Luận văn : Giải pháp nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta hiện nay
Trang 1Lời mở đầu
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, Đảng ta đã xác địnhphát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa Quan điểm
đó đã đợc thể hiện rất rõ qua nhiều kỳ đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam Tại
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục "khẳng định" thực hiện nhất quánchính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa là một nềnkinh tế vận hành theo định hớng kinh tế nhà nớc thực hiện tốt vai trò chủ đạo vàcùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng định hớng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế nhà nớc và thành phần kinh tế nhà nớc là hai phạm trù khác nhau.Khi nói tới kinh tế nhà nớc là nối đến những của cải tài sản thuộc sở hữu nhà n-
ớc, còn khi nói tới thành phần kinh tế nhà nớc là muốn nói đến quan hệ sản xuấttiêu biểu cho chế độ đơng thời Trong điều kiện hiện nay thì đó là hệ thốngdoanh nghiệp nhà nớc Thành phần kinh tế nhà nớc, thực chất là hệ thống cácdoanh nghiệp nhà nớc với quy mô, cấu trúc sức mạnh riêng
Trong hơn mời năm qua, Đảng và nhà nớc ta đã thực hiện nhiều chủ trơng,biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nớc.Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và nền kinh tế, còn nhiềukhó khăn gay gắt, doanh nghiệp Nhà nớc đã vợt qua nhiều thử thách, đứng vững,không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp
đổi mới và phát triển đất nớc, đa đất nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, chuyểnsang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hớng XHCN
Nhng bên cạnh đó, DNNN cũng còn những mặt hạn chế yếu kém, có mặtrất nghiêm trọng nh: quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý cha tập trungvào những ngành, lĩnh vực then chốt, nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc hậu,quản lý còn yếu kém, kết quả sản xuất kinh doanh cha tơng xứng với các nguồnlực: tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động cũng nh cha tơng xứng với sự hỗ trợcủa nhà nớc
Những hạn chế yếu kém của doanh nghiệp Nhà nớc có những nguyênnhân khách quan Nhng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan; cha có sựthống nhất trong nhận thức về vai trò vị trí của kinh tế nhà nớc và DNNN , về cơchế chính sách còn cha đồng bộ, còn nhiều điểm cha phù hợp với kinh tế thị tr-ờng định hớng xã hội chủ nghĩa Công tác cải cách hành chính chậm, công tác
Trang 2quản lý, công tác đào tạo cán bộ và đội ngũ ngời lao động trong các DNNN vẫncòn nhiều bất cập, lãng phí
Từ thực tại trên đòi hỏi không ngừng đổi mới, nâng cao vai trò chủ đạocủa thành phần kinh tế nhà nớc - cụ thể là các doanh nghiệp nhà nớc trong nềnkinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
Trang 3Trong tác phẩm " Bàn về thuế lơng thực", Lê Nin đã viết " Danh từ quá độ
có nghĩa là gì ? vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiệnnay có những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa t bản vàchủ nghĩa xã hội không ? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có"
Luận điểm trên của Lê Nin cho thấy rằng: trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội tất yếu phải tồn tại nhiều thành phần kinh tế
*Cơ sở lý luận
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế hay của cơ cấu kinh tế nhiều thànhphần trong thời kỳ quá độ ở nớc ta, trớc hết bắt nguồn từ quy luật quan hệ sảnxuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất Sảnxuất muốn phát triển thì nhất định phải có sự phù hợp đó Nếu nh tồn tại lực lợngsản xuất khác nhau về t liệu sản xuất và do đó tồn tại nhiều quan hệ sản xuấtkhác nhau về t liệu sản xuất và do đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau.Trong đó luôn có những quan hệ sở hữu, thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạocủa nền kinh tế thống nhất ở nớc ta khi bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩaxã hội, điểm xuất phát về lực lợng sản xuất, phân công lao động xã hội cònthấp và không đều giữa các xí nghiệp, giữa các ngành, vùng, trình độ lao động,năng suất cũng khác nhau Do đó tất yếu tồn tại nhiều cách thức kết hợp lực lợngsản xuất với sức lao động, nhng quy mô, trình độ sản xuất khác nhau, nhiều quan
hệ sản xuất khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau
Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn đợc bắt nguồn từ yêucầu của các quy luật kinh tế của sản xuất và trao đổi hàng hoá Để thúc đẩy sảnxuất hàng hoá phát triển, trớc hết phải khôi phục cơ sở tồn tại của nó Đó là cáchình thức sở hữu khác nhau về TLSX Điều đó có nghĩa là phải khuyến khích,duy trì, phát triển các thành phần kinh tế
*Cơ sở thực tiễn
Trang 4Khi tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nớc ta cóthêm những thành phần kinh tế mới nh kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.Các thành phần kinh tế cũ và mới tồn tại đan xen nhau, tạo nên đặc điểm của nềnkinh tế trong thời kỳ quá độ ở nớc ta Thực tiễn lịch sử cho thấy, hầu nh khôngmột nớc nào có một nền kinh tế thuần nhất, tức chỉ tồn tại duy nhất một kiểuquan hệ sản xuất về t liệu sản xuất và do đó có một thành phần kinh tế.
ở nớc ta trong thời gian qua việc khuyến khích phát triển các thành phầnkinh tế đã đem lại những kết quả đáng kể nó góp phần khai thác đợc mọi tiềmnăng của từng thành phần kinh tế Đó là những tiềm năng về vốn, kỹ thuật, sứclao động, kinh nghiệm tổ chức, quản lý Ngoài ra nó còn góp phần tận dụng đ-
ợc sức mạnh kinh tế quốc tế, khắc phục tình trạng biệt lập của nền kinh tế nớc tavới nền kinh tế thế giới bằng cách thông qua đầu t nớc ta với nền kinh tế thế giớibằng cách thông qua đầu t và hợp tác quốc tế Đó là một trong những yếu tốquan trọng để nớc ta có thể tiếp cận đợc kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của thếgiới
Tóm lại, trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nớc ta tồn tại nhiều thành phần
là tất yếu khách quan xét cả mặt lý luận và thực tiễn chính vì vậy Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hớng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở củng cố và giữ vững vai trò chủ đạo củathành phần kinh tế nhà nớc với sự điều tiết và quản lý của Nhà nớc là đờng lốichiến lợc lâu dài ở nớc ta
Đại hội Đảng lần IX tháng 4 - 2001, đã khẳng định thêm nữa t tởng trên.Hiện nay nền kinh tế nớc ta gồm 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nớc, kinh tếtập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế ta bản t nhân, kinh tế t bản nhà nớc, kinh
tế có vốn đầu t nớc ngoài Các thành phần kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ qua lạilẫn nhau, trong đó kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
I.2 Khái niệm về thành phần kinh tế Nhà nớc
I.2.1 Kinh tế Nhà nớc - Thành phần kinh tế Nhà nớc
Kinh tế Nhà nớc là thuật ngữ bao hàm nội dung khá rộng, đợc xác địnhtheo ý nghĩa khác nhau tuỳ góc độ nghiên cứu theo cách hiểu chung nhất thìkinh tế Nhà nớc là phần tài sản do nhà nớc làm chủ sở hữu Hay nói cách khác,kinh tế Nhà nớc là bộ phận của nền kinh tế quốc dân thuộc sở hữu Nhà nớc
Với cách hiểu đó, ở nhiều nớc cũng nh ở Việt Nam ta bao gồm: Tàinguyên khoáng sản và phần đất đai thuộc sở hữu nhà nớc; Ngân hàng nhà nớc,
Trang 5kho bạc nhà nớc, ngân sách nhà nớc, Tài chính nhà nớc, hệ thống dự trữ quốc giabảo hiểm quốc gia Các dịch vụ công cộng do Nhà nớc đảm nhiệm Các doanhnghiệp Nhà nớc Ngày nay cũng có quan điểm cho rằng kinh tế nhà nớc còn baogồm cả nguồn nhân lực, hệ thống các chính sách, công cụ, quản lý nhà nớc.
Kinh tế nhà nớc hình thành và phát triển từ khi Nhà nớc xuất hiện Trongquá trình phát triển lịch sử, khu vực kinh tế này ngày càng đợc củng cố và pháttriển nhằm thực hiện chức năng của Nhà nớc trong nền kinh tế quốc dân Tuynhiên quy mô chức năng vai trò của kinh tế nhà nớc có sự khác nhau ở từng quốcgia và từng thời điểm nhất định
Kinh tế nhà nớc và thành phần kinh tế nhà nớc là hai phạm trù khác nhau.Khi nói tới kinh tế nhà nớc là nói tới những của cải, tài sản thuộc sở hữu Nhà n-ớc; còn nói tới thành phần kinh tế nhà nớc là muốn nói tới quan hệ sản xuất tiêubiểu cho chế độ Lê Nin đã viết: " Vô luận thế nào chúng ta cũng không đợc quêncái mà chúng ta thờng nhìn thấy: quan hệ xã hội chủ nghĩa của công nhân trongcác công xởng quốc doanh, nơi mà công nhân cố gắng phân phối đúng đắn cácsản phẩm công nghiệp cho nông dân,chuyển vận các thứ ấy đến tận nơi bằng cácphơng tiện giao thông Đó chính là chủ nghĩa xã hội"(1) từ đó, thành phần kinh tếnhà nớc chỉ bao hàm các nguồn lực do Nhà nớc sở hữu, đa vào và biến thành tàisản đợc dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế có tcách pháp nhân Cũng giống nh các thành phần kinh tế khác chúng chỉ phản ánhquan hệ sản xuất, lực lợng sản xuất ở các chủ thể sản xuất chứ không phải toàn
bộ nguồn lực của chúng Nh vậy, thành phần kinh tế nhà nớc về thực chất làkhông phải toàn bộ nguồn nhân lực của chúng Nh vậy, thành phần kinh tế nhànớc về thực chất là phản ánh quy mô, cấu trúc sức mạnh của hệ thống doanhnghiệp nhà nớc
Kinh tế nhà nớc rộng và mạnh hơn bộ phận doanh nghiệp nhà nớc Phânbiệt đợc hai phạm trù này và nhận thức đầy đủ hơn về vai trò kinh tế nhà nớc làmột bớc phát triển về nhận thức thực tiễn nền kinh tế nớc ta trong quá trình đổimới
I.2.2 Quan niệm mới về doanh nghiệp nhà n ớc trong nền kinh tế thị tr
ờng theo định h ớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nh ta đã biết, thành phần kinh tế nhà nớc thực chất là phản ánh quy mô,cấu trúc, sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc đã đạt đợc những kết quảkhả quan Tuy nhiên cho đến nay, trong sự phát triển phong phú và đa dạng của
Trang 6kinh tế thị trờng, xung quanh khái niệm DNNN, xác định phạm vi DNNN vẫncòn những ý kiến khác nhau Hiểu đợc quan niệm mới về DNNN sẽ góp phầnvào nhận thức thực tiễn, đa ra những giải pháp để ngày càng nâng cao vai trò chủ
đạo của hệ thống DNNN
Tại điều 1, luận Doanh nghiệp Nhà nớc (ký ngày - 20 - 4 - 1995) quy
định: "DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ chứcquản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoật động công ích nhằm thực hiện các mụctiêu kinh tế - xã hội do Nhà nớc giao DNNN có t cách pháp nhân, có quyền vànghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm và toàn bộ hoạt động kinh doanh trongphạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý " Tuy nhiên có đến nay khái niệmDNNN do luật doanh nghiệp Nhà nớc hiện hành quy định đã tỏ ra không phùhợp với nền kinh tế nớc ta đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trờng
và từng bớc hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Sự không phù hợp đóthể hiện ở những điểm sau
Một trong những khuyết tật của DNNN là không xác định chủ sở hữu đíchthực Dù luật DNNN đã xác định chủ sở hữu DNNN là thủ trởng các tổ, cá nhân
đợc Chính phủ uỷ quyền, nhng trên thực tế không có một cơ chế nào cho phépxác định chủ sở hữu đích thực của các DNNN Thực tế đó dẫn đến tình trạngDNNN Hiện nay dới thủ tớng Chính phủ có nhiều chủ, ai cũng có quyền điềuhành, nhng chẳng ai có quyền lực để giải quyết những khó khăn, vớng mắc, trắcchở của doanh nghiệp Hậu quả là doanh nghiệp kém năng động, khả năng cạnhtranh yếu
Luật DNNN quy định DNNN làm tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn,thành lập và tổ chức quản lý Điều này mặc nhiên dẫn tới đợc hiểu rằng DNNN
là tổ chức đơn (sở hữu Nhà nớc) Nó cũng đồng nghĩa với việc Nhà nớc phải đầu
t 100% để thành lập DNNN Đây thực sự là ngánh nặng cho ngân sách Nhà nớc
* Quan điểm mới về DNNN trong kinh tế thị trờng
Tiêu trí để xác định DNNN không chỉ dựa vào mức độ khống chế chi phốichủ Nhà nớc đối với doanh nghiệp Vì vậy DNNN không chỉ bao gồm loại doanhnghiệp 100% vốn Nhà nớc mà còn bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nớc chiphối, quản lý và kiểm soát Quan niệm nh thế là vừa phù hợp với thông lệ quốc
tế vừa đáp ứng đợc xu thế đẩy mạnh cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu hiện nay.Mặt khác, lâu dài DNNN có 100% vốn Nhà nớc sẽ thu hẹp dần Những DNNN
Trang 7sẽ tham gia liên kết với các thành phần kinh tế khác sẽ tăng lên và trở thành phổbiến Đây là xu hớng khách quan, quy luật phát triển của kinh tế thị trờng.
Vì vậy khái niệm DNNN phải đợc hiểu nh sau: DNNN là tổ chức kinh tế
do Nhà nớc đầu t 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối hoạt động kinh doanhhoặc hoạt động công ích, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mìnhtrong số tài sản của doanh nghiệp
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế nớc ta và xu hớng pháttriển của kinh tế thế giới, về lâu dài, khái niệm này cũng cần tiếp tục nghiên cứuhoàn thiện
Trang 8I.3 Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà n ớc và tính tất yếu khách quan nâng cao vai trò chủ đạo đó trong nền kinh tế thị tr ờng.
I3.1 Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà n ớc
Qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, thành phần kinh tế Nhà nớc(DNNN) đã chi phối đợc các ngành lĩnh vực then chốt là sản phẩm thiết yếu củanền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nớc thực hiện đợc vai trò chủ đạo,
ổn định và phát triển kinh tế -xã hội tăng thế và lực của đất nớc Kinh tế Nhà nớc
mà chủ yếu là các DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thể hiệnchủ yếu trên các mặt: đi đầu và nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả, nhờ
đó mà thúc đẩy tăng trởng nhanh và bền vững của nền kinh tế quốc dân Bằngnhiều hình thức hỗ trợ các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển theo
định hớng XHCN tăng cờng sức mạnh vật chất tinh thần làm chỗ dựa để Nhà nớcthực hiện có hiệu lực chức năng điều tiết, quản lỹ vĩ mô nền kinh tế theo định h-ớng XHCN, cùng với kinh tế tập thể (mà lòng cốt là các hợp tác xã) dẫn trởthành nền tảng của nền kinh tế quốc dân và chế độ xã hội mới
Tuy nhiên hiện nay, DNNN vẫn cha phát huy đầy đủ tính u việt và sự chỉ
đạo của nó đối với nền kinh tế quốc dân Cùng với việc đổi mới các nền kinh tếngoài quốc doanh, việc cải tạo đổi mới DNNN phải hết sức coi trọng đầu t và th-ờng xuyên tổng kết để rút ra những bài học kinh nghiệm, bổ sung những chi thức
"cập nhất" nhằm thực hiện cho kỳ đợc vai trò chủ đạo và mục tiêu định hớngXHCN của thành phần kinh tế này
I.3.2 Tính tất yếu khách quan nâng cao vai trò chủ đạo thành phần kinh tế Nhà n ớc (DNNN) trong nền kinh tế thị tr ờng
Đại hội Đảng lần IX tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách nhiều thànhphần vận động theo cơ chế thị trờng có định hớng xã hội Mô hình kinh tế thịtrờng khá u việt về nhiều mặt đặc biệt trong việc giải phóng sức sản xuất xã hội,phát huy tiền năng sức sáng tạo của các cá nhân, không ngừng nghiên cứu ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng năng suất lao động, sản xuất hàng hoá vớikhối lợng lớn, chất lợng ngày càng tốt, giá thành ngày càng hạ Tuy nhiên bêncạnh những mặt mạnh những u thế vốn có, nền kinh tế thị trờng bộc lộ nhữngkhuyết tật cố hữu nh tính tự phát, mù quáng vì lợi nhuận, phân hoá giàu nghèo,tàn phá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, huỷ hoại môi trờng Làm phát sinh các
tệ nạn xã hội Chính sự phát triển của nền kinh tế thị trờng là do các tổ chức cá
Trang 9nhân hành động về lợi ích riêng của mình dẫn đến việc đi không đúng hớng của
kế hoạch Nhà nớc, mục tiêu phát triển kinh tế vĩ mô của nền kinh tế
Trớc tình hình đó, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có thể vì lợinhuận, mục đích riêng của thành phần kinh tế mình mà phát triển lệch lạc ảnh h-ởng tới kinh tế - xã hội của đất nớc ta, tới con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội mànhân dân ta đã lựa chọn Do đó vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nớc
và vấn đề này càng nâng cao vai trò chủ đạo của nó đang là một vấn để cấp báchtất yếu trong thời kỳ hiện nay
Mặt khác để thành phần kinh tế Nhà nớc (DNNN) đã phát huy vai trò chủ
đạo trong hơn 15 năm đổi mới Nhà nớc đã thực hiện đổi mới sắp xếp lại cácdoanh nghiệp để tăng cờng sức mạnh nội lực của nó Đó cũng tất yếu kháchquan
Hiện nay, DNNN nớc ta đang đứng trớc thực trạng yếu kém về nhiều mặt:
số doanh nghiệp Nhà nớc thực sự có hiện quả chỉ có 40%, số DNNN bị lỗ liêntục chiếm khoảng 20% còn 40% DNNN không có hiệu quả khi lỗ khi lãi; số nợDNNN phải trả quá lớn thờng xuyên vợt mức vốn hiện có của doanh nghiệp(116% - 1997; 113% - 1998; 130% - 1999); hệ thống DNNN vốn qua manh múnchồng chéo quy mô nhỏ: số doanh nghiệp vốn dới 5 tỷ chiếm 65,45%, trình độcông nghệ lao động thấp Từ thực trạng trên đây để tiếp tục tồn tại và phát triển
có hiệu quả, nâng cao vai trò chủ đạo, DNNN không có con đờng nào khác làphải đổi mới một cách triệt để và toàn diện Tuy nhiên, đổi mới DNNN không
đơn thuần tích nhật doanh nghiệp hoặc tăng giảm số lợng các doanh nghiệp mà
là đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nớc kết hợp với
điều chỉnh cơ cấu hợp với trong quan hệ ngành, vùng, lãnh thổ và các thành phầnkinh tế Vì vậy đối với DNNN phải nhằm tăng cờng hệ thống doanh nghiệp Nhànớc làm cho DNNN thực sự lớn mạnh về quy mô, hiệu quả và phát huy đợc vaitrò nòng cốt góp phần dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo
định hớng XHCN là trách nhiệm lịch sử của DNNN ở nớc ta
Trang 10II Thực trạng thành phần kinh tế nhà nớc và quá trình nâng caovai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nớc ở nớc ta hiện nay
I.1 Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhà n ớc (thành phần kinh tế Nhà n ớc trong nền kinh tế thị tr ờng định h ớng xã hội chủ nghĩa
Trong hơn 10 năm qua, Đảng và nhà nớc ta đã thực hiện nhiều chủ trơng,biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc.Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khókhăn gay gắt, DNNN đã vợt nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng pháttriển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và pháttriển đất nớc, đa nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo đinh hớng XHCN
Mặc dầu đạt đợc những kết quả nhất định nhng hiện nay DNNN đang
đứng trức thực trạng yếu kém về nhiều mặt, sức cạnh tranh còn quá yếu kém,quy mô quá nhỏ, thiếu vốn nghiêm trọng, lãi suất kinh doanh bình quân thấp hơnlãi vay ngân hàng, hiệu quả sút kém
* Hiệu quả hoạt động kinh doanh
Những năm 1991 - 1995, tốc độ tăng trởng bình quân của DNNN là11,7% gấp 1,5 lần tốc độ tăng trởng bình quân của nền kinh tế Năm 1997 tốc độtăng trởng của DNNN là 9,67% (nền kinh tế: 8,15%) Tuy nhiên đến năm 1998 tìngợc lại thấp hơn tốc độ tăng trởng của DNNN là 5,48% trong đó tốc độ tăng tr-ởng nền kinh tế nói chung là 5,80%
Mức đóng góp cho ngân sách còn thấp so với nguồn lực bỏ ra, mức nộpcủa từng doanh nghiệp chênh lệch lớn, thậm chí có nhiều DNNN mức nộp ngânsách thấp nhiều so với mức đợc ngân sách hỗ trợ Ta lấy DNNN của Hà Nội làm
ví dụ Năm 1997 so với năm 1995 doanh thu của DNNN tăng 12,56% nhng tổnglãi thực hiện bằng 78% của năm 1995, tổng nộp ngân sách bằng 92,76% củanăm 1995, trong 3 năm (1995 - 1997) mức vốn ngân sách cấp cho doanh nghiệp
địa phơng tăng 43,64% nhng mức đóng góp của DNNN có lỗ kỹ kế đến01/01/2000 chiếm 30,8% số doanh nghiệp (5.079 tỷ đồng) Ngoài ra, nếu hạchtoán đủ chi phí nh chi phí khấu hao tài sản cố định, nợ khó đòi, vật t thành phần
ứ đọng, kém, mất phẩm chất thì số lỗ thật còn cao hơn Số các doanh nghiệpkinh doanh thua lỗ tập trung ở các doanh nghiệp địa phơng nh: Nan Định 46%,Thái Bình 35%, Hà Nam 33%, Hải Phòng 21%
* Cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh
Trang 11Hiện tại, cơ cấu bộ máy tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanhnghiệp cũng nh toàn bộ hệ thống DNNN còn rất lỏng lẻo Trong từng doanhnghiệp thì bộ máy cồng kềnh, vận hành nặng nề kém hiệu quả Bất hợp lý trongkhâu tổ chức dựa trên phí tổn sản xuất cao Một số doanh nghiệp có khả năng tổchức lại tốt hơn nhng lại vấp phải vấn đề giải quyết lao động d Bản thân giữacác doanh nghiệp thành viên trong một tổng công ty cũng không đủ sự kết dínhcần thiết Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ nhcũng trong tình trạng này.
Nhiều doanh nghiệp Nhà nớc cùng hoạt động trong tình trang chồng chéo
về ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý và trên cùng địa bàn tạo ra sự cạnh tranhthếu lành mạnh trong chính khu vực DNNN với nhau hầu hết tỉnh nào cũng có 3-
5 công ty t vấn khảo sát thiết kế chuyên ngành xây dựng công nghiệp thuỷ lợi,giao thông, lâm nghiệp
* Vốn kinh doanh
Tuy chiếm tới hơn 80% tổng nguồn vốn của nền kinh tế song sẽ là khậpkhiễng nếu đem quy mô lớn bình quân của DNNN so với mức vốn của mộtdoanh nghiệp quốc tế có khả năng cạnh tranh trung bình Nếu so sánh quy môcủa DNNN và doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì thấy DNNN có lợi thế, songphép tính này sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi coi vốn nh một chỉ tiêu tiêu đề cho khảnăng cạnh tranh trong hội nhập kinh tế thế giới
Tính đến cuối 1999, tổng số DNNN là 5.450 với 1.733 doanh nghiệptrung ơng, 3717 doanh nghiệp địa phơng, trong đó có gần 100 tổng công ty (17tổng công ty 91và gần 80 tổng công ty 90) tổng số vốn Nhà nớc tại doanh nghiệpmới là 112.000 tỷ đồng Năm 1998 vẫn còn 72,5% số DNNN có vốn dới 5 tỷ
đồng, trong đó có gần 26% số DNNN có số vốn trên 10 tỷ đồng, qua đó đủ thấy
Trang 12phải thu chiếm tới 2.932 tỷ đồng, chủ yếu là nợ khối lợng các dự án đã hoànthành nhng chịu đợc các chủ đầu t thanh toán Tổng nợ phải trả là 12.155 tỷ
đồng (gần gấp đôi vốn chủ sở hữu) Xin đơn cử vài trờng hợp cụ thể: Tổng công
ty Hàng Hải nợ đến hạ và quá hạn là 94,3 tỷ đồng, công ty Traximexco 19,4 tỷ
91 có tới 14 tổng công ty (82%) có mức vốn nhà nớc dới mức vốn bình quân,trong đó có 6 tổng công ty (35%) có mức vốn dới 100 tỷ đồng Đối với tổngcông ty 90 tình hình vốn còn đáng buồn hơn Hơn 20%số tổng công ty 90 vốnnhà nớc chỉ có dới 100 tỷ đồng, trong đó có 13 tổng công ty, vốn ngân sách cấpcho chỉ đợc dới 40 tỷ đồng
* Trình độ máy móc thiết bị, công nghệ
Nhìn một cách khái quát, tài sản cố định của DNNN hiện nay quá lạc hậu
về kỹ thuật, manh mún và không đồng bộ Theo báo cáo của Bộ khoa học côngnghệ và môi trờng thì công nghệ nớc ta lạc hậu so với thế giới từ 10 - 20 năm.Mức độ hao mòn hữu hình từ 30 - 50% hiệu suất sử dụng thấp chỉ 25 - 30%, kếtquả yếu kéo theo là mức tiêu hao nhiên liệu cho đơn vị sản phẩm rất cao, ngợclại, chất lợng sản phẩm thấp, năng suất lao động không ổn định, mẫu mã đơn
định tiền năng dồi dào về nguồn nhân lực thành hiện thực
Trang 13Tình hình DNNN đang đứng trớc thực trạng yếu kém về nhiều mặt, hiệuquả sút kém là do những nguyên nhân sau:
Một là, vai trò tích cực của động lực đổi mới theo nguyên tố dỡ bỏ cản trở,xoá bao cấp, khuyến khích tự hạch toán lỗ lãi đã cạn dần trong sự tiếp sức cho
động lực mới ở DNNN vẫn cha hình thành đồng bộ, cơ chế quảnlý tài chính cònquá cứng nhắc, sửa đổi chấp vá một cách bị động, thiếu quan điểm hệ thống.Quyền và trách nhiệm đại diện sở hữu cha đợc xác lập cụ thể Chính sách đối vớikết quả tự tích lỹ của DNNN quá bất hợp lý đã hạn chế khả năng tự mở rộngquy mô phát triển của DNNN vai trò của giám đốc có ý nghĩa quyết định sựthành bại của doanh nghiệp nhng cơ chế tuyển chọn chậm đợc đổi mới Nếukhông vi phạm kỷ luật thì dù doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả vẫn phảichờ khi giám đốc về hu mới thay thế ngời khác đợc Mặt khác cơ chế hớng dẫn,giám sát, kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan nhà nớc đối với DNNN vẫn cònnhiều mặt cha hợp lý Hoặc là buông lỏng dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, làm thấtthoát tài sản Nhà nớc Hoặc là can thiệp tiếp vào hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp gây ra quan liêu và trách nhiệm không rõ ràng
Hai là: Nhà nớc cần tập trung vốn cho yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹthuật và xã hội, còn DNNN cần rất nhiều vốn cho yêu cầu đổi mới công nghệ và
mở rộng sản xuất nhng các kênh huy động vốn đều trắc trở
- Nguồn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc còn quá hạn hẹp Nguồn tíndụng thơng mại qua nhiều năm chỉ cho vay ngắn hạn gần đây mới bắt đầu mởrộng tỷ lệ tín dụng hạn, cha có khả năng cho vay dài hạn Do đó không ítDNNN đứng trớc tình thế có hạn chế bớt rủi ro nhng không đổi mới triệt để côngnghệ quá lạc hậu và bị đối sức trong cạnh tranh, hoặc liều lĩnh vay ngắn hạn để
đầu t dài hạn dẫn đến nguy cơ vỡ nợ
- Phơng thức liên doanh tuy giải quyết thêm đợc việc làm nhng do thiếuvốn và thiếu kinh nghiệm trong quá trình hình thành dự án và tham gia quản lýnên trong thực tế rất ít DNNN chia đợc lợi nhuận từ nguồn này sang nguồn khác
bổ sung quỹ phát triển sản xuất
- Cổ phần hoá là phơng thức huy động vốn xã hội vì tạo động lực choDNNN hoạt động có hiệu quả nhng hiểu khái quá chậm
II.2 Kết quả và những mặt hạn chế của quá trình nâng cao vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà n ớc (thành phần kinh tế nhà n ớc) sau hơn m
ời năm đổi mới.
Trang 14Từ đầu thập kỷ 90, Nhà nớc đã có nhiều chủ trơng quan trọng đẩy mạnhcông cuộc đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức - sắp xếp lại hệ thống DNNN nhằmthích ứng với thời kỳ mới mà nội dung cốt lõi là triển khai chiến lợc công nghiệphoá, hiện đại hoá Việc đổi mới, tổ chức sắp xếp lại DNNN nhằm khơi dậy nộilực của các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh và khả năng định h-ớng của thành phần kinh tế khác cùng phát triển lên CNXH Từ 1990 hiện nay,công cuộc đổi mới có nhiều nội dung đem lại nhiều điều kiện cho hoạt động củaDNNN nhng bên cạnh đó vẫn còn những nhợc điểm.
II.2.1 Những đổi mới có liên quan tới t cách pháp nhân của DNNN:
Những chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc về DNNN đã ban hành ở thời
kỳ này nh sau:
Sau cuộc tổng kiểm kê đánh giá tài sản DNNN ngày 1- 1 -1990 đã tiếnhành chỉnh đốn, sắp xếp và đăng ký lại DNNN vào các năm 1992 - 1993 theonghị định 388/HĐBT ngày 20 - 11- 1991
- Đã ban hành các văn bản giải thể những DNNN và sắp xếp lại lao động,
áp dụng chính sách trợ cấp đối với lực lợng lao động dôi d và ban đầu ban hànhluật phá sản doanh nghiệp
- Đã tổ chức lại 250 liên hiệp xí nghiệp quốc doanh và công ty để hìnhthành các tổng công ty Nhà nớc theo các quyết định 90/TTg và 91/TTg
- Đã banhành luật doanh nghiệp quốc doanh, và các văn bản dới luật về
điều lệ mẫu Tổng công ty Nhà nớc, và các văn bản pháp quy khác về tổ chức,hoạt động của DNNN
Sau khi ban hành luật doanh nghiệp Nhà nớc, đây là một bớc tiến quantrọng trong việc thực thi Nhà nớc pháp quyền, thực sự tiến tới bình đẳng trớcpháp luật giữa các thành phần kinh tế, khởi đầu việc thành lập hoạt động, tổchức lại giải thể và phá sản theo đúng trình tự pháp luật
Từ khi có nghị định 388/HĐBT đã cơ bản chấm dứt tình trạng tự phát tuỳtiện thành lập và giải thể DNNN và khi ban hành luật phá sản cũng có nghĩa làbắt đầu công nhận và thực thi các nghĩa vụ pháp luật dân sự đối với quan hệ kinh
tế của DNNN khi nó phá sản theo trình tự pháp luật
Kết quả là đã giảm khoảng 50% số lợng DNNN, loại bỏ đợc các doanhnghiệp quá yếu kém, thiếu điều kiện tối thiểu để tồn tại, và hoạt động nh mộtpháp nhân kinh tế đủ t cách, mà điều quan trọng đã làm cho các DNNN còn lại,
Trang 15đợc đăng ký kinh doanh, có quy mô vốn liếng khá lớn, có thị trờng tiêu thụ ổn
định hơn sơ với trớc Đặc biệt chính sách đối với lao động dôi d do sắp xếp lạiDNNN đợc sử lý tơng đối ổn thoả một phần do nguồn tài chính của ngân sáchnhà nớc bảo đảm khá tốt, mặt khác đã áp dụng phơng thức sắp xếp bằng cáchnhập nhiều hơn là giải thể nên gánh nặng trợ cấp lao động giảm
II.2.2 Những đổi mới về mô hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh theo h ớng thúc đẩy tập trung hoá,tích cực hoá trong các DNNN
Trong giai đoạn sau Đại hội VI một lần nữa có chủ trơng tổ chức lại loạiDNNN lớn trong các ngành Điều lệ mới về liên hiệp xí nghiệp quốc doanh chủtrơng áp dụng đồng thời hai hình thức đợc goị tắt là " liên hiệp mềm" và "liênhiệp cứng" loại "mềm" đợc hình thành theo nguyên tắc tự nguyện của doanhnghiệp và toàn bộ loại cắt phần lĩnh vực xuất phát sự quan điểm cho rằng liênhiệp lại sẽ có hiệu quả hơn Loại "cứng" đợc tổ chức ở một số ngành kinh tế kỹthuật cao về trình độ tập trung hoá (điện lực, hàng không) có đỏi hỏi điềuhành tập trung từ một trung tâm
Đến đầu năm 1994 khi việc xắp xếpvà củng cố các DNNN theo từng đơn
vị cơ sở đã cơ bản kết thúc, đạt yêu cầu đặt ra trong thời kỳ đó chính phủ chủ tr
-ơng củng cố, tổ chức lại các hình thức tổ chức liên hiệp tổng công ty theo hớnghình thành và tập đoàn kinh doanh mạnh thuộc sở hữu " Nhà nớc" Những nộidung chính sách chủ yếu về tổng công ty Nhà nớc là tăng thực lực, khả năng tích
tụ, khả năng cạnh tranh của DNNN trên các lĩnh vực quan trọng
- Tổng công ty trong các ngành quan trọng nhất, điều kiện chín muồi nhất
do chính phủ quyết định thành lập chỉ định các doanh nghiệp thành viên và nhân
sự, hoạt động trên phạm vi cả nớc (Tổng công ty 91)
+ Tổng công ty thành lập ở cấp bộ, địa phơng gồm các thành viên tựnguyên gia nhập, thờng hoạt động theo các khu vực (Tổng côngt y 90) hiện naytồn tại những hạn chế kìm hãm sự phát triển của các tổng công ty nh: số lợng cáctổng công ty quá nhiều, cha có sự liên kết kinh tế gắn bó lợi ích, hỗ trợ về thị tr-ờng giữa tổng công ty với các đơn vị thành viên, giữa các đơn vị thành viênkhác nhau:
I.2.3 Các chính sách đa dạng hoá sở hữu DNNN
Sau đại hội VI của Đảng, quá trình đổi mới DNNN có thêm một nội dungmới Đó là trong việc sắp xếp tổ chức lại DNNN có thêm yêu cầu, đa dạng hoá
sở hữu đối với hệ thống doanh nghiệp này Theo chủ trơng hiện hành, các hình
Trang 16thức đa dạng hoá sở hữu sau đâu đã đợc ban hành, ở các mức độ khác nhau đã
đ-ợc thể chế hoá với bớc đầu đđ-ợc thực thi Hình thức cao nhất là bán toàn bộDNNN cho cấ nhân và tập thể, chuyển thành công ty cổ phần trong đó Nhà nớckhông tham gia mua cồ phần, hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn sở hữu t nhânhoặc thành công ty t nhân, hình thức tiếp theo là các DNNN đợc đánh giá lại tàisản hiện có và sử dụng đất đai để cùng góp vốn thành lập xí nghiệp liên doanhvới chủ sở hữu nớc ngoài theo luật đầu t nớc ngoài Hình thức đợc đánh giá làquan trọng nhất đã và đang thực hiện là cổ phần hoá một bộ phận DNNN
Hình thức hiện cổ phần hoá bao gồm: Bán một phần giá trị doanh nghiệpthuộc sở hữu Nhà nớc tại DNNN, Nhà nớc giữ lại cổ phần có thể đạt mức cổphần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt theo luật định, tuỳ theo nhu cầu công ty cổphần sau này, bán cổ phần một đơn vị thành viên
Xét một cách toàn diện thì cổ phần hoá DNNN đã đem lại lợi ích rõ rệtcho ngời lao động, cổ đông, Nhà nớc và xã hội Thông qua việc cổ phần hoá, vốnNhà nớc không những đợc đảm bảo mà còn đợc tăng thêm DNNN đợc hìnhthành từ cổ phần hoá có nhiều cơ hội huy động vốn trong xã hội để phụcvụ choquá trình sản xuất kinh doanh Trong 370 DNNN đã cổ phần hoá có số vốn Nhànớc là 854 tỷ đồng đã thu hút gần 1432 tỷ đồng ngoài xã hội, đồng thời Nhà nớcthu đợc 714 tỷ đồng từ việc Nhà nớc rút bớt phần vốn ở các DNNN này Theobáo cáo của ban đổi mới DNNN thì 40 công ty cổ phần đã hoạt động từ 1 nămtrở lên có chuyển biến tích cực trong hoạt động kinh doanh, với hiệu quả khảquan Doanh thu tăng gấp 2 lần so với 46 tỷ đồng trớc cổ phần hoá Số lợng lao
động chẳng những không giảm mà còn tăng 20% Ví dụ công ty chế biến hàngxuất khẩu long an từ 900 đến 1200 lao động, công ty cơ điện lạnh từ 244 lao
động đến 806 lao động Thu nhập của ngời lao động tăng bình quân 20% /năm
điển hình là công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển bộ giao thông vận tải cóthu nhập lợi nhuận tằng từ 2- 3 lần, nộp Ngân sách tăng 2 - 25 lần, vốn điều lệtăng 2,5 lần Lãi cổ tức đã cao hơn lãi tiết kiệm, bình quân từ 1 - 2% tháng, cómột số công ty đạt 2,5% Tuy nhiên số DNNN đợc cổ phần hoá trong thời gianqua là quá ít so với kế hoạch đề ra Năm 1998 đạt 55% năm 1999 đạt 63% năm
2000 đạt 36%
II 2.4 Ban hành và thực hiện hệ thống luật liên quan đến DNNN.
Cùng với nhiều chính sách vĩ mô đã thay đổi, nhà nớc cũng đã từng bớcban hành hệ thống luật liên quan đến DNNN Trong đó có hai bộ luật đợc hình
Trang 17thành tơng đối sớm là luật phá sản doanh nghiệp và luật doanh nghiệp Nhà nớc(năm 1995).
- Đối với luật phá sản, đây là bớc đi mạnh dạn đồng thời đáp ứng tình hìnhthực tế đã và đang xuất hiện rõ lợng không ít DNNN lâm vào tình trạng mất khảnăng thanh toán, nhng nếu dựa vào các văn bản pháp quy trớc đó thì không thể
xử lý đợc
Luật doanh nghiệp Nhà nớc, là một bớc ngoặt về chất lợng quan trọngtrong tiến trình xây dựng, củng cố và quản lý Nhà nớc đối với hệ thống DNNN -
hệ thống quan trọng vào bậc nhất trong giai đoạn hiện nay ở nớc ta
Luật doanh nghiệp ra đời 4/1999 là tín hiệu mới cho các doanh nghiệp nóichung, DNNN nói riêng Nó thay đổi cách t duy xây dựng luật pháp của chúng
ta từ trớc tới nay, là chỉ chú trọng phần trớc hoạt động của doanh nghiệp, cònquá trình hoạt động, sau hoạt động ra sao thì không cần để ý tới
II.2.5 Những đổi mới về chính sách kinh tế vĩ mô có liên quan đến các DNNN.
Ngay cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 đã có những cải cách chính sáchkinh tế vĩ mô theo hớng kinh tế thị trờng khắc phục một bớc khá căn bản cơ chế
cũ trong chính sách này Đó là cuộc cải cách thuế giai đoạn 1989 -1990 chuyểnhình thức "thu quốc doanh" qua áp dụng thuế doanh thu, chuyển hình thức tríchnộp lợi nhuận qua áp dụng thuế lợi tức
Sự ra đơi của pháp lệnh của ngân hàng Nhà nớc và pháp lệnh về ngânsách thơng mại, các tổ chức tín dụng là đã mới rất cơ bản và đúng hớng chocác DNNN chuyển qua hoạt động heo cơ chế thị trờng ở nấc thang cao hơn
Nh vậy cho đến nay phần lớn chính sách kinh tế vĩ mô đã chuyển mạnhsang cơ chế điều tiết gián tiếp của Nhà nớc Song cần thấy những chính sách đócòn nhiều bất cập Nổi bật là lĩnh vực ngân hàng và thị trờng vốn trung, dài hạncòn nhiều tồn tại, nếu chậm sửa đổi sẽ là trở ngại cho tiến trình cải cách hiệnnay Nhiều chính sách, cơ chế kinh tế vĩ mô còn giữa những quy định phân biệt
đối xử không cần thiết, có chỗ phi lý giữa DNNN và các doanh nghiệp thuộcthành phần kinh tế khác
II.3 Những thách thức của DNNN tr ớc xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới.
Trang 18Văn kiện Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ "thế giới đứng trớc nhiều vấn đề toàncầu mà không một quốc gia nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đaphơng chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới theo tinh thần phát huy tối đanội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hớngxã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững độc lập tự chủ và định h ớngXHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, bản sắc vănhoá dântộc, bảo vệ môi trờng" Thực vậy, sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới
mở cửa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt đợc những cải thiện đáng kể trongquan hệ thơng mại quốc tế nỏi riêng, hợp tác kinh tế quốc tế nói chung Với việc
mỹ tuyên bố xoá bỏ cấm vận đầu năm 1993, Việt Nam đợc kết nạp vào ASEANnăm 1995 đồng thời ký CEPT gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN( AFTA) Việt nam trở thành thành viên của APEC năm 1997 và đặc biệt ngày13/7/2000 vừa qua, tại Oasinhtơn, Hiệp định thơng mại Việt Mỹ đã đợc ký kết
bở bộ trởng Thơng Mại Việt Nam và Đại diện Thơng mại của Tổng thống mỹ
Tổng kết thực tiễn cho thấy các nớc có tốc độ phát triển cao trong nhiềunăm và có sự tích luỹ hiệu quả về công nghệ thì đều có thị trờng xuấ khẩu sang
Mỹ khá lớn, chiếm tới trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, của Việt Nam hiệnmới là 4,3% Việc Việt Nam đã kỹ hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ và hởng quychế tối huệ quốc có ý nghĩa tiêu đề quan trọng việc thúc đẩy xuất khẩu và thuhút đầu t hớng vào xuất khẩu Liệu các DNNN Việt Nam, đặc biệt là các Tổngcông ty có phá vỡ đợc t tởng hiện tại là chỉ nhằm ổn định sản xuất lấy mục tiêu
đáp ứng nhu cầu sản phẩm thay thế nhập khẩu trớc mắt để chuyển sang lấy cạnhtranh quốc tế làm chuẩn mực cho sự phát triển hớng vào xuất khẩu
Trong một nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá thì việc một quốc gia có hộinhập vào nền kinh tế thế giới hay không và hội nhập đến mức độ nào sẽ cơ bảnphụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sở tại Nhìn vào nềnkinh tế Việt Nam có thể thấy rất rõ, dù chỉ chiếm cha tới 20% tổng số 35.000doanh nghiệp của cả nớc, các DNNN vẫn nắm giữ hầu hết các nguồn lực cơ bảncủa xã hội và giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế Tuy nhiên chanói gì đến các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khả năng cạnh tranh của bảnthân các DNNN còn yếu về nhiều mặt nh: vốn kinh doanh, trình độ máy mócthiết bị công nghệ, năng lực đội ngũ cán bộ, cơ cấu bộ máy tổ chức sản xuất
Toàn cầu hoá đồng nghĩa với nhiều nguy cơ, thách thức đối với doanhnghiệp đặc biệt là DNNN cũng nh đối với toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đi saurất nhiều nớc và khoảng cách này lại đang ngày càng doãng ra Chiến lợc đuổi v-
Trang 19ợt của nền kinh tế Việt Nam trông đợi vào khả năng cạnh tranh và hội nhập củacác DNNN nội địa Ta thấy sức cạnh tranh của các Tổng công ty có vai trò quyết
định đối với khả năng cạnh tranh của cả nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể hộinhập nhanh và hội nhập hiệu quả nếu các tổng công ty thực sự trở thành các tập
đoàn kinh tế vững mạnh, có mối quan hệ liên kết bên trong theo chiều dọc bềnvững và có mối quan hệ chặt chẽ với các loại hình doanh nghiệp khác các doanhnghiệp thành viên trong một chừng mực nào đó phải cạnh tranh với nhau, nângkhả năng cạnh tranh của cả Tổng công ty để cả Tổng công ty có đủ sức mạnhcạnh tranh trong một nền kinh tế hội nhập với các công ty quốc tế vốn đang rấthùng mạnh
Không còn cách nào khác các doanh nghiệp nhà nớc phải tiến hành cảicách, đổi mới triệt để nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh để từ đó hội nhập vớinền kinh tế thế giới mở ra tiềm năng phát triển của kinh tế Việt Nam
III- nghiên cứu đánh giá quá trình đổi mới cải cách của thếgiới làm bài học cho vấn đề nâng cao vai trò chủ đạo của thànhphần kinh tế nhà nớc (doanh nghiệp nhà nớc) ở nớc ta
III.1 Việc đổi mới, cải cách DNNN ở các n ớc XHCN mà Trung Quốc
là đại diện tiêu biểu
III.1.1 Doanh nghiệp Nhà n ớc Trung Quốc từ 1949-1996
ở Trung Quốc, khi mới xây dựng nớc Trung Hoa mới 1949 Chính phủkhông chỉ tiếp quản 913 xí nghiệp các loại cuả các nớc đế quốc, mà còn tịch thucủa chính phủ cũ và của t sản mại bản 2858 xí nghiệp công nghiệp, 2446 ngânhàng, 10 công ty thơng mại lớn Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Trung Quốc
đã tập trung nhân lực, vật lực, tài lực xây dựng 156 công trình loại lớn nh gangthép, than, điện lực, cơ khí, dầu mỏ, hoá chất mở ra một chơng trình mới trongviệc phát triển khu vực kinh tế nhà nớc Thực vậy, sau kế hoạch 5 năm lần I côngcuộc cải tạo XHCN ở Trung Quốc đã củng cố cơ sở chế độ công hữu, hìnht hànhcác ngành kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân do doanh nghiệp Nhà nớ
đóng vai trò chủ đạo Cùng với việc kinh tế quốc dân (DNNN) chiếm vị trí chủ
đạo, nền kinh tế kế hoạch hoá, căn bản đã hình thành thay thế kinh tế hàng hoá
sự điều phối theo kế hoạch trực tiếp của nhà nơcs dần thay thế sự trao đổi theo cơchế thị trờng
Cùng với thời gian, các khuyết tật của cơ chế kế hoạch hoá tập trung ngàycàng bộc lộ rõ nét và càng thể hiện tính không thực hiện Năm 1978 Trung quốc
Trang 20thực hiện công cuộc cải cách mở ca đề ra xây dựng thể chế thị trờng XHCNnhằm khắc phục những khuyết tật của thể chế kinh tế kế hoạch hoá trớc đây đặtcải cách DNNN là khâu trọng tâm trong cải cách thể chế của cả nền kinh tế.Công cuộc cải cách DNNN tính đến nay đã gần 20 năm bao gồm các giai đoạn:
- Từ 1978 đến năm 1983 Trọng tâm là mở rộng quyền tự chủ kinh doanhcho các DNNN, điều chỉnh quan hệ phân phối giữa Nhà nớc và doanh nghiệp
- Từ năm 1983 đến năm 1987: trong giai đoạn này, thực hiện thí điểmbiệm pháp " thuế thay lợi nhuận" để điều chỉnh lợi ích giữa xí nghiệp và nhà nớc
- Từ năm 1987 đến năm 1992: thực hiện phổ biến chế độ khoán tráchnhiệm kinh doanh với nhiều hình thức
- Từ năm 1992 đến năm 1996: trọng điểm của giai đoạn này là chuyển đổicơ chế kinh doanh của DNNN, không phải chỉ là điều chỉnh quyền hạn và lợi íchgiữa nhà nớc và doanh nghiệp trong thể chế quyền hạn và lợi ích giữa nhà nớc vàdoanh nghiệp trong thể chế cũ mà hình thành thể chế mới trong đó DNNN là ng-
ời sản xuất và kinh doanh hàng hoá độc lập
Qua gần 20 năm thực hiện cải cách, hệ thống DNNN Trung Quốc đã cónhững biến đổi to lớn Thể chế kinh doanh đổi mới mạnh mẽ Hàng loạt xínghiệp đã lớn mạnh và đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế
III.1.2 Chính sách cải cách DNNN mới nhất của Trung Quốc do thủ
t ớng Chu Dung Cơ đề xuất (1998 - 2000)
Tính đến cuối 1997, diện các DNNN làm ăn thua lỗ lên tới 45% Hàngloạt các doanh nghiệp đứng trớc nguy cơ đóng cửa Trong thời gian đó Khủnghoảng khu vực lại lan rộng và gây ảnh hởng mạnh mẽ tới hoạt động xuất khẩu vàhoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN áp lực hội nhập quốc tế ngàycàng gay gắt, đẩy các doanh nghiệp tới trớc sự lựa chọn hoặc là phải cải cáchtriệt để, hoặc là bị phá sản, giải thể
Trong bối cảnh đó, thủ tớng Chu Dung Cơ đã chọn con đờng cải cách triệt
để DNNN với mục tiêu đa ra là: trong vòng 3 năm (1998 - 2000) đa các DNNNcơ bản thoát khoải khó khăn, tiến tới xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại.Các giải pháp cơ bản:
* Phân loại và cơ cấu lại các DNNN
Để có những giải pháp cải cách hợp lý, 380.000 DNNN ở Trung quốc đợcchia thành 3 loại: loại I gồm hơn 1000 DNNN lớn thuộc các ngành then chốt