ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 893.2015 39 FOSTERING INTERCULTURAL COMMUNICATION TEACHING THROUGH USING AUTHENTIC MATERIALS: PERCEPTIONS OF THREE VIET
Trang 1ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(93).2015 39
FOSTERING INTERCULTURAL COMMUNICATION TEACHING THROUGH USING AUTHENTIC MATERIALS: PERCEPTIONS OF THREE VIETNAMESE EFL TEACHERS
Nguyễn Thuỳ Trang
Tr ường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; trangnt1912@gmail.com
Tóm tắt - Trong nghiên cứu này, tác giả khảo sát nhìn nhận của
ba giảng viên tiếng Anh ở Việt Nam về việc sử dụng tài liệu thực
(TLT), chẳng hạn như cuốn tạp chí Massive của trường đại học
Massey, Niu Di Lân nhằm phục vụ cho việc giảng dạy môn Giao
Tiếp Liên Văn Hoá cho sinh viên chuyên Anh Các GV được xem
giáo án mẫu sử dụng Massive để dạy bài mở đầu bộ môn này hai
ngày trước khi tham gia cuộc phỏng vấn 20 phút trên Skype Các
GV nhận thấy sử dụng TLT giúp nâng cao hứng thú học và chất
lượng giảng dạy nhờ vào phần nội dung cập nhật, và các liên ngôn
và hi ện tượng văn hoá phi ngôn từ thực Họ cũng chia sẻ một số
khó khăn liên quan đến thiếu hụt tài liệu, nhân lực và sự hợp tác
của các GV đồng nghiệp Các GV gợi ý tăng cường hợp tác với
đồng nghiệp cũng như cán bộ quản lý, và tham gia đào tạo với
chuyên gia s ẽ giúp khắc phục các khó khăn đã nêu
Abstract - This research captures perceptions of three Vietnamese EFL
teachers about the utilisation of authentic materials (AM) including the
magazine Massive of Massey from a New Zealand university to teach
Intercultural Communication (ICC) subject to Vietnamese TESOL majors A lesson plan example was sent to the teachers two days before 20-minute interviews with each of them on Skype The findings showed
that all wanted to use AM in general and Massive in particular to teach
ICC as it could enhance learners’ motivation and the teaching quality through exposing students to updated information and real intercultural discourse as well as nonverbal information The interviewees also identified challenges related to a shortage of AM, qualified teachers and cooperation from their colleagues To overcome such challenges, their recommendations were thus to collaborate with teachers and managers
as well as to attend further training with experts
Từ khóa - tài liệu thực; giao tiếp liên văn hoá; lớp học tiếng Anh;
b ối cảnh Việt Nam; nhìn nhận của giáo viên Key words - authentic materials; intercultural communication; EFL classrooms; Vietnam ’s context, teacher’s perceptions
1 Đặt vấn đề
Giao tiếp liên văn hoá (GTLVH) là bộ môn được dạy
bằng tiếng Anh và tập trung vào giới thiệu các phương thức
giao tiếp ngôn từ và phi ngôn từ của nhiều nền văn hoá trên
thế giới nhằm trang bị cho sinh viên (SV) kiến thức và kỹ
năng giao tiếp liên văn hoá Ở bậc cử nhân, số lượng tín chỉ
của môn này là 3, tương đương với 30 đến 45 giờ học trên
lớp trong một kỳ học Hiện ở Việt Nam chưa có một giáo
trình chính thống nào giảng dạy bộ môn này Các trường
đại học có xu hướng hoặc sử dụng nguyên một cuốn sách
có liên quan đến GTLVH (Intercultural Communication)
của các nhà xuất bản nước ngoài, hoặc tự xây dựng chương
trình, biên tập lại từ nhiều nguồn sách khác nhau
Mặc dù lợi ích của TLT đã được thảo luận nhiều trong
giảng dạy tiếng Anh (TA), việc khai thác các tài liệu này để
giảng dạy văn hoá cho sinh viên chuyên TA lại chưa được
chú ý trong bối cảnh Việt Nam Xuất phát từ kinh nghiệm
giảng dạy bộ môn này cho SV năm ba và bốn chuyên ngành
sư phạm tiếng Anh, và nhận thấy rằng thực chất việc sử dụng
TLT để dạy bộ môn này chưa được khai thác kỹ lưỡng, tác
giả quyết định tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhìn
nhận của một số GV về việc sử dụng TLT cho giảng dạy bộ
môn GTLVH cho cử nhân chuyên ngành TA ở VN
Trong nghiên cứu này, TLT được hiểu là những tài liệu
được làm ra không để phục vụ cho mục đích giáo dục
(Jordan, 1997), từ báo, tạp chí, các trang Web, cho đến
hướng dẫn sử dụng, bằng lái xe, hóa đơn điện nước, vỏ chai
nước, hay nhãn quần áo (xem [10])
2 N ội dung nghiên cứu
2.1 Lợi ích của việc sử dụng TLT trong lớp học TA trong
các nghiên cứu trước
Sử dụng TLT được kết luận là mang lại nhiều lợi ích tích cực cho việc giảng dạy TA ở nhiều nghiên cứu trước đây Các lợi ích này có thể được tóm tắt như sau:
Đầu tiên, sử dụng TLT giúp GV thực hiện được một trong những nhiệm vụ khó nhất là kích thích động lực học, nắm bắt tâm lý và kích thích trí tưởng tượng của SV [4] Mishan (2005) đã cụ thể hoá rằng TLT có ảnh hưởng tốt đến “các yếu tố cảm xúc thiết yếu cho học tập, chẳng hạn như động lực học, sự đồng cảm và nhiều hành vi cảm xúc khác của người học” (tr 41-42)
Thứ hai, TLT cung cấp cho người học “loại tiếng Anh thực” –đó là thứ ngôn ngữ không thể học được từ các văn bản được soạn sẵn để phục vụ cho việc giảng dạy trong trong bốn bức tường của lớp học Thực chất, các học giả đã chỉ ra rằng tiếng Anh trong các tài liệu giảng dạy hiện tại khác xa với thứ tiếng Anh thực mà người dân ở các nước nói TA vẫn sử dụng trong đời sống hàng ngày [5], [2], [12] Như vậy, tiếp cận đúng cách với TLT là một cơ hội vô giá giúp việc dạy và học ngoại ngữ trở nên phong phú hơn hẳn giới hạn của một cuốn sách hay một văn bản cố định [13] Điều này đặc biệt có ý nghĩa ở các môi trường học TA như một ngoại ngữ vì khi bước ra khỏi lớp học, hiếm khi nào người học có thời gian để sử dụng và luyện tập TA Lợi thế cuối cùng của TLT đó là kho thông tin được cập nhật liên tục, khác hẳn với sách giáo khoa hay các tài liệu khác được xuất bản một lần và dùng đi dùng lại trong nhiều năm [2], [13] Như vậy TLT không chỉ đơn thuần dạy SV ngôn ngữ mà còn cập nhật cho họ về những tin tức nóng hổi đang diễn ra [11], [5] Điều này thực sự rất quan trọng đối với người học ngoại ngữ trong xã hội hiện đại
Trang 240 Nguyễn Thuỳ Trang
2.2 Lợi ích của việc sử dụng TLT để dạy văn hoá cho SV
chuyên TA trong các nghiên cứu trước
Trong một số các nghiên cứu trước đây, TLT được cho
là đóng vai trò quan trọng trong việc giảng dạy nội dung
văn hoá cho SV chuyên ngành TA, cụ thể như sau:
Thứ nhất, với nội dung học tập là các phương thức giao
tiếp đa văn hoá, TLT về các nền văn hoá đó sẽ giúp người
học hứng thú hơn so với việc SV phải học về các nền văn
hoá đó từ những cuốn sách giáo khoa soạn sẵn Với bộ môn
GTLVH, McKay (2000), Oura (2001) và Tomlinson
(2012) tin rằng sử dụng TLT không những kích thích việc
học của SV mà còn khơi dậy và làm sống lại đam mê của
người học về các giá trị giao tiếp liên văn hoá
Thứ hai, với TLT người học luôn được tiếp xúc với
ngôn liên được sử dụng thực trong đời sống giao tiếp liên
văn hoá thay vì loại ngôn ngữ cố định chỉ dược dùng trong
sách giáo khoa [10], nhờ đó đáp ứng được nhu cầu thực sự
của SV trong xã hội toàn cầu hoá hiện nay Ngoài ra, các
học giả khác nhận thấy TLT giúp đánh thức động lực học
của SV và từ đó giúp người học phát triển một chuỗi các
năng lực giao tiếp cả ngôn từ và phi ngôn từ một cách tự
nhiên nhất [6], [3], Hargreaves, (1994, xem [8]) Ví dụ,
trong khá nhiều trường hợp, người học có thể mắc một số
lỗi cơ bản về từ vựng, phát âm hay ngữ dụng mà không
nhận ra do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ lên việc sử dụng TA
Vì thế, được tiếp cận các TLT miêu tả chân thực các hành
vi giao tiếp ngôn từ và phi ngôn từ của chính những người
bản ngữ sẽ giúp nâng cao nhận thức của người học về lỗi
sử dụng ngôn ngữ của chính họ, và tạo thêm niềm tin và
động lực cho họ khắc phục những lỗi đó
Cuối cùng, như Martinez (2002) và Oura (2001) nhận
định, TLT mang cả thế giới thực vào lớp học TA và biến
việc dạy và học các phạm trù văn hoá cập nhất nhất trở nên
sinh động và gần gũi hơn Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng
không giống với ngữ pháp, phương thức và phong cách
giao tiếp liên văn hóa, kể cả các hành vi và chuẩn mực văn
hóa đều có thể thay đổi theo thời gian Nói cách khác, TLT
truyền tải thông điệp, bồi dưỡng và tăng cường sự hiểu biết
của SV về nhiều nền văn hóa trong bối cảnh giao tiếp đa
văn hoá của một thế giới không ngừng chuyển động [1]
3 P hương pháp nghiên cứu
Tác giả đã gửi lời mời tham gia nghiên cứu đến các GV
tiếng Anh ở một số trường đại học lớn ở Việt Nam thông
qua hòm thư điện tử của các khoa ngoại ngữ, và nhận được
hồi âm của năm GV thể hiện sự quan tâm đến đề tài Tuy
nhiên, vì thời gian phỏng vấn diễn ra vào đầu kỳ học, nên
cuối cùng chỉ còn ba giáo viên sắp xếp được thời gian tham
gia Đối tượng tham gia nghiên cứu là ba GV đang giảng
dạy bộ môn GTLVH cho SV chuyên ngành sư phạm TA từ
ba trường đại học khác nhau ở VN Ba GV này sau đây sẽ
được gọi lần lượt là GV1, GV2 và GV3 đã đồng ý tham gia
vào buổi phỏng vấn với tác giả trên Skype Một buổi phỏng
vấn với từng GV kéo dài khoảng 20 phút và được thực hiện
bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt nhằm giúp người tham gia
thoải mái diễn đạt ý tưởng của mình Cả tác giả và GV đều
có trách nhiệm kiểm tra chất lượng kết nối Internet và âm
thanh để đảm bảo buổi phỏng vấn đã diễn ra trong điều kiện
tốt nhất
Hai ngày trước buổi phỏng vấn, tác giả gửi cho từng
GV hai tệp tài liệu đính kèm theo email bao gồm một bản chụp của cuốn tạp chí Massive số tháng 2 năm 2014 của trường Đại học Massey, một trường đại học ở Niu Di Lân (NDL) có tổng số xấp xỉ 35 ngàn sinh viên (Số liệu tháng
1, năm 2015
https://www.massey.ac.nz/massey/student-life/about-our-campuses/) và có tổng cộng ba khuôn viên chính nằm trải dài ở bán đảo Bắc của đất nước, và một bài giảng mẫu khai thác ảnh hưởng của các chuẩn mực văn hóa NDL lên việc lựa chọn ngôn từ và chủ đề của cuốn tạp chí Thời gian hai ngày này đã giúp các GV (1) có đủ thời gian
để đọc và chiêm nghiệm về việc sử dụng cuốn Massive để dạy môn GTLVH, và (2) vì thời gian biểu bận rộn của các
GV nên thời gian gần sát với buổi phỏng vấn có tác dụng giúp các GV tập trung đọc và nhớ tài liệu soạn thảo tốt hơn
Ở bài giảng này, SV được phân công làm việc nhóm để tìm
ra các chủ đề cũng như phong cách sử dụng ngôn ngữ trong cuốn tạp chí của NDL trước khi quyết định chọn lựa các chủ đề và phong cách viết cho chính cuốn tạp chí sinh viên của trường mình Thông tin chi tiết về hoạt động giảng dạy này được trình bày chi tiết ở Phụ lục 1
Tác giả đã chọn cuốn tạp chí Massive như một nguồn TLT để soạn mẫu cho bài giảng GTLVH vì ba lí do chính: (1) Việc dạy và học TA và GTLVH ở VN mới chỉ tập trung nhiều vào Anh, Hoa Kỳ và Úc, trong khi NDL cũng là một nước nói TA và ngày càng thu hút nhiều SV quốc tế đến theo học, và (2) Đây là cuốn tạp chí SV của một trong những trường đại học lớn nhất của NDL và có số lượng độc giả lớn từ lần đầu xuất bản và (3) Cuốn Massive được xuất bản hàng tháng ở cả dạng tạp chí in và báo mạng trên trang
web www.massivemagazine.org.nz nên cập nhật nhiều thông tin thường xuyên và liên tục
Câu hỏi nghiên cứu
Để khảo sát nhìn nhận của các giảng viên về tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng TLT để giảng dạy bộ môn GTLVH trong bối cảnh giảng dạy TA ở Việt Nam, nghiên cứu được tiến hành để trả lời cho ba câu hỏi chính sau đây:
1 Các GV nghĩ gì về việc sử dụng TLT, chẳng hạn như cuốn tạp chí Massive này để dạy GTLVH cho SV chuyên
TA ở VN?
2 Theo các GV, có khó khăn gì trong việc tiến tới sử dụng các TLT để dạy GTLVH trong bối cảnh nước ta?
3 Các GV có gợi ý gì để giúp giải quyết những khó khăn vừa nêu trên?
4 K ết quả nghiên cứu
Ba cuộc phỏng vấn với các GV đã mang lại nhiều thông tin thú vị về suy nghĩ của họ đối với việc sử dụng cuốn tạp chí Massive nói riêng và TLT nói chung để dạy GTLVH Các GV cũng đề cập đến các khó khăn của việc áp dụng sử dụng TLT và gợi ý một số phương thức để vượt qua các thách thức này trong bối cảnh Việt Nam Phần kết quả cụ thể được trình bày theo ba câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
4.1 Sử dụng TLT như cuốn tạp chí Massive để dạy GTLVH cho sinh viên chuyên tiếng Anh ở Việt Nam
Ba GV đồng quan điểm rằng việc sử dụng TLT, và cụ thể là cuốn tạp chí Massive như cung cấp trong giáo án sẽ mang lại những tích cực nhất định cho việc dạy bộ môn
Trang 3ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(93).2015 41
GTLVH, tương đồng với nhận định của Sanderson (1999),
Richards (2001) và Mishan (2005) về lợi ích của việc sử
dụng TLT trong việc truyền thụ kiến thức văn hoá
4.1.1 Giúp lớp học trở nên sinh động hơn
GV1 cho rằng bản thân bộ môn GTLVH luôn khơi dậy
trí tò mò và niềm đam mê của người học về các phong cách
giao tiếp đa và liên văn hoá, do đó được học từ chính cuốn
tạp chí của một nền văn hoá nói TA như NDL chắc chắn sẽ
làm bài học gần gũi hơn với SV và khiến học trò yêu môn
học hơn GV2 nhấn mạnh rằng hầu hết SV chọn trường
mình là vì các em quan tâm và thích tìm hiểu thêm về ngôn
ngữ và văn hóa của các nước nói TA Do đó, việc tiếp xúc
với các sản phẩm đến từ NDL hay các nước nói TA khác
sẽ làm SV có thêm động lực để học tập TLT như cuốn
Massive từ đó sẽ giúp nâng cao nhận thức của người học
về những tương đồng và khác biệt trong giao tiếp liên văn
hoá một cách sinh động nhất GV3 thì đặc biệt ủng hộ việc
sử dụng tranh ảnh và các hình hoạ sinh động của cuốn tạp
chí, và cho rằng tiếp cận với tài liệu học bằng các giác quan
sẽ làm cho SV yêu thích môn học hơn rất nhiều Các quan
điểm của ba GV giống với chia sẻ của Kelly, Kelly, Offner
và Vorland (2002) hay Mishan (2005) Các học giả này cho
rằng việc sử dụng TLT làm lớp học sinh động hơn, giúp
SV được tiếp xúc thường xuyên hơn với đa dạng các đặc
tính văn hóa, và từ đó giúp người học hiểu sâu hơn về các
chủ đề văn hoá đó
4.1.2 Giúp môn học thú vị hơn, không quá mô phạm
Liên quan đến bài giảng mẫu được cung cấp, cả ba GV
đều đồng tình rằng đây là “liệu pháp thú vị” để khơi gợi hứng
thú và trí tò mò cho SV ngay đầu kỳ học Quan điểm này đã
được Gilmore (2007), Heitler (2005), và Mishan (2005) đưa
ra trong các nghiên cứu trước Cụ thể, GV1 chia sẻ rằng vì
một cuốn tạp chí nhìn không quá mô phạm như sách giáo
khoa truyền thống nên chắc chắn SV sẽ thấy hứng thú GV
này nói rằng “Hầu hết SV không thích sách giáo khoa mà sẽ
thích tạp chí hay truyện tranh hơn vì các em vừa được học
vừa được đọc giải trí và lấy thông tin” Tương tự, GV2 cho
rằng SV thường không thích phải đọc các bài dài trong sách
giáo khoa theo phương pháp sư phạm truyền thống Vì vậy
“học tạp chí vừa phải đọc ít mà có khi chất lượng đọc cũng
vẫn ngang với đọc sách giáo khoa trên lớp”
4.1.3 Cung cấp lợi ích dựa trên các hành vi giao tiếp ngôn
từ và phi ngôn từ
Ba GV cho rằng nhờ vào TLT, các hành vi giao tiếp
ngôn từ, phi ngôn từ và ý nghĩa văn hoá thực thụ được
truyền tải đến người học một cách tự nhiên nhất Họ nhấn
mạnh một trong những lợi ích rõ nhất của việc học từ cuốn
tạp chí như Massive là SV sẽ học TA thực của những bản
ngữ, đó là việc ngôn ngữ của những người trẻ hiện đại đang
sống ở một nơi cách xa ngàn cây số trở nên rất gần gũi và
dễ tiếp cận đối với SV chuyên TA ở VN Đây cũng là tiền
đề để giúp các em học thêm và nâng cao năng lực giao tiếp
của nhiều nền văn hoá đa dạng hơn [12], [14] Các GV hi
vọng rằng những kiến thức sát thực như vậy sẽ giúp ích cho
SV khi họ tốt nghiệp và tìm việc, đặc biệt là các công việc
liên quan đến giảng dạy và biên phiên dịch TA
4.1.4 Phù hợp với trình độ của người học
Cuối cùng, TLT như cuốn Massive phù hợp vì các GV
tin rằng ở năm thứ ba và thứ tư, kỹ năng tiếng của SV thường ở trình độ C1 hay cao hơn theo khung tham chiếu Châu Âu Như Guariento và Morley (2001) đã khẳng định rằng việc sử dụng TLT rất phù hợp với người học ở trình
độ trung cấp Chính vì vậy, các GV tin rằng SV sẽ không gặp quá nhiều khó khăn khi tiếp xúc và sử dụng các tài liệu như cuốn tạp chí này
4.2 Một số thách thức trong việc sử dụng TLT để giảng dạy GTLVH ở Việt Nam
Các GV có những chia sẻ tương đối giống nhau về những khó khăn trong việc tiến hành sử dụng TLT trong các lớp học bộ môn GTLVH ở Việt Nam Các khó khăn này liên quan đến sự thiếu hụt nguồn TLT, nhân lực và thiếu tinh thần hợp tác của một số GV đồng nghiệp
4.2.1 Thiếu nguồn TLT
Ba GV chia sẻ rằng VN còn thiếu nguồn TLT phục vụ cho giảng dạy môn GTLVH Thực chất, với một số GV có tinh thần muốn sử dụng TLT trong lớp học, họ thường tìm đến TLT qua hai hình thức Một là một số GV đã chụp ảnh hoặc quay video về hành vi giao tiếp của người khác trong đời sống hàng ngày để sử dụng làm TLT cho lớp học của
họ Tuy nhiên GV2 nhận thấy điều này là hoàn toàn không đúng và không khả thi vì (1) Khi có được sự cho phép của những người tham gia, tài liệu thu được sẽ không còn là TLT nữa, và (2) rất ít người sẽ đồng ý vì tâm lý không muốn hình ảnh của mình được sử dụng để dạy cho số lượng lớn SV Cách thứ hai là các GV tìm đến Internet trong khi không chắc chắn về nguồn gốc hay mục đích học thuật của các tài liệu này Chính vì vậy các GV cho rằng việc sử dụng sai như vậy không phát huy được những lợi ích đích thực
mà TLT mang lại
4.2.2 Thiếu nguồn lực học thuật
Ba GV kết luận rằng trong bối cảnh VN hiện nay tồn tại một thách thức liên quan đến nguồn nhân lực giảng dạy
bộ môn GTLVH Tương tự với nhiều GV khác đang dạy
bộ môn này, ba GV được phỏng vấn chỉ được đào tạo chuyên sâu về giảng dạy TA Vì vậy việc dạy của họ “dựa vào cảm tính nhiều” (GV1, GV2), và họ không nắm rõ làm thế nào để lựa chọn, sử dụng các TLT và thiết kế phương thức kiểm tra đánh giá được phù hợp và hiệu quả nhất
- GV thiếu kinh nghiệm để lựa chọn TLT
GV3 chia sẻ rằng đôi khi nhiều GV tìm đến nhiều nguồn tài liệu có sẵn trên Internet, nhưng chính bản thân các GV này cũng không chắc chắn rằng những tài liệu đó
có phù hợp với mục tiêu môn học GTLVH hay không Ngoài ra, GV1 thực sự băn khoăn không biết nên chọn lựa tài liệu của nền văn hoá nào để dạy tập trung cho SV vì họ không thể dùng một lúc quá nhiều TLT Tương tự, GV2 chia sẻ “Với các TLT dạng băng đĩa chẳng hạn, có nhiều loại TA và ngữ điệu khác nhau nên đôi khi cũng làm SV hoang mang và không biết nên học cách phát âm và từ vựng của loại tiếng Anh Mĩ, Anh Anh hay Anh Úc” Các GV còn
đề cập đến việc lựa chọn TLT dựa trên độ khó của tài liệu
đó, vấn đề này đã được Martinez (2002) bàn trong một nghiên cứu trước đó Martinez nhận xét rằng rất nhiều TLT quá dài hoặc sử dụng văn phong và ngôn ngữ quá phức tạp,
vì vậy chắc chắn các GV sẽ phải suy nghĩ cẩn trọng xem
có nên lựa chọn các tài liệu như vậy không Nói tóm lại, có
Trang 442 Nguyễn Thuỳ Trang
nhiều tiêu chí để xác định nên chọn lựa TLT như thế nào,
nhưng không phải GV nào cũng đồng nhất quan điểm
- GV thiếu kinh nghiệm để áp dụng TLT vào giảng dạy
Ngoài ra, nếu có TLT rồi, thì chúng ta cần nguồn nhân
lực sẵn sàng bắt tay vào áp dụng các TLT đó cho các lớp học
GTLVH, GV1 chia sẻ Tuy nhiên, làm thế nào để thiết kế
khung chương trình phù hợp với trình độ của SV và mục tiêu
môn học trong khi vẫn “tận dụng triệt để” được TLT mà ta
có là những gì GV1 chia sẻ Chia sẻ đồng quan điểm, GV1
nói rằng rất khó để xác định dạy gì bỏ gì khi đã có trong tay
một TLT mà không dễ kiếm được Tuy nhiên vì TLT là
những tài liệu không được tạo ra cho mục đích giảng dạy,
nên cả ba GV đồng tình rằng họ và đồng nghiệp sẽ tốn nhiều
thời gian và công sức để có thể áp dụng các TLT này vào
giảng dạy [10] [12].Chính vì vậy, để làm cho việc sử dụng
TLT hiệu quả đối với việc giảng dạy GTLVH, các GV phải
cố gắng rất nhiều để tận dụng được các TLT họ có trong tay
Ngoài ra, trên thực tế, một số nghiên cứu đã nhận định
phạm trù văn hoá ở nhiều TLT chưa được trình bày và khai
thác khách quan [11], [4] Ví dụ cả ba GV cho rằng trong
tạp chí Massive này có một số chủ đề tương đối nhạy cảm
đối với văn hoá Việt, ví dụ như chủ đề về câu chuyện một
cô bé bị lạm dụng tình dục hay có hình ảnh cơ thể không
mảnh vải che thân Các GV cho rằng các chủ đề này là đặc
trưng của văn hoá NDL, do đó khi đưa các tài liệu như vậy
vào dạy ở VN các GV phải biết tận dụng và sử dụng có
chọn lọc các tài liệu đó để nâng cao kiến thức văn hoá giao
tiếp cho SV thay vì để các tài liệu này có ảnh hưởng lệch
lạc đến việc tri nhận văn hoá giao tiếp của NDL
- GV thiếu kinh nghiệm để thiết kế kiểm tra, đánh giá
Cuối cùng, các GV đề cập đến khó khăn trong việc thiết
kế được phương thức kiểm tra, đánh giá vừa phải phù hợp
với TLT họ sử dụng và mục tiêu giảng dạy của môn học
Họ thấy rằng thiết kế bài kiểm tra dựa trên sách giáo khoa
dễ hơn rất nhiều so với thiết kế câu hỏi dựa trên tạp chí,
phim hay các TLT thực khác
4.2.3 Tinh thần thiếu hợp tác của một số đồng nghiệp
Thách thức cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan
trọng liên quan đến tinh thần thiếu hợp tác của một số GV
cao tuổi hay có thâm niên công tác lâu năm hơn so với người
đề xuất ý tưởng GV1 cho rằng ở một nền văn hoá nặng về
cấp bậc như VN thì điều này không phải chuyện lạ Thực
chất, việc sử dụng TLT đồng nghĩa với việc soạn lại toàn bộ
đề cương môn học, giáo trình học, và bài đọc tham khảo Vì
vậy, GV2 nghĩ rằng vì là người trẻ nhất trong bộ môn, nên
GV này thấy ngại khi phải yêu cầu các GV khác tham gia
vào công cuộc chuyển đổi này GV3 thì chưa tưởng tượng
được việc đồng nghiệp sẽ phản ứng ra sao khi họ được yêu
cầu chuẩn bị lại toàn bộ tư liệu giảng dạy, nhưng đoán được
rằng không phải GV nào cũng muốn dành nhiều thời gian và
công sức vào lựa chọn và áp dụng TLT để dạy môn này
4.3 Một số đề xuất nhằm giải quyết các khó khăn trong
việc sử dụng TLT để dạy GTLVH ở Việt Nam
4.3.1 Tăng cường hợp tác với các GV liên quan
Cả ba GV cho rằng nguồn lực con người là điều quan
trọng nhất Do đó để tạo ra bất kỳ thay đổi nào, hợp tác với
các đồng nghiệp là điều kiện tiên quyết Giống Haworth
(2014) đã nói, quá trình này không chỉ cần sự tham gia của một hay hai cá nhân, mà của nhiều GV giảng dạy ở các lớp khác nhau GV1 đã chia sẻ rằng: “Tôi thực sự cần sự ủng
hộ của các đồng nghiệp của tôi và sếp vì họ sẽ giúp tôi nhìn
ra xem gợi ý sử dụng TLT của tôi có khả thi trong bối cảnh của chúng tôi không” Cũng tương tự, GV2 và GV3 đề cao
ý kiến của các đồng nghiệp về việc sử dụng TLT giảng dạy môn GTLVH, và cho rằng họ làm việc theo nhóm chứ không phải cá nhân, nên đây là một trong những giải pháp cần ưu tiên thực hiện trước
4.3.2 Trình đề xuất mua TLT thông qua việc biên soạn giáo án mẫu sử dụng thử TLT
Việc đề nghị thành lập quỹ để mua các TLT này đồng nghĩa với việc các GV cần chứng minh cho lãnh đạo cấp trên thấy được lợi ích của việc sử dụng các TLT này trong việc giảng dạy môn GTLVH Vậy, để có được sự phê duyệt
đó, các GV chia sẻ rằng vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất
là họ sẽ chuẩn bị một đến hai bài giảng mẫu để minh hoạ cho việc họ sẽ sử dụng TLT để dạy một khía cạnh cụ thể của môn học như thế nào Trước mắt, họ có thể bắt đầu với việc xin phép được sử dụng thử một cuốn tạp chí hay một đoạn quảng cáo và soạn bài giảng mẫu sử dụng cuốn tạp chí hay đoạn quảng cáo đó
4.3.3 Thực hiện đào tạo cơ bản cho GV về chọn lựa và áp dụng TLT vào bài giảng môn GTLVH
Trong khi chờ phê duyệt về chủ trương và tài chính để mua TLT từ cấp trên, các GV gợi ý mời chuyên gia để đào tạo về việc lựa chọn TLT cho phù hợp với mục tiêu môn học
và nhu cầu cũng như trình độ của SV Với kinh nghiệm giảng dạy khác nhau, các GV có thể có các tiêu chí ưu tiên khác nhau để cân nhắc khi chọn lựa TLT Ví dụ, GV2 cho rằng có
ba câu hỏi mỗi GV cần cân nhắckhi chọn TLT đó là: (1) TLT này được sản xuất ở đâu và có cập nhật không? (2) TLT này hướng đến đối tượng khán giả nào? và (3) TLT này có trình bày về văn hoá từ góc độ khách quan hay không? Trong khi
đó, GV3 thì nghĩ rằng tiêu chí đầu tiên phải là sự phù hợp của “loại tiếng Anh” với đối tượng người học, tương tự với quan điểm Heitler (2005) trong một nghiên cứu trước đây Như vậy, với một khoá tập huấn ngắn nhưng bài bản với chuyên gia, họ sẽ có được cái nhìn hệ thống hơn về vấn đề này Từ đó giúp các GV nhìn nhận được rõ hơn họ cần chọn lựa TLT như thế nào để sử dụng hiệu quả nhất cho lớp học môn GTLVH của mình trong bối cảnh Việt Nam
Ngoài ra, cả ba GV cho rằng họ cần tránh việc để TLT làm thay đổi mục tiêu và kế hoạch môn học GV3 nói rằng
GV sẽ phải kiểm soát TLT thay vì để TLT điều khiển việc dạy GTLVH Guariento và Morley (2001) cũng đã khẳng định điều cần thiết của việc sử dụng TLT là biến chúng trở nên phù hợp với trình độ và nhu cầu của SV Các GV cũng đồng thời gợi ý làm việc với bộ phận kiểm tra đánh giá để
họ được trang bị kiến thức hệ thống và từ đó thiết kế được các câu hỏi và bài tập phù hợp với mục tiêu môn học dựa trên việc sử dụng các TLT
5 K ết luận
Theo nhìn nhận của ba GV, sử dụng TLT mang lại nhiều lợi ích cho lớp học GTLVH như giúp nâng cao hứng thú học và chất lượng giảng dạy bộ môn nhờ vào nội dung cập nhật và sự phong phú của các hành vi giao tiếp ngôn từ
Trang 5ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(93).2015 43
và phi ngôn từ mà TLT cung cấp Họ cũng xác định một số
thách thức của việc áp dụng chiến lược này trong bối cảnh
Việt Nam liên quan đến thiếu hụt tài liệu và nhân lực để
chọn lựa, áp dụng, thiết kế phương thức đánh giá khi sử
dụng TLT, cũng như tinh thần thiếu hợp tác của một bộ
phận đồng nghiệp Các GV vì thế gợi ý rằng cần tăng cường
hợp tác với đồng nghiệp, cán bộ quản lý và chuyên gia để
việc sử dụng TLT phát huy được hiệu quả tốt nhất Chung
quy lại, như McKay (2000) đã phát biểu, trong nền giáo
dục hiện đại, nhiệm vụ của GV không chỉ giới hạn trong
việc biết cách dạy tốt mà mỗi người giáo viên cần nhận ra
tầm quan trọng của việc dạy văn hóa cho SV, đặc biệt là
SV chuyên ngành TA, biết tận dụng tốt các nguồn tài liệu
có được và luôn tìm tòi và cập nhật các kỹ thuật dạy học
tích cực để đưa việc giảng dạy TA ở VN hội nhập vào bối
cảnh giảng dạy TA toàn cầu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Gebhard, J.G (1996), Teaching English as a foreign language: A
teacher self-development and methodology guide, Ann Arbor: The
University of Michigan Press
[2] Heitler, D (2005), Teaching with authentic materials, London:
Pearson Education
[3] Mishan, F (2005), Designing Authenticity into Language Learning
Materials, Bristol: Intellect
[4] Richards, J.C (2001), Curriculum development in language
teaching, Cambridge: Cambridge University Press
[5] Sanderson, P (1999), Using newspapers in the classroom,
Cambridge: Cambridge University Press
[6] Gilmore, A (2007), Authentic materials and authenticity in foreign
language learning, Language teaching, 40, 97–118
[7] Guariento, W & Morley, J (2001), Text and task authenticity in the
EFL classroom, ELT Journal, 55(4), 347-353
[8] Haworth, P (2014), 275769, Teaching content to English language
learners-Study Guide, PalmerstonNorth, New Zealand: Massey University
[9] Kelly, C., Kelly, L., Offner, M., & Vorland, B (2002), Effective
ways to use authentic materials with ESL/EFL students, The Internet
TESL Journal, 8(11), 1-5
[10] Martinez, A (2002) Authentic materials: An overview Karen's Linguistic Issues Retrieved from
http://www3.telus.net/linguisticsissues/authenticmaterials.html
[11] McKay, S.L (2000), Teaching English as an international language:
Implications for cultural materials in the classroom, TESOL Journal,
9(4), 7-11
[12] Mudra, H (2014), The utilization of authentic materials in Indonesian EFL contexts: An exploratory study on learners’ perceptions,
International Journal of English language & translation studies, 2(2),
197-210 Retrieved from http://www.eltsjournal.org
[13] Oura, G.K (2001), Authentic task-based materials: Bringing the real world
into the classroom, Sophia Junior College faculty bulletin, 21, 65-84 [14] Tomlinson, B (2012), Materials development for language learning
and teaching, Language teaching, 45, 143-179
(BBT nhận bài: 25/05/2015, phản biện xong: 21/07/2015)
Phụ lục 1 GIÁO ÁN MẪU
Chuẩn mực văn hoá Niu Di Lân thông qua sự lựa chọn chủ đề và ngôn từ của tạp chí Massive (Số 2/2014)
Hoạt động này sẽ được thực hiện trong buổi đầu tiên của kỳ học môn GTLVH cho sinh viên (SV) năm 3 hay năm 4
SV sẽ làm việc nhóm trong 40 phút: 20 phút làm việc với cuốn tạp chí Massive và thảo luận ý tưởng, và 20 phút làm việc theo nhóm về chủ đề "Bạn sẽ viết gì và viết theo văn phong nào cho cuốn tạp chí của trường chúng ta?"
1 Nội dung tập trung ✓ Biểu hiện của các chuẩn mực văn hóa Niu Di Lân (NDL) thông qua sự lựa chọn chủ đề và ngôn ngữ của tạp chí Massive
2 Mục tiêu học tập
✓ SV nhận thức được các giá trị văn hóa NDL thông qua việc chọn lựa các chủ
đề và phong cách trình bày của tạp chí
✓ SV lựa chọn được chủ đề và văn phong cho cuốn tạp chí của trường mình phù hợp với chuẩn mực văn hoá Việt Nam
3 Nội dung chính
✓ Chuẩn mực văn hoá
✓ Chủ đề báo chí
✓ Ngôn ngữ và văn phong báo chí
4 Kiến thức ngôn từ chính ✓ ✓ Ngôn ngữ viết: Trang trọng hay thân mật Ngôn ngữ thảo luận :Chia sẻ quan điểm, bảo vệ quan điểm, kết luận quan
điểm
6 Kiến thức nền cần thiết ✓ SV đã hoàn tất 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết ở mức độ trung cấp (SV năm 3) hoặc trên trung cấp (SV năm 4)
7 Hoạt động nối tiếp ✓ SV làm việc theo nhóm và viết dàn ý cho cuốn tạp chí của trường mình