical Center
Results: Our study found 3 of total 151 patients (2%) had ABI ≤1 Mean of differences between the
automated and Doppler method was 0.04 and the limits of agreement were [-0.07; 0.14] The intraclass coefficient
and the coefficient of variation of the automated method were, respectively, 0.82 and 3.46%
Conclusion: The automated method could viably replace the Doppler method to determine ABI in
outpatient settings
1 Bộ môn Nội tiết, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 2 Hội Đái tháo đường và Nội tiết TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Phan Thanh Hải Nam ĐT: 0937 28 990 Email: pthnam.y14@ump.edu.vn
Trang 2Keywords: ankle – brachial index, automated method, type 2 diabetes, peripheral artery disease
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có nguy cơ mắc
BĐMNBCD cao gấp 2 – 4 lần so với người không
ĐTĐ và nguy cơ này tăng dần theo diễn tiến thời
gian mắc ĐTĐ(1) Vì có 20 – 50% bệnh nhân
BĐMNBCD không có triệu chứng(2) nên ABI
được Hiệp hội Tim Mỹ (AHA), Trường môn
Tim mạch Mỹ (ACC) và Hội Tim mạch Châu Âu
(ESC) khuyến cáo sử dụng để tầm soát các đối
tượng có nguy cơ cao mắc BĐMNBCD, trong đó
có bệnh nhân ĐTĐ típ 2(3,4) Siêu âm Doppler
được xem là phương pháp chuẩn để đo ABI
nhưng thủ thuật này còn khá tốn thời gian và
đòi hỏi một mức độ kỹ năng cần thiết ở người
thực hiện Mặt khác, ABI đo bằng phương pháp
đo HA tự động có thể được thực hiện một cách
nhanh chóng hơn, không phụ thuộc vào người
thực hiện, do đó tỏ ra phù hợp hơn về mặt thời
gian và yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt trong bối cảnh
phòng khám ngoại trú(5,6)
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 từ 18 tuổi trở lên đến
khám và điều trị tại Phòng khám Nội tiết thuộc
Phòng khám Đa khoa Hòa Hảo từ tháng 4 đến
tháng 6 năm 2020, thỏa 1 trong 2 điều kiện(4): với
bệnh nhân từ 18 – 49 tuổi cần có ít nhất 1 trong
các yếu tố nguy cơ xơ vữa mạch máu như hút
thuốc lá, rối loạn lipid máu hoặc tăng huyết áp;
hoặc bệnh nhân ≥50 tuổi
Tiêu chuẩn loại trừ
Đã đoạn chi đến cẳng chân; Có loét hoặc
sang thương da do biến chứng ĐTĐ tại vị trí
quấn băng đo HA; đã mổ bắc cầu mạch máu chi
dưới; rung nhĩ; bệnh thận mạn giai đoạn cuối
hoặc có độ lọc cầu thận ước đoán <15
ml/phút/1,73m2 da hoặc không đồng ý tham gia
nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
Phương pháp chọn mẫu
Thuận lợi, không xác suất
Các bước tiến hành
Với 120 bệnh nhân đầu tiên: Hỏi bệnh, ghi nhận các chỉ số sinh trắc, khám dấu thiểu dưỡng
mô chi dưới, đo ABI bằng phương pháp đo huyết áp tự động lần 1, sau đó ghi nhận các kết quả cận lâm sàng
Với 30 bệnh nhân cuối: Hỏi bệnh, ghi nhận các chỉ số sinh trắc, khám dấu thiểu dưỡng mô chi dưới, đo ABI bằng phương pháp Doppler, sau đó đo ABI bằng phương pháp đo huyết áp
tự động lần 1 và lần 2 lần lượt với 2 người đo khác nhau Cuối cùng ghi nhận các kết quả cận lâm sàng
Tiêu chuẩn đánh giá
Quy trình đo ABI bằng phương pháp Doppler: thực hiện theo khuyến cáo của ACC và AHA 2012(7) Sử dụng máy Bidop – ES100V3 (Nhật Bản)
Đo ABI bằng phương pháp tự động: sử dụng thiết bị MESI ABPI MD (Slovenia) chuyên dụng với 3 băng quấn để đo cùng lúc ABI chân trái và chân phải Băng quấn ở tay chọn bên tay
có HA cao hơn
Triệu chứng đau cách hồi: sử dụng bảng câu hỏi Edinburgh
Các ngưỡng giá trị ABI: theo khuyến cáo chẩn đoán BĐMNBCD trên bệnh nhân ĐTĐ của ESC 2019(4) (Bảng 1)
Bảng 1: Các ngưỡng giá trị ABI chẩn đoán
BĐMNBCD ở bệnh nhân ĐTĐ
> 1,30
Độ đàn hồi của động mạch kém, gợi ý khả năng cao hiện tượng vôi hóa thành động
mạch
1,00 > ABI
>0,90 Ngưỡng ranh giới (borderline)
Y đức
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại
Trang 3học Y Dược TP HCM, số 259/HĐĐĐ-ĐHYD,
ngày 16/4/2020
KẾT QUẢ
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Các đặc điểm cơ bản, bệnh đi kèm, đặc điểm
lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng của 151 đối
tượng trong nghiên cứu của chúng tôi như sau:
Bảng 2: Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Thời gian mắc đái tháo đường
Chỉ số ABI trung bình(*) 1,18 ± 0,08
Về mặt kiểm soát các yếu tố nguy cơ xơ vữa
mạch máu, tỉ lệ bệnh nhân có huyết áp < 140/90
mmHg trong nghiên cứu của chúng tôi là
66,22% Về kiểm soát đường huyết, HbA1c trung
vị là 7,5% Có 33,11% bệnh nhân có HbA1c <7%
Về dung mạo lipid máu, tỉ lệ bệnh nhân có
LDL-cholesterol <100 mg/dL là 60,26%
Như vậy, mẫu nghiên cứu của chúng tôi
gồm các bệnh nhân lớn tuổi, đa phần mắc ĐTĐ
từ 5 năm trở lên nhưng đều tuân thủ điều trị tốt,
phản ánh qua việc các chỉ số huyết áp, đường
huyết, lipid máu được kiểm soát trong mục tiêu
điều trị và tỉ lệ mắc các biến chứng mạch máu
lớn thấp
Phân loại ABI của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 1
bệnh nhân (0,7%) có ABI <0,90; 2 bệnh nhân
(1,3%) có ABI=0,91 – 1,00; 134 (88,7%) bệnh nhân
có ABI ở mức bình thường (1,01 – 1,30); 13 bệnh
nhân (8,6%) có ABI >1,30 Ngoài ra có 1 trường
hợp (0,7%) không thể đo được ABI nhưng qua
phân tích thể tích ký (PVR) trên cùng thiết bị cho
thấy hình ảnh điển hình của BĐMNBCD (sóng
thể tích mạch 1 pha, biên độ giảm)
Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi có 2 bệnh nhân (1,3%) mắc BĐMNBCD, có 3 bệnh nhân có ABI ≤1
Tính tương quan giữa phương pháp đo HA tự động và phương pháp Doppler trong việc xác định chỉ số ABI
Hệ số tương quan giữa phương pháp đo
HA tự động và phương pháp Doppler thực hiện trên 30 bệnh nhân cuối của nghiên cứu là r=0,76 (p <0,001)
Hình 1: Biểu đồ Bland – Altman giữa phương pháp
đo HA tự động và Doppler
Giữa 2 phương pháp có mối tương quan mạnh với hệ số tương quan r=0,76 (p <0,0001)
Phương pháp đo HA tự động có xu hướng cho kết quả ABI cao hơn so với phương pháp Doppler một giá trị trung bình là 0,04 95% các chênh lệch giữa 2 phương pháp sẽ nằm trong khoảng [-0,07; 0,14] Sự chênh lệch này giữa 2 phương pháp là hằng định, không tỉ lệ với giá trị ABI đo được
Tính lặp lại của phương pháp đo HA tự động trong việc xác định chỉ số ABI
Trong 30 trường hợp thực hiện đo ABI bằng phương pháp đo HA tự động 2 lần bởi 2 người thực hiện khác nhau, chúng tôi ghi nhận hệ số biến thiên cá thể (with-in subject coefficient of variation - CoV) là 3,46% và hệ số tương quan nội cụm (intraclass correlation coefficient - ICC)
là 0,82
Trang 4Phân tích Bland-Altman cho thấy chênh lệch
trung bình giữa 2 lần đo bởi 2 người thực hiện
khác nhau là 0,0007 với khoảng giới hạn tương
đồng là [-0,11; 0,12] Không tồn tại sai số hệ
thống giữa 2 lần đo
Hình 2: Biểu đồ Bland – Altman giữa 2 lần đo bởi 2
người thực hiện khác nhau bằng phương pháp đo HA
tự động
BÀN LUẬN
Tỉ lệ BĐMNBCD dựa vào chỉ số ABI
Dựa trên tiêu chí chẩn đoán BĐMNBCD là ABI <0,9 và đánh giá hình dạng sóng thể tích mạch ở những trường hợp ABI không đo được (tương đương với BĐMNBCD mức độ nặng), tỉ
lệ BĐMNBCD ở nghiên cứu chúng tôi là 1,32%
So sánh với nghiên cứu trong nước có cùng bối cảnh ngoại trú của tác giả Nguyễn Thị Bích Đào (2014), tỉ lệ BĐMNCD của chúng tôi thấp hơn đáng kể Sự khác biệt này có lẽ đến từ việc nghiên cứu trên được thực hiện tại cơ sở y tế trung ương(8) Trong 219 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đến khám tại phòng khám nội tiết ngoại trú bệnh viện Chợ Rẫy của nghiên cứu, có 42 bệnh nhân (19,2%) mắc BĐMNBCD, trong đó tác giả ghi nhận có 22 trường hợp đau cách hồi điển hình (54,2%) và 4 trường hợp có vết loét ở chân (9,5%), đường huyết đói là 195,5 ± 89,6 (mg/dL)
và HbA1c là 8,3 ± 1,7(%) Tất cả đều cao hơn so với mẫu nghiên cứu của chúng tôi
Bảng 3: Tỉ lệ BĐMNCD của các nghiên cứu trong và ngoài nước
Nguyễn Thị Bích Đào
(2014)(8) Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 ngoại trú nội tiết BV Chợ Rẫy 19,2% ABI ≤ 0,90
Phương pháp Doppler
Yu JH 2011(9)
(Hàn Quốc)
Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đến khám tại bệnh viện trường
ABI ≤ 0,9 Phương pháp đo HA tự động
Li X 2012(10)
(Trung Quốc)
Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đến khám và điều trị ngoại trú tại
ABI < 0,9 Phương pháp đo HA tự động
Chúng tôi
Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 ngoại trú tại Phòng khám đa
khoa Hòa Hảo Thỏa tiêu chuẩn tầm soát BĐMNBCD của AHA/ACC
2016
1,32%
ABI < 0,9 Phân tích PVR trong các trường hợp không đo được ABI bằng phương pháp đo HA tự động
So sánh với các nghiên cứu khác ở châu Á, tỉ
lệ BĐMNCD ở nghiên cứu của chúng tôi cũng
thấp hơn tỉ lệ của các nghiên cứu khác Đáng chú
ý, trong nghiên cứu của Yu JH (2011), tác giả ghi
nhận tỉ lệ mắc BĐMNBCD ở nhóm bệnh nhân
nữ ≥50 tuổi là 1,9%, khá tương đồng với tỉ lệ
trong nghiên cứu của chúng tôi(9) Sự khác biệt về
cách chọn bệnh, cỡ mẫu, tiêu chí chẩn đoán, các
yếu tố nguy cơ và yếu tố chủng tộc của dân số
nghiên cứu có thể là nguyên nhân dẫn đến sự
khác biệt về tỉ lệ mắc BĐMNBCD giữa nghiên
cứu của chúng tôi và các nghiên cứu trong khu
vực Tuy nhiên, tỉ lệ 1,32% mà chúng tôi tìm thấy khá phù hợp với một mẫu nghiên cứu ĐTĐ tuân thủ điều trị: đường huyết, huyết áp, mỡ máu trong mục tiêu điều trị, có tỉ lệ biến chứng mạch máu lớn kèm theo thấp
Tính tương quan của phương pháp đo HA tự động và phương pháp Doppler trong việc xác định chỉ số ABI
So sánh với kết quả ở các nghiên cứu trên thế
giới (Bảng 4), xét trên dân số ĐTĐ típ 2, kết quả
của chúng tôi cao hơn so với của tác giả Clairotte, nguyên nhân có thể ở sự khác biệt về
Trang 5thiết bị tự động sử dụng Nghiên cứu của
Clairotte sử dụng máy đo huyết áp cánh tay
thông thường và lần lượt đo ở các chi như quy
trình đo của phương pháp Doppler Các thiết bị
đo huyết áp chuyên dụng đo ABI có lợi thế hơn
ở việc đo cùng lúc huyết áp các chi và các băng
quấn được thiết kế phù hợp với cấu tạo hình nón
ở cổ chân hơn so với ở cánh tay So với kết quả
của tác giả Ma J thực hiện trên đối tượng nghiên
cứu ĐTĐ típ 2 và sử dụng thiết bị đo ABI chuyên dụng, kết quả của chúng tôi thấp hơn nhưng sự khác biệt này không quá lớn vì đều thể hiện mối tương quan mạnh Ở các nghiên cứu có sử dụng cùng thiết bị với chúng tôi, hệ số tương quan trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của tác giả Span M (2016), sự khác biệt có lẽ
do đối tượng nghiên cứu khác nhau
Bảng 4: Các nghiên cứu trên thế giới so sánh phương pháp đo HA tự động và phương pháp Doppler
quan
Chênh lệch trung bình Giới hạn tương đồng
Thiết bị tự động được sử dụng
[-0,222 – 0,278]
Máy đo HA cánh tay
Jing Ma (2017)(12) Bệnh nhân ĐTĐ típ 2
(P):
r = 0,87 (T):
r = 0,92
(P): -0,0009 [-0,30 – 0,30]
(T): 0,0031 [-0,27 – 0,28]
Máy đo ABI chuyên dụng
Span (2016)(13) Bệnh nhân ngoại trú phòng khám tổng
0,06 [-0,211 – 0,332] Máy ABPI-MD
Chúng tôi
Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 ngoại trú thỏa các tiêu chuẩn tầm soát BĐMNBCD của
AHA/ACC 2016
Khi tiến hành phân tích Bland – Altman để
tìm mối tương đồng giữa 2 phương pháp, chúng
tôi nhận thấy phương pháp đo HA tự động có
xu hướng cho giá trị ABI cao hơn phương pháp
Doppler trung bình là 0,04; dao động trong
khoảng giới hạn tương đồng là *-0,07; 0,14+ Kết
quả này ủng hộ việc sử dụng ngưỡng giá trị ABI
cao hơn khi tầm soát BĐMNBCD ở bệnh nhân
ĐTĐ típ 2 như các nghiên cứu trước đã đề
xuất(11,13,14) Do nghiên cứu của chúng tôi không
phát hiện BĐMNBCD ở các bệnh nhân có đo
ABI bằng Doppler nên chúng tôi không thể tiến
hành phân tích tìm ngưỡng giá trị ABI tối ưu
Tính lặp lại của phương pháp đo HA tự động
trong việc xác định chỉ số ABI
Một nghiên cứu tổng quan có hệ thống sử
dụng hệ số biến thiên (CoV) để đánh giá tính lặp
lại phương pháp Doppler, tìm thấy CoV của tính
thống nhất giữa nhiều người thực hiện trung
bình là 10% (4,7 – 13,0%) và CoV của tính lặp lại
(cùng người thực hiện) là 13% (5,4 – 24%)(7) Sự
dao động của các chỉ số đánh giá độ tin cậy của
phương pháp Doppler xuất phát từ đặc điểm
của phương pháp này còn lệ thuộc nhiều vào kỹ năng của người thực hiện, mang tính chủ quan cao Aboyans V nhận thấy các chỉ số tin cậy đạt giá trị cao nhất ở những nghiên cứu mà chỉ số ABI Doppler được thực hiện bởi những chuyên gia phẫu thuật mạch máu(7) Điều này sẽ khiến việc tầm soát BĐMNBCD bằng chỉ số ABI Doppler như các khuyến cáo hiện hành trở nên khó khăn, đặc biệt ở trong các bối cảnh phòng khám tổng quát Khuyết điểm này của phương pháp Doppler có thể được khắc phục ở phương pháp đo HA tự động
Để thể hiện ưu điểm này của phương pháp
đo HA tự động so với phương pháp Doppler, chúng tôi khảo sát tính lặp lại của phương pháp
đo HA tự động bằng cách so sánh kết quả ABI được thực hiện bởi 2 người khác nhau
(inter-observer variability) Bảng 5 cho thấy, nhìn
chung, phương pháp đo HA tự động có tính lặp lại khi được thực hiện bởi nhiều người khác nhau cao hơn phương pháp Doppler Hệ số biến thiên trung bình của phương pháp Doppler trong nghiên cứu của Aboyans V (2012) là 10%, cao hơn hệ số biến thiên của phương pháp đo
Trang 6HA tự động trong những nghiên cứu của các tác
giả Richart T (2009), Al-Qunaibet A (2016) và
Span M (2016) So sánh với các nghiên cứu khác
ở Bảng 5, kết quả của chúng tôi nhất quán với kết
quả của các tác giả Richart T (2009), Al-Qunaibet
A (2016) và Span M (2016), tất cả đều có hệ số biến thiên thấp và hệ số nội cụm thể hiện độ tin cậy ở mức độ trung bình – tốt
Bảng 5: Tính lặp lại của phương pháp đo HA tự động so với phương pháp Doppler qua các nghiên cứu
(ICC)
Hệ số biến thiên
Phương pháp Doppler Casey S (2019)(15) và
Phương pháp đo HA tự động
(T): 6,1%
(P): ± 0,06 (T): ± 0,04 Span M (2016)(13) (Tác giả không báo cáo) (P): 3,2%
KẾT LUẬN
Phương pháp đo HA tự động có thể được
xem là một phương án thay thế cho phương
pháp Doppler trong việc xác định ABI trên bệnh
nhân ĐTĐ típ 2 để tầm soát BĐMNBCD, đặc
biệt trong bối cảnh phòng khám ngoại trú
Phương pháp đo HA tự động có xu hướng cho
giá trị ABI cao hơn phương pháp Doppler trung
bình là 0,04; dao động trong khoảng giới hạn
tương đồng là *-0,07; 0,14] Phương pháp đo ABI
bằng đo HA tự động có tính lặp lại cao hơn với
hệ số biến thiên là 3,46% khi được thực hiện bởi
nhiều người khác nhau so với phương pháp
Doppler
Lời cảm ơn: Cảm ơn Phòng khám đa khoa Hòa
Hảo đã tạo điều kiện cho nghiên cứu này được
thực hiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Marso SP, Hiatt WR (2006) Peripheral arterial disease in
patients with diabetes J Am Coll Cardiol, 47(5):921-929
2 McDermott MM, Guralnik JM, Ferrucci L, et al (2008)
Asymptomatic peripheral arterial disease is associated with
more adverse lower extremity characteristics than intermittent
claudication Circulation, 117(19):2484-2491
3 Gerhard-Herman MD, Gornik HL, Barrett C, et al (2017) 2016
AHA/ACC Guideline on the Management of Patients With
Lower Extremity Peripheral Artery Disease: A Report of the
American College of Cardiology/American Heart Association
Task Force on Clinical Practice Guidelines J Am Coll Cardiol,
69(11):e71-e126
4 Cosentino F, Grant PJ, Aboyans V, et al (2020) 2019 ESC
Guidelines on diabetes, pre-diabetes, and cardiovascular
diseases developed in collaboration with the EASD Eur Heart J,
41(2):255-323
5 Verberk WJ, Kollias A, Stergiou GS (2012) Automated oscillometric determination of the ankle-brachial index: a
systematic review and meta-analysis Hypertens Res,
35(9):883-891
6 Herraiz-Adillo A, Cavero-Redondo I, Alvarez-Bueno C, Martinez-Vizcaino V, Pozuelo-Carrascosa DP, Notario-Pacheco
B (2017) The accuracy of an oscillometric ankle-brachial index
in the diagnosis of lower limb peripheral arterial disease: A
systematic review and meta-analysis Int J Clin Pract, doi:
10.1111/ijcp.12994
7 Aboyans V, Criqui MH, Abraham P, et al (2012) Measurement and interpretation of the ankle-brachial index: a scientific statement from the American Heart Association
Circulation,126(24):2890-2909
8 Nguyễn Thị Bích Đào, Nguyễn Thị Bích Liên (2014) Khảo sát bệnh mạch máu ngoại biên chi dưới bằng chỉ số huyết áp cổ
chân - cánh tay ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 Y học Thành
phố Hồ Chí Minh, 18(1):423-429
9 Yu JH, Hwang JY, Shin MS, et al (2011) The prevalence of peripheral arterial disease in korean patients with type 2
diabetes mellitus attending a university hospital Diabetes Metab
J, 35(5):543-550
10 Li X, Wang YZ, Yang XP, Xu ZR (2012) Prevalence of and risk factors for abnormal ankle-brachial index in patients with type 2
diabetes J Diabetes, 4(2):140-146
11 Clairotte C, Retout S, Potier L, Roussel R, Escoubet B (2009)
Automated ankle-brachial pressure index measurement by clinical staff for peripheral arterial disease diagnosis in
nondiabetic and diabetic patients Diabetes Care, 32(7):1231-1236
12 Ma J, Liu M, Chen D, Wang C, Liu G, Ran X (2017) The Validity and Reliability between Automated Oscillometric Measurement
of Ankle-Brachial Index and Standard Measurement by
Eco-Doppler in Diabetic Patients with or without Diabetic Foot Int J
Endocrinol, 2017:2383651
13 Span M, Gersak G, Millasseau SC, Meza M, Kosir A (2016)
Detection of peripheral arterial disease with an improved automated device: comparison of a new oscillometric device
and the standard Doppler method Vasc Health Risk Manag,
Trang 712:305-311
14 Herraiz-Adillo A, Martinez-Vizcaino V, Cavero-Redondo I,
Alvarez-Bueno C, Garrido-Miguel M, Notario-Pacheco B (2016)
Diagnostic Accuracy Study of an Oscillometric Ankle-Brachial
Index in Peripheral Arterial Disease: The Influence of
Oscillometric Errors and Calcified Legs PLoS ONE,
11(11):e0167408
15 Casey S, Lanting S, Oldmeadow C, Chuter V (2019) The
reliability of the ankle brachial index: a systematic review J Foot
Ankle Res, 12:39
16 Richart T, Kuznetsova T, Wizner B, Struijker-Boudier HA,
Staessen JA (2009) Validation of automated oscillometric versus
manual measurement of the ankle-brachial index Hypertens Res,
32(10):884-888
17 Al-Qunaibet A, Meyer M, Couper D, et al (2016) Repeatability
of Oscillometric Determinations of the Ankle-Brachial Index
The Atherosclerosis Risk in Communities (ARIC) Study
Angiology: Open Access, 04:164
Ngày nhận bài báo: 01/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020