1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Báo cáo một trường hợp thay van động mạch chủ sinh học loại corevalve evolut r qua đường động mạch cảnh ở bệnh nhân hẹp khít van động mạch chủ do thoái hóa kèm suy thận mạn đang chạy thận định kỳ

7 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo một trường hợp thay van động mạch chủ sinh học loại CoreValve Evolute R qua đường động mạch cảnh ở bệnh nhân hẹp khít van động mạch chủ do thoái hóa kèm suy thận mạn đang chạy thận định kỳ
Tác giả Võ Thành Nhân, Nguyễn Văn Dương, Lò Thị Thùy, Nguyễn Lương Tấn, Nguyễn Tất Bình, Trương Ngọc Hải
Người hướng dẫn Chưa có thông tin cụ thể
Trường học Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Báo cáo ca lâm sàng
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP THAY VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ SINH HỌC LOẠI COREVALVE EVOLUTE R QUA ĐƯỜNG ĐỘNG MẠCH CẢNH Ở BỆNH NHÂN HẸP KHÍT VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ DO THOÁI HÓA KÈM SUY THẬN MẠN ĐANG CHẠY

Trang 1

BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP THAY VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ SINH HỌC

LOẠI COREVALVE EVOLUTE R QUA ĐƯỜNG ĐỘNG MẠCH CẢNH

Ở BỆNH NHÂN HẸP KHÍT VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ

DO THOÁI HÓA KÈM SUY THẬN MẠN ĐANG CHẠY THẬN ĐỊNH KỲ

Võ Thành Nhân 1,2 , Nguyễn Văn Dương 2 , Lã Thị Thuỳ 2 , Nguyễn Lương Tấn 2 , Nguyễn Tất Bình 2 ,

Trương Ngọc Hải 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thay van động mạch chủ qua đường ống thông (Transcatheter Aortic Valve Implantation,

TAVI) là một thủ thuật ít xâm lấn và đã được chứng minh có hiệu quả tương tự và có phần vượt trội phẫu

thuật ở những bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao và trung bình, đồng thời đang có xu hướng mở rông

chỉ định ở bệnh nhân nguy cơ thấp Đường tiếp cận thường gặp trong TAVI là đường động mạch đùi, các

đường tiếp cận thay thế như: động mạch cảnh, động mạch dưới đòn và mỏm tim Hiện nay tại Việt Nam,

chưa có ca can thiệp thay van động mạch chủ qua ống thông được thực hiện qua đường động mạch cảnh

Mục tiêu: Đánh giá thủ thuật thay van động mạch chủ với van sinh học CoreValve Evolut R qua

đường động mạch cảnh có thể tiến hành an toàn, hiệu quả trong điều kiện thực tế lâm sàng ở Việt Nam

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo trường hợp

Kết quả: Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 60 tuổi, hẹp khít van động mạch chủ có

triệu chứng, đã được điều trị thành công bằng kỹ thuật thay van động mạch chủ qua đường động mạch

cảnh, sử dụng van CoreVale Evolut R

Kết luận: Ca lâm sàng của chúng tôi cho thấy thay van động mạch chủ CoreValve Evolut R qua đường

động mạch cảnh có thể tiến hành an toàn, hiệu quả trong điều kiện thực tế lâm sàng ở Việt Nam

Từ khóa: thay van động mạch chủ, qua đường động mạch cảnh

ABSTRACT

TRANSCAROTID AORTIC VALVE IMPLANTATION USING COREVALVE EVOLUTE R

IN PATIENT WITH END STAGE KIDNEY DISEASE: A CASE REPORT WITH LITERATURE REVIEW

Vo Thanh Nhan, Nguyen Van Duong, La Thi Thuy, Nguyen Luong Tan, Nguyen Tat Binh, Truong Ngoc Hai * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 199 - 205

Background: Transcatheter Aortic Valve Implantation (TAVI) is a less invasive procedure that has been

shown to be equally effective and somewhat superior in surgery in patients with the risk of surgery is high and

medium, and the trend is widening, indicated in low-risk patients The common approach in TAVI is the femoral

artery, alternative approaches such as the transcarotid, trans-subclavian and the transapical Currently in

Vietnam, there is no case of interventions with transcarotid aortic valve implantation in aortic valve stenosis

Objective: Evaluate the procedure of transcatheter aortic valve implantation with the biological valve CoreValve

Evolut R through the carotid artery can be done safely and effectively in real clinical conditions in Vietnam

Methods: Case report

Results: We report a case of a 60-year-old male patient with symptomatic aortic stenosis who was

successfully treated with transcarotid aortic valve replacement technique, using a CoreVale valve Evolut R

1 Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh 2 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

Trang 2

Conclusion: Our clinical case shows that the replacement of the aortic valve CoreValve Evolut R via carotid

artery can be done safely and effectively under real clinical conditions in Vietnam

Key word: transcarotid aortic valve replacement, carotid access

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hẹp van động mạch chủ do thoái hoá van là

bệnh lý phổ biến ở người cao tuổi Hẹp van

động mạch chủ khi đã biểu hiện triệu chứng có

tiên lượng nặng nề, với tỉ lệ tử vong trong 2 năm

lên tới 50% Cho đến gần đây, biện pháp điều trị

triệt để duy nhất cho các trường hợp hẹp van

động mạch chủ vẫn là phẫu thuật thay van động

mạch chủ Tuy nhiên, các bệnh lý nội khoa kèm

theo ở người cao tuổi (như bệnh phổi mạn tính,

suy thận) là yếu tố khiến tỉ lệ tử vong sau phẫu

thuật còn cao Khoảng một phần ba bệnh nhân

trên 75 tuổi có hẹp chủ khít không thể tiến hành

phẫu thuật do nguy cơ quá cao(1)

Ngày nay, kỹ thuật can thiệp qua đường ống

thông để điều trị các bệnh lý tim mạch ngày

càng phát triển Thay van động mạch chủ qua

đường ống thông (Transcatheter Aortic Valve

Implantation, TAVI) đã được chứng minh có

hiệu quả tương tự và có phần vượt trội phẫu

thuật ở những bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật

cao và trung bình, đồng thời đang có xu hướng

mở rông chỉ định ở bệnh nhân nguy cơ thấp

Đường tiếp cận thường gặp nhất trong thay

TAVI là đường động mạch đùi Tuy nhiên, bệnh

mạch máu ngoại biên và động mạch chậu sẽ là

khó khăn và thách thức cho TAVI ở khoảng ¼

bệnh nhân hẹp van động mạch chủ(2,3,4) Trong

những trường hợp như vậy, một loạt các đường

tiếp cận khác được lựa chọn như: qua mỏm

tim(5), qua động mạch nách(6), trực tiếp vào động

mạch chủ(7) và qua động mạch cảnh(8) Mỗi chiến

lược thay thế đều có thuận lợi và khó khăn riêng

và có thể liên quan đến những hậu quả bất lợi

của lâm sàng, như là sự xâm lấn nhiều, đau sau

thủ thuật, thời gian nằm viện kéo dài của bệnh

nhân, và thậm chí có thể tăng tử vong trong

trường hợp TAVI qua mỏm tim(9)

Can thiệp thay van động mạch chủ qua

đường động mạch cảnh đã được gợi ý như là

một đường tiếp cận với khả năng giảm thiểu

một số bất lợi của các phương pháp tiếp cận khác ngoài động mạch đùi(10) Việc thao tác qua động mạch cảnh đòi hỏi tính chính xác cao và sự phối hợp giữa phẫu thuật viên mạch máu với bác sĩ can thiệp tim mạch Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một ca lâm sàng bệnh nhân hẹp chủ khít được thay van động mạch chủ qua đường động mạch cảnh trong trái, sử dụng van sinh học CoreValve Evolut R (hãng Medtronic, Hoa Kỳ)

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam, 60 tuổi, được chẩn đoán hẹp khít van động mạch chủ 5 năm nay Đợt này bệnh nhân nhập viện vì khó thở, tức ngực trái khi đi bộ khoang 200m Các bệnh lý nội khoa kèm theo bao gồm: suy thận mạn giai đoạn cuối đang chay thận định kỳ 3 ngày/ tuần và tiền căn hen phế quản Các thang điểm dự báo nguy cơ khi phẫu thuật đều ở mức cao (điểm logistic EuroScore 9,55%, điểm STS 6,9%) Do tình trạng nội khoa nặng nề (suy thận mạn đang chạy thận, hen phế quản) không phù hợp với phẫu thuật tim hở, bệnh nhân được chỉ định thay van động mạch chủ qua da

Trước thủ thuật

Các thăm dò trước thủ thuật thay van động mạch chủ qua da bao gồm: xét nghiệm công thức máu, hoá sinh máu, điện tâm đồ, siêu âm tim qua thành ngực và qua thực quản, chụp động mạch vành và chụp động mạch đùi cản quang, chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) động mạch chủ - chậu, động mạch cảnh 2 bên

Bệnh nhân có tình trạng thiếu máu nhẹ trước thủ thuật (Hb 89 g/L), bệnh nhân được truyền 1 đơn vị máu 350ml trước thủ thuật, xét nghiệm lại ghi nhận Hb 98g/l Chức năng thận giảm nặng (mức lọc cầu thận 6 mL/phút) Trước thủ thuật bệnh nhân đã được chạy thận đình kỳ Các xét nghiệm điện giải đồ đều trong ngưỡng bình thường Điện tâm đồ có hình ảnh block nhánh

Trang 3

trái hoàn toàn, tăng gánh tâm thu thất trái

Kết quả siêu âm tim qua thành ngực cho

thấy hẹp khít van động mạch chủ, van động

mạch chủ 3 mảnh, diện tích lỗ van 0,8 cm2, chênh

áp tối đa qua van động mạch chủ 87 mmHg,

chênh áp trung bình 55,4 mmHg Hở van động

mạch chủ mức độ nhẹ Đường kính vòng van

động mạch chủ 24,2 mm, đường kính đường ra

thất trái 25,3 mm, đường kính động mạch chủ

ngang qua xoang Valsava 32 mm, đường kính

động mạch chủ lên 25,9 mm Chức năng tâm thu

thất trái trong giới hạn bình thường (EF 64%)

Không hẹp hở các van hai lá và ba lá

Chụp động mạch vành: hệ mạch vành không

hẹp, dòng chảy TIMI 3 Chụp cắt lớp vi tính 64

dãy động mạch chủ-chậu cho thấy xơ vữa gây

hẹp lan tỏa động mạch chủ Đường kính van

(Mean Diameter): 24,6 mm, chu vi vòng van

(Perimeter): 80 mm, diện tích van (Area: 493

mm2) Động mạch chủ ngực, động mạch chủ

bụng trên và dưới động mạch thận có khẩu kính

bình thường, ngã ba chủ chậu không hẹp tắc

Động mạch chậu và động mạch đùi phải xoắn

vặn, hẹp lan toả, đường kính động mạch chậu -

đùi phải chỗ hẹp nhất khoảng 7,1 mm Động

mạch chậu và động mạch đùi trái xơ vữa lan tỏa,

xoắn vặn nhiều đường kính động mạch đùi trái

chỗ hẹp nhất 7,4 mm (Hình 1)

Hình 1: Đánh giá động mạch đùi - chậu bằng phim

chụp MSCT chủ chậu

Do đường đi động mạch đùi 2 bên không

khả thi do mạch máu xơ vữa và xoắn vặn nhiều,

tiên lượng đưa sheath 14-18F khó khăn Chúng

tôi chụp thêm động mạch cảnh và động mạch dưới đòn 2 bên Động mạch cảnh gốc bên phải vôi hóa nhẹ, đường kính D # 8mm, động mạch cảnh gốc bên trái hướng đi và đường kính bình

thường D# 8,2mm (Hình 2)

Hình 2: Đánh giá động mạch cảnh bên trái bằng

phim chụp MSCT

Thủ thuật

Thủ thuật được tiến hành tại phòng Hybrid, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Parki Bệnh nhân được gây mê nội khí quản Sau

đó, đặt đầu dò siêu âm qua thực quản Đặt điện cực tạo nhịp tạm thời ở mỏm thất phải qua đường tĩnh mạch đùi phải Dựa theo kết quả chụp động mạch đùi cản quang có hẹp động mạch đùi 2 bên như đã mô tả ở trên, đường can thiệp được lựa chọn là đường động mạch cảnh trong trái Trước tiên, chúng tôi tiến hành mở đường vào động mạch quay trái, đặt sheath 6 French Qua đường động mạch quay trái, một ống thông Pigtail 6F được đưa tới xoang không vành động mạch chủ và kết nối bộ theo dõi áp lực Tiếp theo, động mạch cảnh trong trái được bộc lộ dưới sự hỗ trợ của phẫu thuật viên mạch máu Bác sĩ can thiệp đâm kim và luồn một sheath 7F vào động mạch cảnh trong trái Sau đó sheath 7h sẽ đươc thay thế bằng sheath Sentrant 14F (hãng Medtronic, Hoa Kỳ) Một ống thông

AL với Gw Terumo đầu thẳng được đưa lên gốc động mạch chủ qua đường động mạch cảnh trong và đưa vào thất trái Đổi sang một Pigtail

Trang 4

6F lưu tại thất trái

Chúng tôi tiến hành thông tim trái để khảo

sát tình trạng huyết động học trước thủ thuật

Áp lực động mạch chủ là 156/73 mmHg, áp lực

tâm thu thất trái 236 mmHg, áp lực cuối tâm

trương thất trái 7 mmHg, đánh giá chênh áp

trung bình qua lỗ van động mạch chủ là 50

mmHg, chênh áp đỉnh-đỉnh là 80 mmHg (Hình 3)

Dùng dây dẫn Confida 260 cm - 0,035 inch

(hãng Medtronic, Hoa Kỳ) được đẩy xuống

buồng thất trái qua sheath 14 French Rút sheath

14F và đưa bộ chuyển van sinh học CoreValve

Evolut R kích thước 29 mm được đặt ở vòng van

động mạch chủ dưới hướng dẫn của màn huỳnh

quang tăng sáng Bệnh nhân được tạo nhịp thất

với tần số 180 chu kỳ/phút khi đặt van Kết quả chụp động mạch chủ cho thấy van động mạch chủ nhân tạo nằm đúng vị trí, không hở quanh van và hở trung tâm Thông tim trái cho thấy không còn chênh áp qua van động mạch chủ

(Hình 4) Siêu âm tim qua thực quản và chụp gốc

động mạch chủ ngay sau khi đặt van cho thấy van nằm đúng vị trí, không hở quanh van và hở trung tâm Sau khi đã kiểm tra vị trí van trên phim chụp mạch cản quang và siêu âm tim, rút toàn bộ hệ thống chuyển van ra ngoài Đồng thời phẫu thuật viên mạch máu tiến hành đóng động mạch cảnh và đóng da, đặt dẫn lưu tại chỗ với

áp lực âm liên tục

Hình 3: Quá trình thả van động mạch chủ CoreValve Evolut R 26mm

Hình 4: Chênh áp qua van động mạch chủ trước và sau thủ thuật

Sau thủ thuật, bệnh nhân được chuyển về

phòng hồi tỉnh Người bệnh được rút ống nội

khí quản sau 2 tiếng theo dõi Điện cực tạo nhịp

tạm thời được rút sau 3 ngày Không xuất hiện

các rối loạn nhịp sau can thiệp Không có tình

trạng nhiễm khuẩn sau thủ thuật Bệnh nhân được xuất viện sau 7 ngày, không có biến chứng

Bệnh nhân được duy trì các thuốc điều trị suy tim, suy thận và Duoplavin 75/100 mg, với liều 1 viên/ngày Bệnh nhân được cắt chỉ sau 7 ngày và

Trang 5

ra viện theo dõi ngoại trú trong vòng 30 ngày

Trong thời gian theo dõi 30 ngày sau thủ thuật,

hoàn toàn không ghi nhận các biến cố tim mạch

lớn (chảy máu nặng, tai biến mạch não, nhồi

máu cơ tim, rối loạn nhịp tim) Tình trạng lâm

sàng của người bệnh cũng được cải thiện rõ rệt

(sinh hiệu ổn, không còn đau ngực, không có

cơn khó thở, ngất)

BÀN LUẬN

Đây là trường hợp đầu tiên được thay van

động mạch chủ qua đường động mạch cảnh loại

CoreValve Evolut R ở Việt Nam Mặc dù các van

sinh học thế hệ mới ngày càng có kích thước nhỏ

gọn hơn, tuy nhiên tỉ lệ biến chứng mạch máu

vẫn còn cao (khoảng trên 10%) Đo kích thước và

đánh giá tình trạng hẹp, tắc, xoắn vặn, vôi hóa

của mạch máu động mạch đùi, động mạch chậu,

động mạch chủ bụng trước thủ thuật, theo phim

chụp cắt lớp vi tinh đa dãy, phim chụp mạch cản

quang, và siêu âm mạch máu, giữ vai trò rất

quan trọng trong việc giảm tỉ lệ biến chứng

mạch máu Đối với bệnh nhân của chúng tôi,

đường kính động mạch đùi trái xoắn vặn nhiều,

chỗ hẹp nhất là 7,1 mm, trong khi động mạch

đùi-chậu phải xoắn vặn và hẹp lan tỏa, đường

tiếp cận động mạch đùi là không khả thi Do

vậy, chúng tôi cũng đã tiến hành chụp động

mạch cảnh 2 bên để đánh giá đường tiếp cận

động mạch cảnh thay thế

Thay van động mạch chủ sinh học với van tự

bung (CoreValve) qua đường động mạch cảnh

lần đầu tiên được thực hiện ở Lille năm 2009(9)

Kỹ thuật này sau đó đã được áp dụng tại một số

trung tâm Châu Âu và Mỹ(10,11,12,13) và đã được

thực hiện với cả hai 2 loại van tự bung

(CoreValve) và bung bằng bóng

(Edwards-Sapien )(11) Phương pháp tiếp cận phẫu thuật bộc

lộ động mạch cảnh là tương đối ít biến chứng do

vị trí dễ bộc lộ của nó và kinh nghiệm phẫu

thuật với động mạch cảnh được phổ biến rộng

rãi trong số các bác sĩ phẫu thuật tim mạch

Trong TAVI, các động mạch cảnh trái thường

được lựa chọn, vì nó cho phép sự đồng trục hơn

của Van sinh học với vòng van động mạch chủ

(Hình 2) Trong 30 ngày theo dõi, chúng tôi

không gặp các biến chứng mạch máu lớn hoặc chảy máu nhiều liên quan đến vị trí tiếp cận mạch máu Chưa có thử nghiệm lâm sàng so sánh biến chứng mạch máu trong TF-TAVI hay TC-TAVI Tuy nhiên, trong nghiên cứu PARTNER A có 699 bệnh nhân và 358 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu PARTNER B

Trong số đó, 64 bệnh nhân (15,3%) có biến chứng mạch máu nghiêm trọng và 50 bệnh nhân (11,9%) có biến chứng mạch máu nhẹ 30 ngày kể

từ khi làm thủ thuật So với bệnh nhân không có biến chứng mạch máu, bệnh nhân có biến chứng mạch máu nghiêm trọng chủ yếu thường là phụ

nữ, có diện tích cơ thể nhỏ hơn, đã có bệnh tiểu đường được điều trị bằng insulin ở cơ sở, có đường kính mạch máu nhỏ hơn Trong nghiên cứu The French Transcarotid TAVR Registry với

96 bệnh nhân được TAVR qua đường động mạch cảnh trong (từ năm 2009-2013), trong đó chỉ có 4 bệnh nhân (4,2%) có biến chứng mạch máu lớn và 4 bệnh nhân (4,2%) có biến chứng mạch máu nhỏ Không có trường hợp tử vong nào ghi nhận liên quan đến biến chứng mạch máu(14)

Cuối cùng, chúng tôi tin rằng thay van động mạch chủ qua đường động mạch cảnh nên được xem như là một phương pháp thay thế cho các đường tiếp cận qua mỏm tim (transapical), qua động mạch chủ (transaortic), qua tĩnh mạch (transcaval) và qua động mạch dưới đòn (trans-subclavian) Bởi vì có dữ liệu so sánh hạn chế giữa các tuyến đường tiếp cận thay thế nên phương pháp tiếp cận mạch máu đối với từng cá thể bệnh nhân nên được hội chẩn và tiến hành bởi Heart Team Thay van động mạch chủ qua đường động mạch cảnh có thể có những lợi ích đặc biệt đối với đường tiếp cận đòi hỏi phải thực hiện mở ngực hoặc mở xương ức ở những bệnh nhân bị bệnh phổi tiến triển hoặc đã phẫu thuật

mở ngực trước đó, khi mà việc hồi phục từ phẫu thuật có thể kéo dài Tương tự như vậy, TC-TAVR là kỹ thuật ít xâm lấn hơn cách tiếp cận đường tĩnh mạch (transcaval) Tuy nhiên, cần có

Trang 6

các nghiên cứu và theo dõi dài hạn là cần thiết

để chứng minh hiệu quả của cách tiếp cận này

Mặc dù chưa có số liệu so sánh trực tiếp

TF-TAVI và TC-TF-TAVI, cả hai loại thủ thuật đều có tỉ

lệ thành công và hiệu quả lâm sàng tương

đương nhau Tỉ lệ thành công và sống còn trong

30 ngày sau thủ thuật đều đạt trên 90% Tai biến

mạch não là biến chứng hay gặp nhất của thủ

thuật, tỉ lệ tai biến mạch não trong TC-TAVR

được ghi nhận vào thời điểm 30 ngày, 6 bệnh

nhân (6,3%) có bằng chứng thiếu máu não

thoáng qua (14) Những dữ liệu này so sánh với tỉ

lệ đột quỵ được báo cáo trong các đường tiếp

cận khác, tỷ lệ đột quỵ được báo cáo hơn so với

số liệu được quan sát thấy trong nhóm thay van

qua động mạch đùi <5%(15,16) Webb J(15) đã báo

cáo tỷ lệ đột quỵ 30 ngày là 5,6% trong số những

bệnh nhân thực hiện TAVI qua động mạch chủ

và qua mỏm tim với van SAPIEN 3 (Edwards

Lifesciences), trong khi tỷ lệ đột quỵ là 4,3%

được báo cáo cho van CoreValve trong nghiên

cứu Advance registry(16) Một số cơ chế dẫn tới

đột quỵ trong quá trình TC-TAVI được nghĩ tới như:

1) Thuyên tắc huyết khối động mạch cảnh do

quá trình tiếp cận gây vỡ mảng xơ vữa;

2) Chấn thương vùng mạch máu tiếp cận

gây ra huyết khối;

3) Không đủ bàng hệ tưới máu cho đa giác

Willis; và

4) Thuyên tắc do các mảnh vỡ trong quá

trình nong van và thả van sinh học

Tỷ lệ đột quỵ thấp được quan sát thấy trong

các nghiên cứu có thể là do lựa chọn bệnh nhân

cẩn thận (đường kính động mạch cảnh thông

thường tối thiểu ≥7,0 mm), điều trị trước bắt

buộc với thuốc chống tiểu cầu kép, và thuốc

chống đông máu thích hợp (ACT >250 giây) Tuy

nhiên, vẫn có khả năng làm giảm nguy cơ thiếu

máu cục bộ não bằng cách hạn chế nong lại

trong van, sử dụng các thiết bị bảo vệ tránh

huyết khối(17,18)

Chúng tôi thực hiện thay van động mạch

chủ dưới gây tê toàn thân, mặc dù gây tê tại chỗ

đã được thực hiện thành công(12) Gây mê nội khí

quản giúp tình trạng bệnh nhân ổn định trong quá trình làm thủ thuật Tuy nhiên gây tê tại chỗ giảm thời gian nằm tại phòng hồi sức tim mạch của bệnh nhân, đồng thời giảm thời gian nằm nội viện Ở bệnh nhân của chúng tôi do bệnh nhân kích thích nhiều khi đặt đầu dò siêu âm thực quản nên chúng tôi quyết định gây tê toàn thân giúp bệnh nhân ổn định Bệnh nhân được rút nội khí quản chỉ sau 2h sau thủ thuật và sau

đó hoàn toàn tỉnh táo Các kết quả khí máu động mạch theo dõi sau thủ thuật đều trong giới hạn bình thường

Đối với bệnh nhân của chúng tôi có bệnh kèm theo là suy thận mạn đang chạy thận định

kỳ Hẹp van động mạch chủ trung bình được thấy ở 9% bệnh nhân ESRD, với hẹp van động mạch chủ nặng có triệu chứng ở 3% bệnh nhân thẩm phân máu Bệnh van tim xuất hiện sớm hơn 10-20 năm ở bệnh nhân ESRD so với người bình thường và tiến triển nhanh hơn Một nhóm nhỏ từ nghiên cứu CoreValve Expanded Use Study bao gồm những bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn cuối cho thấy tỷ lệ tử vong và đột quỵ thấp Mặc dù vậy các thử thách lâm sàng trong điều trị nhóm bệnh nhân này, CoreValve đã vượt quá mục tiêu thực hiện đối với mục tiêu giảm tử vong do mọi nguyên nhân hoặc đột quỵ nghiêm trọng được nêu ra trong nghiên cứu CoreValve Extreme Risk Study ban đầu Ngoài

ra, tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trong số bệnh nhân thận giai đoạn cuối trong CoreValve Expanded Use Study thấp hơn so với bệnh nhân đang chạy thận trong Transcatheter Valve Therapy (TVT) Registry (30,3% so với 41%) Các bệnh nhân thận giai đoạn cuối cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống trong một năm với mức tăng trung bình trong tổng điểm KCCQ là 27,5 điểm so với thời điểm ban đầu

Cuối cùng, chúng tôi tin rằng thay van động mạch chủ qua đường động mạch cảnh nên được xem như là một phương pháp thay thế cho các đường tiếp cận qua mỏm tim (transapical), qua động mạch chủ (transaortic), qua tĩnh mạch (transcaval) và qua động mạch dưới đòn

Trang 7

(trans-subclavian) Bởi vì có dữ liệu so sánh hạn chế

giữa các tuyến đường tiếp cận thay thế nên

phương pháp tiếp cận mạch máu đối với từng cá

thể bệnh nhân nên được hội chẩn và tiến hành

bởi Heart Team Thay van động mạch chủ qua

đường động mạch cảnh có thể có những lợi ích

đặc biệt đối với đường tiếp cận đòi hỏi phải thực

hiện mở ngực hoặc mở xương ức ở những bệnh

nhân bị bệnh phổi tiến triển hoặc đã phẫu thuật

mở ngực trước đó, khi mà việc hồi phục từ phẫu

thuật có thể kéo dài Tương tự như vậy,

TC-TAVR là kỹ thuật ít xâm lấn hơn cách tiếp cận

đường tĩnh mạch (transcaval) Tuy nhiên, cần có

các nghiên cứu và theo dõi dài hạn là cần thiết

để chứng minh hiệu quả của cách tiếp cận này

KẾT LUẬN

Ca lâm sàng của chúng tôi cho thấy thay van

động mạch chủ CoreValve Evolut R qua đường

động mạch cảnh có thể tiến hành an toàn, hiệu

quả trong điều kiện thực tế lâm sàng ở Việt

Nam Việc đánh giá bệnh nhân đầy đủ về lâm

sàng và cận lâm sàng (siêu âm tim, chụp mạch

cản quang, chụp MSCT) giữ vai trò rất quan

trọng đối với thành công của thủ thuật Tính an

toàn của thay van động mạch chủ qua đường

động mạch cảnh còn cần phải được kiểm định

trong các nghiên cứu lớn với thời gian nghiên

cứu kéo dài, tuy nhiên có thể kết luận đây là một

hướng đi đầy triển vọng để điều trị bệnh nhân

hẹp khít van động mạch chủ do thoái hoá mà

không thể tiếp cận động mạch đùi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Goncalves A, Marcos-Alberca P, Almeria C, et al (2013) Quality

of life improvement at midterm follow-up after transcatheter

aortic valve implantation Int J Cardiol, 162:117-122

2 Adams DH, Popma JJ, Reardon MJ, et al (2014) Transcatheter

aortic-valve replacement with a self-expanding prosthesis N

Engl J Med, 370:1790–1798

3 Reardon MJ, Adams DH, Coselli JS, et al (2014) Self-expanding

transcatheter aortic valve replacement using alternative access

sites in symptomatic patients with severe aortic stenosis deemed

extreme risk of surgery J Thorac Cardiovasc Surg, 148:2869–2876

4 Hayashida K, Lefevre T, Chevalier B, et al (2011) Transfemoral

aortic valve implantation new criteria to predict vascular

complications J Am Coll Cardiol Intv, 4:851–858

5 Walther T, Simon P, Dewey T, et al (2007) Transapical minimally invasive aortic valve implantation: multicenter

experience Circulation, 116:I240–I245

6 Petronio AS, De Carlo M, Bedogni F, et al (2010) Safety and efficacy of the subclavian approach for transcatheter aortic valve

implantation with the CoreValve revalving system Circ

Cardiovasc Interv, 3:359–366

7 Bauernschmitt R, Schreiber C, Bleiziffer S, et al (2009)

Transcatheter aortic valve implantation through the ascending

aorta: an alternative option for no-access patients Heart Surg

Forum, 12:E63–E64

8 Greenbaum AB, O'Neill WW, Paone G, et al (2014) Caval-aortic access to allow transcatheter aortic valve replacement in

otherwise ineligible patients: initial human experience J Am Coll

Cardiol, 63:2795–2804

9 Blackstone EH, Suri RM, Rajeswaran J, et al (2015) Propensity-matched comparisons of clinical outcomes after transapical or transfemoral transcatheter aortic valve replacement: a Placement of Aortic Transcatheter Valves (PARTNER)-I Trial

Substudy Circulation, 131:1989–2000

10 Modine T, Lemesle G, Azzaoui R, et al (2010) Aortic valve implantation with the CoreValve ReValving System via left

carotid artery access: first case report J Thorac Cardiovasc Surg,

140:928–929

11 Modine T, Sudre A, Amr G, et al (2014) Implantation of a

Sapien XT aortic bioprosthesis through the left carotid artery J

Card Surg, 29:337–339

12 Daly MJ, Blair PH, Modine T, et al (2015) Carotid-access transcatheter aortic valve replacement in a patient with a

previous mitral valve replacement J Card Surg, 30:256–259

13 Guyton RA, Block PC, Thourani VH, et al (2013) Carotid artery

access for transcatheter aortic valve replacement Catheter

Cardiovasc Interv, 82:E583–E586

14 Darren M, Arnaud S, Emmanuel T, et al (2016) Transcarotid Transcatheter Aortic Valve Replacement Feasibility and Safety

JACC: Cardiovascular Interventions, 9(5):472-80

15 Webb J, Gerosa G, Lefevre T, et al (2014) Multicenter evaluation

of a next-generation balloon-expandable transcatheter aortic

valve J Am Coll Cardiol, 64:2235–2243

16 Linke A, Wenaweser P, Gerckens U, et al (2014) Treatment of aortic stenosis with a self-expanding transcatheter valve: the

International Multi-centre ADVANCE Study Eur Heart J,

35:2672–2684

17 Hahn RT, Pibarot P, Webb J, et al (2014) Outcomes with post-dilation following transcatheter aortic valve replacement: the

PARTNER I trial (placement of aortic transcatheter valve) J Am

Coll Cardiol Intv, 7:781–789

18 Naber CK, Ghanem A, Abizaid AA, et al (2012) First-in-man use of a novel embolic protection device for patients undergoing

transcatheter aortic valve implantation EuroIntervention, 8:43–

50

Ngày đăng: 02/03/2023, 07:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm