Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng học liệu số trong dạy học chương Động học lớp 10 - Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chương Độ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÍ
TRẦN THỊ HẢI HẬU
THIẾT KẾ HỌC LIỆU SỐ HỖ TRỢ DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ĐỘNG HỌC TRONG VẬT LÝ 10 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÍ
TRẦN THỊ HẢI HẬU
THIẾT KẾ HỌC LIỆU SỐ HỖ TRỢ DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ĐỘNG HỌC TRONG VẬT LÝ 10 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa, Quý Thầy Cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng và Quý Thầy cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Trần Thị Hương Xuân – người
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp và thầy Nguyễn Hồng Lĩnh ở trường THPT Nguyễn Trãi đã đóng góp ý kiến phản biện, nhận xét đề tài và giúp đỡ tôi trong việc thu thập ý kiến từ các thầy cô khác trong trường
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khoá luận tốt nghiệp này
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2022 Tác giả
Trang 4DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ TRONG CHƯƠNG ĐỘNG HỌC – VẬT LÝ 10 11
1.1 Khái niệm về học liệu số 11
1.2 Thực trạng sử dụng học liệu số dạy học trong nước và quốc tế 16
1.3 Hoạt động tự học của HS 22
1.4 Quy trình thiết kế học liệu số 24
1.5 Cơ sở lí luận của việc thiết kế học liệu số trong dạy học 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ TRONG CHƯƠNG ĐỘNG HỌC – VẬT LÝ 10 33
2.1 Cấu trúc và nội dung bài học trong chương Động học – Vật lý lớp 10 33
2.2 Định hướng thiết kế một số bài học trong chương Động học – Vật lý lớp 10 33
2.3 Thiết kế dạy học sử dụng học liệu số trong chương Động học – Vật lý lớp 10 35
2.4 Sử dụng học liệu số trong dạy và học vật lý ở chương “Động học” ở trường trung học phổ thông 51
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 53
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54
Trang 63.1 Mục đích thực nghiệm 54
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 54
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 54
3.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm 54
3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 55
3.6 Tiến hành thực nghiệm 56
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây vấn đề giáo dục được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và được khẳng định trong nghị quyết Trung ương IV khoá VII (2020) : "Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” Ngày nay giáo dục được coi là nền móng cho
sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân
Vai trò của giáo dục là hết sức to lớn nhưng để làm được điều đó trước hết phải đổi mới giáo dục, đổi mới từ tư duy giáo dục và cần phải có chiến lược giáo dục đúng đắn Về vấn đề này trong “Nghị Quyết Đại hội đại biểu của Đảng khoá IX đã khẳng định “Đổi mới hình thức giảng dạy, học tập các chương trình giáo dục phải đổi mới để cập nhật với tri thức hiện đại, thích hợp với lứa tuổi và các điều kiện giảng dạy học tập cụ thể Đổi mới phướng pháp giảng dạy theo hướng không chỉ
để nhồi nhét kiến thức mà quan trọng hơn là chú ý việc phát triển tư duy độc lập, năng động của HS” Điều đó có thể nói bắt đầu từ hai nhân tố chính của giáo dục là người dạy (vai trò chủ đạo) và HS (vai trò chủ động), trong đó việc chủ động học tập của HS là hết sức quan trọng, nó quyết định không nhỏ ở chất lượng giáo dục
Có nghĩa là HS phải có phương pháp học tập đúng đắn, tích cực và phải có ý thức trau dồi tự học cho chính mình Bên cạnh đó người dạy phải có những định hướng
HĐ học tập cho HS, phát triển tư duy tích cực, hình thành cho HS năng lực hợp tác, tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hiện đại
Trong quy định “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng” của Bộ GD&ĐT ban hành năm 2016 có nói: Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng là việc sử dụng các trang thiết bị điện tử, phần mềm, Học liệu số và mạng viễn thông (chủ yếu là mạng Internet) hỗ trợ các hoạt động dạy và học nhằm đổi mới phương pháp dạy – học, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo Một số một mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng phổ biến là:
- Đào tạo kết hợp (Blended learning) là việc kết hợp phương thức học tập điện
tử (e-Learning) với phương thức dạy – học truyền thống (theo đó người dạy và người học cùng có mặt) nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và chất lượng giáo dục
Trang 8- Học tập điện tử (e-Learning) là hình thức học tập qua đó người học có thể tự học mọi lúc, học mọi nơi thông qua các Học liệu số đa phương tiện (lời giảng, lời thuyết minh, âm thanh, hình ảnh, video, đồ họa…) Các hình thức học tập như m-Learning (học thông qua thiết bị di động: điện thoại thông minh, máy tính bảng, màn hình tương tác), u-Learning (học thông qua các phương thức tương tác thực tế
ảo diễn ra bất kỳ nơi nào), hay smart-Learning (phương tiện học tập thông minh) đều là các hình thái của học tập điện tử e-Learning
Học liệu số là tập hợp các phương tiện điện tử sử dụng các mô hình dạy học nói trên để phục vụ dạy và học, bao gồm: sách giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra đánh giá, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo
Trong bối cảnh hiện nay, tình hình dịch bệnh covid-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp, khó lường Vậy nên việc dạy học trực tiếp tại các trường học vẫn chưa thể tiến hành mà không có rủi ro, đa số các trường học vẫn chọn hình thức học trực tuyến để đảm bảo an toàn cho học sinh
Trong khoảng thời gian dịch bệnh bùng phát, nhiều thành phố bị cách ly và triển khai giãn cách xã hội, khi bước vào năm học mới các em học sinh đã không thể chuẩn bị đầy đủ tài liệu học tập cho năm học mới và việc kiểm tra sức học của các em trở thành vấn đề khó khăn đối với giáo viên và phụ huynh Trong bối cảnh hiện tại, bộ Giáo dục nói chung và giáo viên nói riêng là những người phải chủ động trong việc tìm kiếm phương pháp dạy học mới để đảm bảo kiến thức cho học sinh Vì vậy việc phát triển và xây dựng mảng học liệu số để nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Với các tiện ích tích họp trên nền máy tính, điện thoại có tính tương tác cao và thuận tiện, học liệu số đã ra đề như một xu thế tất yếu, tạo cơ hội cho người học có thể chủ động tự học, tự trau dồi kiến thức ở bất kì thời gian nào, địa điểm nào Bên cạnh đó, với các thiết kế bài học sinh động, chỉ cần bấm chuột, chỉ vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung bài học với những nội dung và hình ảnh sống động, qua đó tạo điều kiện cho học sinh được hoạt động và tương tác nhiều hơn với bài học
Đối với các em học sinh lớp 10 bước vào năm học mới và học trực tuyến là lựa chọn duy nhất hiện nay, với những thay đổi về lượng kiến thức của cấp trung học phổ thông có thể có rất nhiều học sinh không theo kịp bài giảng trên trường và giáo viên vẫn chưa tối ưu hóa được hiệu quả dạy học trực tuyến Từ sự cần thiết trên, tôi chọn đề tài “Thiết kế học liệu số hỗ trợ dạy học chương Động học trong Vật Lý
Trang 910” là chương đầu tiên của Vật lý lớp 10 Qua đó, tạo cảm hứng học tập cho học sinh mới vào cấp trung học phổ thông, góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở trung học cơ sở và nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý 10
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của học liệu
số trong dạy học chương Động học lớp 10
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng học liệu số trong dạy học chương Động học lớp 10
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chương Động học lớp 10
- Phạm vi nghiên cứu: Thiết kế và sử dụng học liệu số để hỗ trợ dạy học một số nội dung chương Động học lớp 10 trong sách kết nối tri thức về cuộc sống của nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp, thu thập thông tin, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài để thu thập, xử lý thông tin, tìm ra cơ sở lí luận của
đề tài nghiên cứu
Trang 105.2 Phương pháp điều tra, quan sát, nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu về sự quan tâm của GV và HS tới thiết kế
và sử dụng HLS trong dạy học chương Động học – Vật lý lớp 10 Trao đổi, thảo luận với các GV giảng dạy ở các trường trung học phổ thông, quan sát hoạt động của GV và HS trong một số giờ dạy ở trường để tìm hiểu thực tế của việc thiết kế
và sử dụng HLS trong dạy học chương Động học – Vật lý lớp 10
5.3 Phương pháp chuyên gia
Sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao của một chuyên ngành
để xem xét, nhận định bản chất một sự kiện khoa học hay thực tiễn phức tạp Bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia giáo dục có trình độ cao, ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau cho ta một ý kiến đa số, khách quan để tìm ra giải pháp tối ưu cho sản phẩm HLS trong dạy học chương Động học – Vật lý lớp 10
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ
SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ TRONG CHƯƠNG ĐỘNG HỌC – VẬT LÝ 10 1.1 Khái niệm về học liệu số
1.1.1 Quan niệm về học liệu số
Do học liệu số mới xuất hiện trong thời gian gần đây nên hiện nay chưa có được một định nghĩa chung, thống nhất về học liệu số Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng các quan niệm đều có các điểm chung Học liệu số (HLS) là các tài liệu học tập được số hóa theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định được lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy và học qua máy tính
Các dạng thông tin thường gặp trong HLS là dạng thức số hóa của văn bản, slide, bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video clip, các ứng dụng tương tác và hỗn hợp của các dạng thức nói trên
Do học liệu điện tử mới xuất hiện trong thời gian gần đây nên hiện nay chưa
có được một định nghĩa chung, thống nhất về học liệu điện tử Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng các quan niệm đều có các điểm chung
Học liệu số (HLS) là các tài liệu học tập được số hóa theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định được lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy và học qua máy tính
Các dạng thông tin thường gặp trong HLS là dạng thức số hóa của văn bản, slide, bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video clip, các ứng dụng tương tác và hỗn hợp của các dạng thức nói trên
1.1.2 Phân loại học liệu số
Hiện nay cũng chưa có một sự phân loại HLS một cách thống nhất Trong tài liệu Trinh Thị Phương Thảo [13] đã đề xuất phân loại HLS như sau:
- Căn cứ vào khả năng can thiệp vào HLS có:
HLS đóng: Sau khi xuất bản Giáo viên (GV), HS không thể can thiệp vào
sửa chữa, thêm bớt nội dung học liệu;
Trang 12 HLS mở: Trong quá trình sử dụng, GV, HS có thể update để cập nhật, bổ
sung hay xóa bỏ nội dung của học liệu;
- Căn cứ vào khả năng tương tác với HLS có:
HLS tĩnh: Đây là các HLS mà trong quá trình sử dụng ta không thể tương
tác với nội dung, mặc dù nội dung của HLS có thể có những yếu tố động ảnh động, video, (về mặt công nghệ thì các HLS tĩnh với trang web tĩnh là tương đồng);
HLS động: Đây là các HLS cho phép tương tác với nội dung Người sử
dụng có thể nhận được các thông tin phản hồi khác nhau khi ta đưa ra các yêu cầu khác nhau, ví dụ ta có thể thực hiện các thao tác tìm kiếm, sắp xếp, trả lời trắc nghiệm, … nếu HLS ở dạng động (về mặt công nghệ, HLS ở dạng động phải có một cơ sở dữ liệu đi kèm)
Các HLS tương tác cho phép người sử dụng có thể tác động trực tiếp để thay đổi kịch bản ngay trong quá trình trình diễn Về kiểu tương tác có hai mức độ: Tương tác thông qua chọn kịch bản trình diễn (thực đơn hay liên kết) để khởi động một kịch bản trình diễn tiếp theo sẵn có; tương tác qua các dữ liệu được nhập trực tiếp trong quá trình trình diễn, kịch bản trình diễn tiếp theo tùy thuộc vào giá trị trình diễn đó (ví dụ một câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm, trả lời đúng hoặc sai sẽ rẽ nhánh theo một trong hai kịch bản tiếp theo) Với loại tương tác thứ hai này chúng ta phải có một chương trình tạo kịch bản tự động tùy theo dữ liệu
- Căn cứ vào phương thức lưu trữ:
Lưu trữ trên các thiết bị cá nhân: HLS được lưu trữ trên các CD-ROM, thẻ
nhớ, đĩa cứng… Với dạng lưu trữ này, người sử dụng dễ dàng mang theo và
sử dụng bất kỳ lúc nào ta muốn
Lưu trữ trên máy chủ: HLS được lưu trữ trên các file sever: Trong trường
hợp này đa phần người sử dụng phải kết nối mạng trong hệ thống mạng LAN, WAN hoặc kết nối Internet và truy cập đọc trực tiếp hoặc download về máy tính cá nhân để sử dụng
Ngoài ra, nếu căn cứ vào sự đa dạng của thông tin trong HLS, ta còn có thể phân chia HLS thành 2 nhóm: HLS dạng mono (đơn điệu chỉ có 1 dạng thông tin) và HLS dạng đa phương tiện (nội dung gồm nhiều dạng thông tin khác nhau được thể
Trang 13hiện đồng thời) HLS dạng đa phương tiện thường gồm những loại sau đây: Các file âm thanh để minh họa hay diễn giảng kiến thức các file flash hoặc tương tự được tạo ra từ các phần mềm đồ họa dùng để mô phỏng kiến thức; các file video clip được lưu trữ trong các định dạng mpeg, avi hay các định dạng có hiệu ứng tương tự; các file trình diễn tổ hợp các thành phần trên theo một cấu trúc nào đó Một đặc điểm cơ bản của HLS là muốn sử dụng các HLS ta phải có các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng…
1.1.3 Những ƣu điểm và hạn chế của HLS
Ƣu điểm
HLS vừa thay thế được cho các tài liệu thông thường về nội dung kiến thức đồng thời lại thay thế được giáo án giảng dạy của người GV tức là thông qua tài liệu, các thiết bị điện tử có thể thay thế người GV tại một vài thời điểm nhất định để truyền đạt kiến thức đồng thời HS có thể phần nào tìm kiếm được các giải đáp khi có thắc mắc cần hỏi
Với việc xây dựng HLS để sử dụng trên máy tính cá nhân sẽ giúp học viên khắc phục được các khoảng cách về thời gian và không gian trong việc học tập từ đó dẫn đến giảm giá thành và nâng cao hiệu quả của khoá học
Với HLS được ghi lên đĩa CD nên thuận lợi trong việc phân phối cho từng học viên mang về sử dụng trên máy tính cá nhân mọi nơi, mọi lúc tùy theo nhu cầu và điều kiện cụ thể của mỗi người GV của các tổ chức đào tạo cũng
có thể sử dụng học liệu đó trong các buổi phụ đạo, hướng dẫn cho học viên
Chuyển tải được thông tin kiến thức bằng đầy đủ các media: văn bản, hình ảnh, âm thanh và tiếng nói, hình ảnh động (video)…
Có thể sử dụng mọi nơi, mọi lúc, sử dụng nhiều lần, lặp lại từng phần tùy nhu cầu cụ thể của từng H S
Kích thước rất gọn nhẹ, dễ dàng mang theo người, sử dụng dễ dàng, chỉ cần
có một PC với cấu hình vừa phải Giá thành rất rẻ, chỉ bằng 25 - 30% so với giáo trình in cùng khối lượng nội dung
Dễ vận chuyển đến mọi nơi thông qua gửi e-mail hoặc truyền tệp trên mạng
Dễ dàng đưa vào các thư viện điện tử hiện đang rất phát triển
Hạn chế
Trang 14 Trên môi trường học tập của nhà trường ảo (virtual instituton) trong đào tạo trực tuyến (online training) có thể đặt những học liệu điện tử lên website để cho học viên và những người có nhu cầu, sử dụng trực tuyến hoặc tải về máy tính cá nhân sử dụng nên đòi hỏi dung lượng băng thông đường truyền phải tốt để có thể khai thác các HLS đa phương tiện
Phải tính đến khả năng kết nối Internet nếu muốn khai thác các HLS trên mạng (hiện nay các HLS của các công ty Việt Nam hầu hết đều đòi hỏi phải kết nối Internet)
1.1.4 Các hình thức khai thác HLS trong dạy học
Căn cứ vào mục đích khai thác HLS ta có các hình thức sau:
Sử dụng HLS theo nghĩa thay cho các sách giáo khoa, sách tham khảo…:
Trong trường hợp này HLS gần như chỉ là một bản số hóa 1-1 của sách giáo khoa (SGK), sách tham khảo và thay vì đọc trực tiếp thì người sử dụng lưu trữ các file trên máy tính, điện thoại di động và đọc chúng Như vậy thay vì mang theo rất nhiều tài liệu, HS chỉ cần một thẻ nhớ Mặt khác HLS chắc chắn sẽ có hình thức cuốn hút hơn so với bản in lại dễ dàng phóng to, thu nhỏ, chia sẻ, …
Sử dụng HLS để truyền tải nội dung bài giảng trên lớp
Trong trường hợp này HLS được GV khai thác, sử dụng để truyền tải nội dung bài học đến HS trong các giờ lên lớp Mục đích chính của việc sử dụng HLS ở đây
là việc tích cực hoá HĐ chiếm lĩnh kiến thức mới của H S.Với nội dung dạy học kiến thức mới thì các hình thức làm việc tập trung theo lớp hoặc theo nhóm trong
đó thời lượng sử dụng phương tiện được đan xen trong giờ học, nghĩa là ta khai thác HLS để dạy học một phần của nội dung nhỏ hoặc một nội dung nhỏ của bài học
Sử dụng HLS dạy một nội dung ngắn
Quỹ thời gian sử dụng HLS chỉ trong khoảng từ 1 đến 3 phút nhằm mục đích nêu ra tình huống có vấn đề, gợi mở, kiểm chứng những suy đoán nhận định trong quá trình đi tìm lời giải hoặc minh hoạ kết quả lời giải
Trang 15Hình thức này thường được sử dụng trong hình thức tổ chức lớp học với số đông GV hoặc cho một vài HS trực tiếp tương tác với HLS Hình thức này tận dụng được thời gian lên lớp và phù hợp hơn cả là các tiết học nội dung bài mới Ví
dụ, GV sử dụng HLS để phát hiện hoặc hình thành động cơ chứng minh định lý, minh hoạ quỹ tích, minh hoạ kết quả tổng quát vừa tìm được với những trường hợp
cụ thể
Sử dụng HLS để dạy học trọn vẹn một nội dung
Với mục đích sử dụng HLS để giải quyết trọn vẹn một nội dung cụ thể trong tiết học nên quỹ thời gian sử dụng phương tiện có thể kéo dài từ 5 đến 10 phút (Hình 1.1) Qua việc tương tác với HLS HS phát hiện và giải quyết trọn vẹn một vấn đề Hình thức này có thể sử dụng trong cả hình thức tổ chức lớp số đông hoặc học tập theo nhóm HĐ sử dụng, khai thác phần mềm được tiến hành đan xen với các HĐ khác
Sử dụng HLS dạy trọn vẹn một tiết học
Đối với một số nội dung như hệ thống lại kiến thức trong các tiết ôn tập chương, ôn tập cuối năm HLS được thiết kế thành một hệ thống liên kết chặt chẽ phối hợp đan xen các HĐ của thầy và trò để đạt được mục đích của giờ giảng Điều đặc biệt là HLS được thiết kế sao cho khai thác tối đa sự hỗ trợ của phần mềm và máy tính điện tử Với hình thức này, có thể thời lượng sử dụng bảng đen
sẽ không như các giờ học khác vì nội dung kiến thức được thiết kế sẵn trong các Slide và GV chiếu lên màn hình thay cho viết bảng
Vì HLS tích hợp sẵn một khối lượng kiến thức được liên kết sẵn cho phép người GV ôn tập đến phần nào GV kích chuột vào tên mục để chuyển đến slide nội dung của mục đó Với HLS này, tiến trình lên lớp rất linh hoạt, tiến trình ôn tập có thể rẽ nhánh, triển khai đi sâu vào những nội dung chi tiết, quay lui chuyển về những nội dung đã trình bày Hơn nữa, khối lượng kiến thức được ôn tập lại trong một tiết rất lớn và GV tiết kiệm được thời gian để viết, kẻ, vẽ lên bảng Nhờ sự hỗ trợ của máy tính và HLS, giờ ôn tập chương không còn là cảnh GV liệt kê lại nội dung đã học mà nó là quá trình làm việc tích cực của trò dưới sự dẫn dắt của thầy Việc HS làm việc với "cây" kiến thức sẽ góp phần phát triển tư duy lôgíc, biện chứng
Trang 16Tuy nhiên, HLS được thiết kế theo một kịch bản của GV dự định trước nên việc đưa ra các tình huống là hữu hạn, các giải pháp đáp ứng yêu cầu cố định, trong đó thực tế rất đa dạng và phong phú Vậy GV cần phối hợp với các phương pháp, hình thức dạy học khác để phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của HS để nâng cao chất lượng dạy học
1.2 Thực trạng sử dụng học liệu số dạy học trong nước và quốc tế
1.2.1 Thực trạng sử dụng học liệu số dạy học ở nước ngoài
Sự phát triển của CNTT đã đưa đến sự gia tăng đáng kể của các loại phương tiện trực quan hiện đại, trong đó có HLS Xét trên quan điểm của lí luận dạy học hiện đại, các phương tiện công nghệ nói chung và HLS nói tiêng là một loại phương tiện trực quan Nghiên cứu về CNTT và HLS chỉ mới xuất hiện phổ biến vào thập niên cuối thế kỉ XX, song những nguyên tắc về dạy học đảm bảo tính trực quan trong dạy học đã có quá trình phát triển lâu dài
Tầm quan trọng của nguyên tắc trực quan trong dạy học được học giả, các nhà nghiên cứu giáo dục qua nhiều thế kỉ khẳng định và ngày càng làm rõ hơn:
Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và các hình thức học tập dựa trên nền tảng công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục truyền thống Bên cạnh các nghiên cứu về tính trực quan nói chung, xuất hiện ngày càng nhiều nghiên cứu về phương tiện DH hiện đại, CNTT, trong đó có HLS trong dạy học
Phân tích sự khác biệt của người học từ hứng thú, sở thích đến nhu cầu học tập, các tác giả của cuốn: “Hướng tới mục tiêu: Chiến lược dạy học phân hóa” (On Target: Strategies That Differentiate Instruction, Education Service Agency Region
6 & 7, 2006) đã đề xuất các chiến lược học tập đa dạng tôn trọng sự khác biệt giúp người học học tập hiệu quả hơn, tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học tập
và được mỉm cười nhiều hơn trong lớp học Một trong số các chiến lược đó là sử dụng CNTT trong dạy học phân hóa (Differentiating Instruction with Technology),
cụ thể là HLS Tác giả đã chỉ ra sáu lợi ích cơ bản của HLS:
- Tác động tới nhiều giác quan của người học Cho phép người học lựa chọn hình thức học tập phù hợp với phong cách học của cá nhân
- Tôn trọng cá nhân khi cho phép người học được lựa chọn cách tạo ra sản phẩm hoặc tiếp nhận thông tin
- Người học thực sự tạo ra bằng chứng về những gì mình học được và sau này nó có thể trở thành một phần trong hồ sơ năng lực
Trang 17- Tạo ra bầu không khí chủ động trong học tập, đòi hỏi người học phải tham gia và tích cực tư duy
- Thúc đẩy sự giao tiếp, tương tác giữa HS với nhau và HS với GV
- Giúp việc học mang ý nghĩa thực tiễn vì nó được xây dựng dựa trên cuộc sống hàng ngày của người học [104, tr.20]
Trong đó, trang web học tập là HLS được tác giả đặc biệt chú trọng với nhiều đặc trưng nổi bật: “Phù hợp với các phong cách học tập khác nhau Đồ họa, hình ảnh, video hỗ trợ cho người học theo kiểu nhìn Trong khi đó những công cụ tương tác sẽ phù hợp với người học theo kiểu vận động Người học theo kiểu nghe
sẽ học tốt hơn với video, âm thanh và người học theo kiểu văn bản sẽ tìm thấy những nội dung đọc và viết thú vị hơn so với việc sử dụng giấy/bút truyền thống [104, tr.20] Như vậy, chính tính năng đa dạng, phù hợp với nhiều kiểu học và khả năng phân hóa người học là những lý do quan trọng để việc sử dụng HLS dưới hình thức trang web học tập cần có nhiều cơ hội để triển khai trong thực tế dạy học GV nên căn cứ vào kiểu học, năng lực cụ thể của HS để lựa chọn và sử dụng HLS hiệu quả
Trong bài viết:“Công nghệ thông tin, dạy học trực tuyến và sự phát triển của GV” (IT, e-learning and teacher development, Shannon Research Press, 2005), tác giả Jonathan Anderson khẳng định: vai trò của GV và HS; cấu trúc lớp học và nội dung học tập là ba phương diện có những thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của CNTT Trong đó, GV từ “nhà hiền triết” trở thành “người hướng dẫn” Cùng với
sự thay đổi vai trò của GV và người học, toàn bộ cấu trúc của trường, lớp cũng có
sự biến đổi: “Các lớp học đóng kín („Closed door‟) đã thay đổi trở thành không gian học tập mới: không giới hạn trong bốn bức tường của lớp học, mở rộng cơ hội giao tiếp và chia sẻ xã hội của người học Trọng tâm của việc giảng dạy được chuyển từ ghi nhớ sự kiện (memorising facts) sang học tập gợi mở (inquiry-based learning)” [113, tr.3] Do đó, mỗi GV cần nhận thức được sự thay đổi này để phát triển kĩ năng sử dụng CNTT nói chung, sử dụng HLS nói riêng trong lớp học
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) là một trong những cơ quan có đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy ứng dụng CNTT vào giáo dục trên toàn thế giới Văn phòng UNESCO ở các quốc gia không ngừng công bố những nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực tế về việc sử dụng CNTT nói chung và sử dụng HLS nói riêng trong dạy học ở mỗi quốc gia, cũng như các khu vực khác nhau Trong cuốn sách “Chuyển đổi giáo dục: sức mạnh của chính sách CNTT” (Transforming Education: The Power of ICT Policies, UNESCO, 2011),
Trang 18các tác giả thông qua khảo sát việc sử dụng CNTT trong giáo dục ở nhiều quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới (gồm cả các quốc gia OECD) đã đưa ra cảnh báo: “Việc công nghệ thông tin không được sử dụng nhiều trong các trường học là trái ngược với thực tế của các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh
tế tri thức, nơi máy tính được tích hợp vào cuộc sống hàng ngày và được sử dụng như một công cụ trung tâm để doanh nghiệp thành công” [136, tr 18] Từ thực trạng trên, các tác giả đã nhấn mạnh cần thay đổi cách tiếp cận, sử dụng học liệu điện tử và xem đó như một hướng đi để phát huy sức mạnh của CNTT trong giáo dục
Thông qua việc nhấn mạnh vai trò của CNTT trong dạy học, các nghiên cứu
kể trên đều khẳng định việc sử dụng CNTT, HLS trong dạy học nói chung và DHVL nói riêng là xu thế tất yếu và ngày càng được phổ biến trên toàn thế giới Trong đó, trang web học tập được lựa chọn như một loại HLS đa chức năng, nhiều tiện ích và thân thiện với người học
Trong bài viết “Các xu hướng và vấn đề tích hợp công nghệ thông tin trong dạy học cho tương lai giáo dục của thế giới” (Trends and Issues to integrate ICT in Teaching Learning for the Future World of Education) đăng trên tạp chí International Journal of Engineering & Technology IJET-IJENS Vol: 11 No: 03 (2011), ba tác giả Md Aktaruzzaman, Md Rashedul Huq Shamim, Che Kum Clement đã dựa trên nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của trẻ và lý thuyết về mạng lưới thần kinh não người để khẳng định tính hiệu quả của việc sử dụng CNTT nói chung và HLS nói riêng trong giáo dục, đặc biệt là giúp người học đến gần với những trải nghiệm thực tế về những gì đang được học Đồng thời chỉ ra những ưu điểm vượt trội của HLS: “GV và HS không còn phải phụ thuộc hoàn toàn vào những cuốn sách in và các tư liệu, phương tiện vật chất khác trong thư viện (với số lượng có hạn) Với sự hỗ trợ của Internet, các trang web với một số lượng khổng lồ học liệu điện tử cho hầu hết các môn học có thể truy cập, sử dụng ở bất cứ nơi nào, bất cứ thời điểm nào và không giới hạn số lượng người truy cập Điều này thực sự
có ý nghĩa đối với giáo dục ở các quốc gia phát triển, thậm chí có thể coi đây là trọng tâm của việc đổi mới giáo dục trong thế kỉ XXI.” [96, tr 116-117] Đối với giáo dục Việt Nam - một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, đẩy mạnh sử dụng CNTT nói chung, HLS nói riêng trong dạy học là một trong những chìa khóa quan trọng đưa giáo dục Việt Nam tiến gần hơn với các quốc gia phát triển trên thế giới, giảm bớt sự bất bình đẳng về giáo dục trong xã hội
Trang 19Chính sự phát triển mạnh mẽ của Internet cùng với ứng dụng phổ biến của các thiết bị điện tử thông minh giúp việc sử dụng HLS trở nên linh hoạt và hiệu quả Hiện nay, HLS được sử dụng trong dạy học trực tuyến được tiến hành dưới hai phương thức chủ yếu: phương thức dạy học trực tuyến toàn phần - Online learning và dạy học kết hợp giữa dạy học trực tiếp trên lớp và trực tuyến- Blended learning (Dạy học kết hợp) Trong một vài năm trở lại đây, dạy học kết hợp có xu hướng được sử dụng rộng rãi vì có khả năng phù hợp với nhiều điều kiện dạy học khác nhau
Như vậy, các nghiên cứu đều khẳng định việc sử dụng hình thức dạy học kết hợp là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và HLS nói riêng Trong đó, trang web học tập là một loại HLS phổ biến được sử dụng trong hình thức dạy học kết hợp bởi những ưu thế vượt trội và khả năng đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục theo hướng ứng dụng công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới
1.2.2 Thực trạng sử dụng học liệu số dạy học ở Việt Nam
Trong cuốn “Lý luận dạy học”, nhà xuất bản Giáo dục, 2002, tác giả Nguyễn Văn Hộ khẳng định tầm quan trọng của nguyên tắc trực quan, coi đó như một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản để đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học Từ đó, tác giả đề xuất GV cần “sử dụng phối hợp phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là các phương tiện nhận thức và các nguồn nhận thức” [35, tr.39] Đồng thời khẳng định “các phương tiện trực quan sẽ giúp HS thu lượm được một lượng thông tin đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về đối tượng nghiên cứu, giúp làm thỏa mãn và phát triển hứng thú học tập cũng như tăng cường hoạt động của người học” [35, tr.82]
Tác giả Phan Trọng Ngọ đã nhấn mạnh tính trực quan trong dạy học ở cuốn sách “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, NXB Đại học Sư phạm
Hà Nôi, 2005: “Trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản là quan sát sự vật bằng các giác quan, mà là hành động, tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính, mà nếu không có sự tác động đó thì chúng mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người” [63 tr.342] Như vậy, khi sử dụng nguyên tắc trực quan trong dạy học GV không đơn thuần xây dựng các nhiệm vụ để HS quan sát, mà hơn hết là các nhiệm vụ giúp HS được tương tác, trải nghiệm
Trang 20Sang thế kỉ XXI, những nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và sử dụng HLS nói riêng ngày càng phổ biến
Với những nghiên cứu chuyên sâu gồm 14 chương về phương tiện dạy học, tác giả Tô Xuân Giáp trong cuốn “Phương tiện dạy học”, NXB Đại học Sư phạm
Hà Nội, 2005 đã nhấn mạnh vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học: “có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều Phương tiện dạy học không chỉ có chức năng cụ thể hóa cho bài giảng mà còn có tác dụng thúc đẩy quá trình thu nhận kiến thức và hiểu sâu sắc nội dung của thông điệp cần truyền” [27, tr.43] Trong đó, vai trò của phương tiện số hóa được tác giả khẳng định: “giúp cho thầy giáo khả năng truyền đạt rõ ràng, tỉ mỉ và chi tiết tất cả các vấn đề; tác động một cách dễ dàng vào năm giác quan thông thường,
kể cả phát huy “giác quan thứ sáu” là kĩ năng truyền thông và tiếp nhận thông tin của học sinh.” [27, tr.224] Như vậy, trong hệ thống phương tiện trực quan đa dạng, phong phú, phương tiện số hóa đã khẳng định được ưu thế riêng giúp phát triển cả kiến thức và kĩ năng của HS
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho ấn bản cuốn“Tăng cường năng lực sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”(Tài liệu Bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp GV, 2014), để giúp GV tự học, tự bồi dưỡng năng lực sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT Các tác giả hướng dẫn GV thiết kế trang web học tập như một loại HLS sáng tạo giúp nâng cao hiệu quả dạy học: “Website dạy học bộ môn không chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, yêu cầu học sinh phải nắm vững mà còn mở rộng các kiến thức của họ sinh, đáp ứng yêu cầu ham học hỏi, nghiên cứu của các em Bên cạnh đó bổ sung thêm một số các hình ảnh, đoạn video, các Flash,… Với các chức năng hỗ trợ lập trình trên website, máy tính có thể dễ dàng tạo ra các bài kiểm tra trên website đồng thời
tự chấm điểm theo thang điểm đã quy định sẵn, sau đó tự động lưu vào hồ sơ điểm của học sinh từng lớp để GV có thể quản lí” [7, tr.147] Như vậy, thiết kế trang web hỗ trợ dạy học bộ môn ở Việt Nam không phải là xu hướng mới Tuy nhiên,
áp dụng xu hướng này theo hình thức dạy học nào cho phù hợp với điều kiện, đối tượng dạy học cụ thể vẫn là vấn đề đáng được quan tâm và nghiên cứu sâu hơn Ngoài ra, nhiều hội thảo quốc gia được tổ chức để các nhà nghiên cứu bàn thảo, đưa ra giải pháp thúc đẩy việc ứng dụng CNTT nói chung và sử dụng HLS nói riêng trong DH đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục hiện nay Trong đó có hội thảo: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và dạy học năm 2014”, do Đại học Đà Nẵng tổ chức với nhiều nghiên cứu đề cập đến việc thiết kế và sử dụng HLS dưới các góc độ khác nhau như: xây dựng sách điện tử trong môn Hóa học;
Trang 21tạo trang web để tra cứu trong môn Sinh học; thiết kế bài giảng điện tử trong môn Lịch sử; thiết kế và sử dụng website hỗ trợ dạy học Địa lý
Tháng tháng 12/2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo:“Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học kết hợp đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới” Các tác giả đã nêu rõ những thách thức mới của việc dạy học ngày này và khả năng đáp ứng những yêu cầu mới trong dạy học của hình thức dạy học kết hợp: “Dạy học kết hợp cần được nhìn nhận như một các tiếp cận sư phạm, tích hợp được tính hiệu quả và các cơ hội xã hội trong lớp học với các khả năng thúc đẩy việc học tập tích cực có sự hỗ trợ của CNTT trong môi trường trực tuyến” [12,
tr 13] Đồng thời, những gợi ý cho việc sử dụng trang web học tập để thiết kế một khóa học trực tuyến hiệu quả
Những nghiên cứu về các loại HLS đơn lẻ, đặc biệt là trang web học tập được nhiều chuyên gia lý luận và phương pháp dạy học bộ môn ở Việt Nam quan tâm thể hiện qua bài viết công bố trên các tạp chí uy tín Cụ thể:
Trong bài viết, Thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trên trang web học tập theo hướng dạy học khám phá, trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 38 (11/2008), tác giả Phó Đức Hòa đã đưa ra định nghĩa chi tiết về trang web học tập, đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trên trang web và minh chứng bằng trang web cụ thể: http://dayhockhampha.com [34, tr 37 - 40] Đây là những gợi ý hữu ích phục vụ quá trình thiết kế HLS trong luận án của tôi
Bên cạnh đó còn có các bài viết: “Xây dựng trang web học tập hóa học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở phổ thông”, tác giả Phạm Ngọc Sơn, Tạp chí Giáo dục cố 259 (4/2011); Thiết kế website dạy học môn tự nhiên xã hội ở Tiểu học, Nguyễn Thị Tường Vi, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 50 (2010) có cùng định hướng nghiên cứu về trang web học tập trong dạy học
Nhiều đề tài chuyên ngành Lý luận và dạy học Hóa học tại trường ĐHSP Hà Nội có hướng nghiên cứu này: “Thiết kế giáo trình điện tử và áp dụng phương pháp dạy học vi mô để rèn luyện một số kĩ năng dạy học, góp phần nâng cao năng lực tự học cho sinh viên khoa Hóa học ĐHSP”, Nguyễn Thị Kim Ánh (2007); luận
án Tiến sĩ Giáo dục học: “Nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học phần hoá phi kim trường trung học phổ thông với sự trợ giúp của công nghệ thông tin”, Đào Thị Việt Anh (2009), “Thiết kế E- book hỗ trợ học sinh tự học phần kim loại hóa học lớp 12 chương trình nâng cao”, Nguyễn Trí Ngẫn (2010); “Xây dựng học liệu điện
tử hỗ trợ dạy và học phần cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học - chương trình trung học phổ thông chuyên”, Trịnh Lê Hồng Phương
Trang 22(2011)… Điều này cho thấy xu hướng tất yếu của việc sử dụng HLS trong các môn học
tự điều khiển của HS nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định” Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triễn lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người HĐ thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người
tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các HĐ ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời: Tự nghiên cứu; Tự thể hiện;
Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Trang 23- Tự nghiên cứu: HS tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với HS) và tạo
ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
- Tự thể hiện: HS tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với bạn
và GV, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn khác và GV, thì sau khi thầy kết luận, HS tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.3.4 Vai trò tự học
Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người,
Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Tự học giúp cho con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống cá nhân
Tự học khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu” Đối với HS THPT, quỹ thời gian 3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của HĐ nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu
Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn
Khi HS biết cách tự học, HS sẽ có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
HS phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với HS THPT, nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các
Trang 24bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học, … HS sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Với lối dạy theo hướng “nhồi nhét” trong các nhà trường phổ thông hiện nay, HS khó có thể có thời gian để tự học Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa HS sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông Nhận xét: Vì tự học quan trọng nên việc tìm ra các biện pháp đẩy mạnh tự học rất quan trọng, trong các nội dung sử dụng CNTT hỗ trợ tự học thì việc biên soạn HLS có vai trò đặc biết quan trọng
1.4 Quy trình thiết kế học liệu số
Căn cứ vào việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc thiết kế HLS, chúng tôi
đề xuất quy trình gồm các bước như sau
Bước 1: Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học
GV phải nghiên cứu kỹ giáo trình và tài liệu sau đó xác định được đâu là nội dung trọng tâm, từ đó trình bày rõ ràng nội dung trong khóa học
GV cần xác định các yêu cầu cần đạt của bài học từ đó xác định các mục tiêu để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Trên cơ sở đó xác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kĩ năng, thái
độ Đó chính là mục tiêu của bài
Những nội dung đưa vào bài giảng được chọn lọc từ khối lượng các tài liệu (thiết kế, tài liệu vận hành, tài liệu nhà chế tạo, …), được sắp xếp một cách lôgíc, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao
Bước 2: Xác định học liệu sử dụng trong học liệu và nguồn xây dựng
Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc
từ internet, hoặc được xây dựng mới bằng đồ hoạ, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video, bằng các phần mềm đồ hoạ chuyên dụng như Macromedia Flash, Photoshop, các phần mềm cắt ghép nhạc, chỉnh sửa video
Khi tiến hành, cần chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về
Trang 25hình ảnh, âm thanh Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm
Tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng
và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa nay sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác
Bước 3: Xây dựng kịch bản bài giảng
Cần thực hiện chi tiết và cần phải tuân thủ các nguyên tắc sư phạm, nội dung
cơ bản, đảm bảo mục tiêu bài học (cả về mặt kiến thức và kỹ năng)
Thực hiện các bước trong các nhiệm vụ dạy học: Xây dựng các bước dạy học, xây dựng sự tương tác người dạy và người học, xây dựng các câu hỏi tương tác, lắp ghép các bước lại thành quá trình dạy học
Bước 4 Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản
Tiêu chí cần căn cứ vào nhu cầu của người sử dụng, căn cứ vào nguồn tài chính, căn cứ vào trình độ của cán bộ kỹ thuật sử dụng công cụ như thế nào
Các công cụ: có nhiều công cụ, chẳng hạn Avina, Adobe Presenter, Lecture Marker, iSpring,…tuy nhiên một phần mềm được nhiều giáo viên sử dụng đó là Avina vì nó có khả năng tích hợp nhiều tính năng, đa phương tiện và trên hết có thể đồng bộ với Powerpoint nên nó tạo ra tính thân thiện và gần gũi đối với giảng viên
Các bước để số hóa kịch bản: Xây dựng được bài giảng bằng Avina Quá trình xây dựng phải đảm bảo các bước trong quá trình dạy học; Ghi âm, thu hình (quay video giảng viên giảng bài); Biên tập video, âm thanh; Sử dụng phần mềm
để đồng bộ bài giảng
Bước 5 Chạy thử chương trình, sửa chữa và đóng gói sản phẩm
Người thực hiện là nhóm kỹ thuật Công việc gồm: chạy thử chương trình, kiểm soát lỗi và chỉnh sửa bài giảng Sau đó, đóng gói bài giảng theo định dạng phù hợp với mục đích yêu cầu Kết thúc bước này ta đã có sản phẩm bài giảng trực tuyến
Trong mỗi bước của quy trình trên, người thực hiện có thể là giảng viên hoặc nhóm kỹ thuật hoặc cả hai Cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa giảng viên
và nhóm kỹ thuật
1.5 Cơ sở lí luận của việc thiết kế học liệu số trong dạy học
1.5.1 Cơ sở lí luận của việc thiết kế học liệu
Trang 26Mặc dù không phải mới xuất hiện nhưng trong những năm gần đây, cùng với
sự phát triển và đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục, khái niệm “học liệu” ngày càng trở nên phổ biến, xuất hiện thường xuyên hơn trong các bài viết, báo cáo khoa học,
có nhiều trung tâm nghiên cứu và sản xuất học liệu Hiện nay, có hai cách hiểu cơ bản về khái niệm “học liệu” như sau:
Ở Việt Nam, “học liệu là các phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản ánh nội dung học tập, nghiên cứu Học liệu có thể sử dụng dưới dạng truyền thống (tranh ảnh, ảnh dạng thẻ)” (Theo Khoản 2, Điều 2, Thông tư số số 11/2018/TTBGDĐT: Ban hành tiêu chí để xác định hàng hóa chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho giáo dục)
Trên thế giới, mặc dù được gọi bằng một số thuật ngữ tiếng Anh khác nhau như: Teaching materials (tài liệu giảng dạy), Learning materials (tài liệu học tập), Instructional materials (tài liệu hướng dẫn học tập) hay Learning Resources (tài nguyên học tập) nhưng khái niệm “học liệu” cơ bản được hiểu theo giải nghĩa của “Từ điển GreenWood về giáo dục” (The Greenwood Dictionary of Education) là: “những phương tiện được sử dụng để hỗ trợ cho việc truyền đạt kiến thức hoặc phát triển kĩ năng Ví dụ như sách giáo khoa, các nguồn tài liệu nghe nhìn, các chương trình máy tính và thiết bị thí nghiệm ” [112, tr.181]
Do đó, có thể hiểu chung nhất học liệu là các phương tiện vật chất mang, lưu giữ nội dung tri thức với ý tưởng sư phạm cụ thể để phục vụ việc dạy và học Học liệu gồm hai đặc trưng quan trọng là: lưu trữ thông tin và nội dung tri thức thể hiện
ý tưởng sư phạm cụ thể
1.5.2 Cơ sở lí luận của việc thiết kế học liệu số
Trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, công nghệ thông tin chính là "chìa khóa" của sự thay đổi, tạo nên một diện mạo mới tất
cả các lĩnh vực trong đời sống Đối với giáo dục, CNTT đã đưa đến sự ra đời và phát triển của các phương thức, phương tiện dạy học hiện đại chưa từng có trước đây, trong đó có “học liệu điện tử” Khái niệm “học liệu điện tử” mới xuất hiện từ những năm 50 của thế kỉ XX, cùng với sự ra đời phát triển của CNTT và được hiểu cùng một ý nghĩa với từ tiếng Anh là: “courseware”, được kết hợp từ “khóa học” (course) và “phần mềm” (software) [126, tr 823] Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “học liệu điện tử” - “courseware” nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất ba cách hiểu cơ bản về bản chất của “học liệu điện tử”:
Trang 27 Thứ nhất, theo nghĩa hẹp, HLS được hiểu là phần mềm giáo dục cụ thể được “đóng gói” dùng để tạo ra một phần khóa học hoặc một khóa học e-learning hoàn chỉnh (e - learning được hiểu là hình thức dạy học thông qua mạng Internet) [111, tr 109], [128, tr.3 - 4], [139], [149]
Thứ hai, theo nghĩa rộng, HLS là khóa học e - learning hoàn chỉnh với đầy đủ 4 cấu phần (thông tin chung về khóa học; hướng dẫn học tập; nội dung khóa học; tài liệu tham khảo chung) đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau: Thể hiện rõ ràng mục tiêu học tập; Cấu trúc rõ ràng, logic; Có nội dung chính xác, phù hợp với mục tiêu học tập; Giao diện thân thiện, dễ sử dụng, thuận tiện khi duyệt qua nội dung học tập; Hỗ trợ tìm kiếm thông tin… [93, tr 42 - 43], [98, tr 130] Để thiết kế và phát triển “học liệu điện tử” theo nghĩa này đòi hỏi sự tham gia của một nhóm các chuyên gia thuộc các lĩnh vực: giáo dục, thiết kế đồ họa, lập trình
Thứ ba, theo cách hiểu chung nhất học liệu điện tử được hiểu là hệ thống phương tiện học tập được số hóa theo ý tưởng sư phạm cụ thể nhằm phục vụ việc dạy và học Dạng thức số hóa có thể là văn bản, trang trình chiếu (slide), bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video số, các ứng dụng tương tác… và cả phương tiện hỗn hợp gồm các dạng thức nói trên [9], [138, tr 39], [161] Số hoá ở đây được hiểu là “việc sử dụng các thiết bị công nghệ số để chuyển đổi các hình thức tài liệu dưới dạng truyền thống sang dạng số để thông tin có thể được xử lí, lưu trữ và truyền phát qua các thiết bị kĩ thuật số và trên mạng Internet” [161]
Ba quan niệm trên mặc dù có những khác biệt nhất định ở mức độ tiếp cận nhưng đều thống nhất về mặt bản chất của HLS bao gồm hai thành phần: Thành phần vật chất: có chức năng lưu giữ hoặc phản ánh thông tin dưới dạng số hóa; Thành phần nội dung: chứa nội dung, định hướng học tập để cho người dạy và người học sử dụng phục vụ mục đích giáo dục cụ thể Hai thành phần này hoàn toàn không phải là sự kết hợp cơ học, khiên cưỡng Trên thực tế, chúng đan xen, hòa quyện thành một chỉnh thể thống nhất phục vụ mục đích cuối cùng là hiệu quả giáo dục Đây cũng chính là hai đặc trưng quan trọng tạo nên sự khác biệt HLS với các học liệu truyền thống và tư liệu dạy học Cụ thể, HLS khác với học liệu truyền thống ở thành phần vật chất số hóa, và khác với tư liệu điện tử ở thành phần nội dung có mục đích sư phạm cụ thể
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tiếp cận sử dụng khái niệm theo cách hiểu chung nhất, nhấn mạnh HLS với tư cách là một phương tiện số hóa phục vụ việc giảng dạy và học tập Đây cũng là cách hiểu được sử dụng phổ biến trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Trang 28Theo đó, HLS được HS sử dụng làm phương tiện, nguồn tài liệu để học tập
và được GV sử dụng như một phương tiện trực quan làm căn cứ để tổ chức, hỗ trợ học tập theo đúng mục tiêu, nội dung dạy học Từ việc thống nhất quan niệm về HLS nói chung, vận dụng vào DHVL có thể hiểu HLS trong DHVL là hệ thống tư liệu chứa thông tin về vật lý được số hóa theo ý tưởng sư phạm với các hình thức
đa dạng (văn bản, tranh ảnh, video, đồ họa trực quan (infographic), sách điện tử (e
- book), trang web ) và sử dụng theo một quy trình chặt chẽ hướng đến mục tiêu
cụ thể trong DHVL
1.5.2.2 Thiết kế và sử dụng HLS trong dạy học vật lý ở trường phổ thông
Trong bối cảnh giáo dục đang chịu sự tác động và thay đổi mạnh mẽ của CNTT, HLS với những đặc trưng riêng biệt sẽ có được ưu thế nổi trội hỗ trợ tích cực quá trình dạy và học của GV và HS hơn hẳn các phương tiện dạy học khác Tuy vậy, xét về mặt bản chất HLS cũng vẫn là công cụ giúp bài giảng sinh động, hấp dẫn hơn, không thể thay thế GV trong mọi hoạt động sư phạm Hiệu quả tiết học vẫn tập trung trước hết và chủ yếu vào vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động nhận thức của GV
Bởi vậy, trong phạm vi luận án thiết kế và sử dụng HLS trong dạy học vật lú
ở trường phổ thông được hiểu là: quá trình GV tạo nên HLS với các định dạng khác nhau dựa trên hệ thống tư liệu sẵn có hoặc GV tái tạo theo mục đích sư phạm
cụ thể Hệ thống HLS này được tập hợp trong một trang web học tập mà GV sẽ sử dụng theo hai hình thức dạy học (dạy học trực tiếp và dạy học kết hợp) một cách linh hoạt, phù hợp với các mô hình lớp học, thực tế dạy học và đối tượng người học đa dạng
Về nội dung, HLS cho phép cập nhật, thay đổi nội dung nhanh chóng Bên cạnh việc thể hiện định hướng sư phạm rõ nét, nội dung HLS có tính mở, cho phép kết nối với các kho tri thức trên Internet HS nhanh chóng thu nhận, mở rộng thông tin cần thiết với mọi định dạng từ các nguồn khác nhau bổ trợ cho nội dung kiến thức giới hạn trong SGK Dưới sự định hướng của GV, HS có thể dễ dàng tiếp cận nguồn kiến thức cập nhật mà không phải đợi đến khi tái bản hoặc thay sách mới
Tuy nhiên, trên thực tế để sử dụng hiệu quả HLS trong dạy học, GV cần lưu
ý một số điểm sau: Thứ nhất, tránh việc lạm dụng HLS với quá nhiều tranh ảnh, hiệu ứng dễ làm phân tán sự tập trung của HS trong giờ học Thứ hai, tìm hiểu
kỹ, đối sánh với nhiều nguồn tư liệu khác nhau để đảm bảo tính chính xác, khoa học của mỗi HLS, đặc biệt HLS có sẵn trên Internet Thứ ba, sử dụng kết hợp cả
Trang 29học liệu truyền thống và HLS một cách linh hoạt để có thể phù hợp với điều kiện
cơ sở vật chất của trường học và đối tượng HS khác nhau
1.5.2.3 Đặc trưng của học liệu số trong dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông
Xét về mặt bản chất HLS là phương tiện dạy học Tuy nhiên do những đặc thù của phương tiện dạy học hiện đại gắn liền với nền tảng công nghệ, HLS mang trong mình những đặc trưng riêng biệt, khác với phương tiện dạy học truyền thống
sẻ từ GV với nhau, GV với HS, HS với HS trở nên dễ dàng hơn, tiết kiệm chi phí
in ấn, lưu trữ, bảo quản
- Về chức năng, HLS có khả năng tương tác vượt trội Sử dụng HLS trên môi trường trực tuyến, HS có thể cùng lúc kết nối với nhau để hoàn thành bài tập, thiết kế các sản phẩm tạo ra các hoạt động học tập tập thể dù HS ở bất cứ đâu (trong lớp học hay ngoài lớp học) GV có thể chia sẻ thông tin, gửi phản hồi, nhận xét, đánh giá đến từng HS HS có cơ hội lựa chọn, thiết kế và sử dụng HLS theo sở thích, phong cách học tập của cá nhân Điều này cho phép nâng cao tính tương tác giữa HS với HS, HS với GV trong các mô hình lớp học tương tác, tạo cơ hội để HS
có thể học tập ở bất cứ đâu vào bất cứ thời điểm nào
1.5.2.4 Phân loại HLS trong dạy học ở VL ở trường phổ thông
Trang 30Để nâng cao hiệu quả và thuận lợi trong quá trình sử dụng HLS trong DHVL, cần chú ý đến việc phân loại HLS HLS ngày càng hoàn thiện về chất lượng và phong phú, đa dạng về loại kiến thức HLS có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa trên quan điểm tiếp cận như: phân loại theo nội dung học liệu; theo hình thức; theo mục đích sử dụng; theo chức năng; mức độ tương tác và theo định dạng của HLS Sử dụng trong DHVL, HLS có thể dựa vào định dạng để phân chia thành 5 loại:
Lý thuyết: là những kiến thức cơ bản có trong sách giáo khoa và các kiến thức liên hệ với thực tế; hệ thống phiếu học tập; các gợi ý chỉ dẫn, các câu hỏi hướng dẫn HS phát hiện tìm cách giải quyết vấn đề
Hình ảnh: là những hình ảnh minh họa cho các hiện tượng vật lý, tranh ảnh động (animation); sơ đồ kiến thức (organizer graphic) Ngoài tranh ảnh, còn
có hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, lược đồ, bản đồ tương ứng với nội dung bài học
Phim tư liệu: bao gồm các đoạn phim tư liệu nói về các sự kiện phát hiện ra các định luật vật lý, các phát minh,… các đoạn nhạc, đoạn thuyết minh, ghi âm là nguồn học liệu có tính trực quan cao, nội dung phong phú và có sự gắn kết chặt chẽ giữa âm thanh và kênh hình, tác động vào các giác quan của HS, cung cấp khối lượng thông tin lớn qua hình thức thể hiện hấp dẫn
Mô phỏng, tương tác: gồm phim hoạt hình lịch sử về các nhà phát minh, phim
đồ hoạ, trò chơi (game) tương tác, HS có thể “quan sát lại” hoặc mô phỏng lại quá trình xảy ra sự kiện, hiện tượng trong lịch sử Với khả năng tương tác vượt trội, hệ thống HLS này là một điểm nhấn của việc ứng dụng CNTT làm tăng hứng thú học tập của HS, và làm cho QTDH trở nên thú vị, kiến thức “sống động” hơn
Hỗn hợp: bao gồm tổng hợp các định dạng HLS nói trên, phổ biến hiện nay dưới hình thức là trang web, bài giảng điện tử và sách điện tử (e - book) Trang web học tập là phương tiện chính cung cấp thông tin trên Internet bao gồm tổ hợp các định dạng HLS khác nhau, được đại diện bởi một địa chỉ IP (Internet Protocol - giao thức Internet) Chính điều này tạo nên tính đa phương tiện của website học tập giúp hỗ trợ tự động hóa QTDH hoặc tham gia một số công đoạn trong QTDH trong môi trường trực tuyến (online)
Nội dung chính của luận án sẽ đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng học liệu điện tử dưới định dạng tổng hợp website học tập Trong đó, quy trình thiết kế HLS
sẽ tập trung hướng dẫn GV thiết kế một trang web học tập có khả năng tương tác cao và hỗ trợ việc tự học của HS trên cơ sở khai thác HLS có sẵn và HLS do GV tự
Trang 31xây dựng một cách hệ thống Với quy trình sử dụng HLS, sẽ có hướng dẫn chi tiết cho GV để sử dụng trang web học tập đã được thiết kế theo các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, bao gồm: dạy học trực tiếp và dạy học kết hợp Việc thiết kế và
sử dụng HLS trong DHVL không làm lu mờ đi vị trí của người giáo viên mà ngược lại càng khẳng định vai trò định hướng, tổ chức của họ
Trang 32TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1 chúng tôi trình bày
- Các cơ sở lý luận như dạy học với sự hỗ trợ của CNTT; tự học; dạy học phân hóa…Đây sẽ là những cơ sở, định hướng để biên tập nội dung HLS
- Trình bày tổng quan về HLS: Quan niệm, phân loại, hình thức sử dụng, … trong dạy học
- Tìm hiểu các công cụ phổ thông cho phép GV biên soạn HLS ở mức độ đơn giản
- Thực trạng việc biên soạn HLS ở mức độ đơn giản của GV toán ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Qua tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi đi đến kết luận: Việc biên tập các HLS
sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn toán Tuy nhiên để có được các HLS phù hợp với nội dung, chương trình ở phổ thông ta phải làm chủ được các công cụ, vận dụng hợp lý, sáng tạo các lý luận dạy học
Trang 33CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU SỐ TRONG CHƯƠNG
ĐỘNG HỌC – VẬT LÝ 10 2.1 Cấu trúc và nội dung bài học trong chương Động học – Vật lý lớp 10
Nội dung chương “Động học” được trình bày trong sách Vật lý 10 bản mẫu của nhà xuất bản giáo dục Việt Nam 2021, nội dung chính gồm những kiến thức sau
1 Độ dịch chuyển và quãng đường đi được
2 Tốc độ và vận tốc
3 Đồ thị dịch chuyển - thời gian
4 Chuyển động biến đổi Gia tốc
5 Chuyển động biến đổi thẳng đều
6 Sự rơi tự do
7 Chuyển động ném
Khi dạy về chương động học, ta phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản cần đạt được
Về kiến thức cơ bản: Khái niệm về chất điểm, hệ tọa độ, vận tốc, tốc độ trung bình, quãng đường đi được, độ dịch chuyển, gia tốc của chuyển động
Về kỹ năng:
Kĩ năng nhận biết và mô tả chuyển động: thẳng đều và thẳng biến đổi đều,
sự rơi tự do
Kĩ năng thiết kế phương án và thực nghiệm thí nghiệm đo tốc độ
Kĩ năng tổng hợp vector vận tốc, ghi nhớ và vận dụng các phép toán vector các công thức và cách tính các đại lượng hình học bằng tọa độ của các phép toán vector
Giải được các bài toán về vận tốc, độ dịch chuyển bằng phương pháp tổng hợp vector
2.2 Định hướng thiết kế một số bài học trong chương Động học – Vật lý lớp
10
2.2.1 Định hướng 1: Bám sát nội dung, chuẩn kiến thức kỹ năng
- Nội dung học liệu phải tương thích với chương trình, nội dung chương
“Động học”
Trang 34- Tập trung vào việc hệ thống hóa tri thức, rèn luyện kỹ năng nhằm đáp ứng đầy đủ chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình VL 10 nói chung, chương “Động học” nói riêng
2.2.2 Định hướng 2: Phù hợp với xu thế đổi mới PPDH, trong đó tập trung vào thể hiện rõ tư tưởng dạy học phân hóa
HLS phải thể hiện rõ xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đã trình bày ở chương 1
Việc vận dụng dạy học phân hóa vào biện tập học liệu điện tử được cụ thể hóa thành các yêu cầu sau:
- Quán triệt mục tiêu dạy học: Khi thiết kế các HĐ học tập cho HS, GV cần
cụ thể hoá bằng các câu hỏi (CH), bài tập (BT) hướng vào mục tiêu bài học Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giải quyết được các CH, BT đó cũng đồng thời là quá trình thực hiện các mục tiêu dạy học đã đề ra
- Phát huy tính tích cực của HS: Câu hỏi và bài tập phải đảm bảo tính vừa
sức CH, BT phải được xây dựng sao cho có thể tạo ra động lực tìm tòi cái mới, tức
là tạo ra mâu thuẫn chủ quan giữa biết và chưa biết ở HS nhằm phát huy tính tự giác, tích cực và sáng tạo của HS
- Đảm bảo tính hệ thống: Nội dung kiến thức trong từng phần, từng chương,
từng bài đều được trình bày theo một lôgic hệ thống Vì vậy câu hỏi và bài tập với
tư cách là công cụ HĐ của HS khi xây dựng phải quán triệt tính hệ thống Cụ thể, các câu hỏi và bài tập phải được sắp xếp theo một logic hệ thống cho từng nội dung SGK: Cho một bài, cho một chương, một phần và cả chương trình môn học Khi xây dựng câu hỏi và bài tập cần chú ý đến mối quan hệ có tính hệ thống giữa cái đã biết và cái chưa biết Khi nhiều câu hỏi và bài tập được sử dụng để tổ chức dạy học chúng phải được tổng hợp lại theo một hệ thống mà ở đó trật tự câu hỏi và bài tập có ý nghĩa quan trọng Câu hỏi và bài tập làm trước nhiều khi có tác dụng làm tiền đề cho xây dựng và trả lời câu hỏi tiếp theo liền kề hoặc không liền kề Một số trường hợp lời giải đáp cho câu hỏi và bài tập trước có tác dụng làm nảy sinh câu hỏi và bài tập tiếp theo
- Phù hợp với trình độ, đối tượng HS: Đây là một trong những nguyên tắc
quan trọng để xây dựng câu hỏi và bài tập phân hóa trong dạy học Toán học
Ngoài những nguyên tắc chung nêu trên, khi thiết kế CH, BT cũng còn phải lưu ý tới các đặc điểm của câu hỏi và bài tập phân hoá
Trang 35Như vậy, việc xây dựng câu hỏi và bài tập phân hóa phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản trên Tuy nhiên, không phải câu hỏi và bài tập nào cũng phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc đó Tùy vào từng nội dung kiến thức, tùy vào mục đích của từng bài học mà vận dụng các nguyên tắc một cách linh hoạt
2.2.3 Định hướng 3: Có tính đại trà và phổ cập
Để HLS thực sự là những bài giảng “có hồn” và phù hợp với xu thế đổi mới PPDH thì GV tốt nhất trong việc thiết kế HLS hơn ai hết, chính là các GV trực tiếp đứng lớp Như vậy việc biên tập học liệu phải được thực hiện trên những công cụ phổ thông với quy trình đơn giản để tất cả các GV đều có thể tham gia và thực hiện được
Căn cứ vào điều kiện của các trường THPT trên địa bàn thực nghiệm, chúng tôi nghiêng về việc sử dụng các phần mềm công cụ phổ cập như Powerpoint và các website thực hiện thí nghiệm ảo như phet.colorado.edu
2.3 Thiết kế dạy học sử dụng học liệu số trong chương Động học – Vật lý lớp
10
2.3.1 Quy trình xây dựng HLS
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu của bài học cần được cụ thể hóa thành những tri thức HS cần chiếm lĩnh, những kỹ năng HS cần rèn luyện và thái độ học tập căn cứ vào yêu cầu cần đạt của chương trình GDPT 2018 môn Vật Lý và những năng lực, phẩm chất cần hình thành
Bước 2: Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm
Trước hết nội dung học liệu cần phải cung cấp đầy đủ cho HS hình dung được tính hệ thống, đầy đủ của vấn đề, tuy nhiên cần phải xác định trọng tâm bao gồm các tri thức sự vật, tri thức phương pháp, tri thức chuẩn và tri thức giá trị Trong đó đặc biệt trú trọng đến những tri thức phương pháp có trong mỗi nội dung
Để xác định đúng kiến thức cơ bản, trọng tâm cần lưu ý: Bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn, tham khảo tài liệu để hoàn thiện, mở rộng hiểu biết về vấn đề cần giảng dạy dựa vào khung chương trình và yêu cầu cần đạt
Phương pháp Nêu được chuyển động, chất điểm, hệ quy chiếu, mốc thời gian,
Trang 36nghiên cứu
chuyển động
độ dịch chuyển Phân biệt độ dịch chuyển và quãng đường đi được Tính vector độ dịch chuyển của chuyển động bằng phương pháp tổng hợp vector
Dựa vào đồ thị tọa độ của chuyển động làm được cái bài toán liên quan
từ đó suy ra công thức tính quãng đường đi được
Sự rơi tự do Nêu được sự rơi tự do là gì, đặc điểm của sự rơi tự do, gia tốc rơi
- Chi tiết hóa cấu trúc kịch bản sư phạm
- Xác định các hoạt động trong quá trình dạy học
- Xác định quá trình tương tác giữa GV, HS với các đối tượng (phim, ảnh, text, )
Trang 37- Xác định các câu hỏi, phương án thu nhận và xử lý thông tin phản hồi
- Kết nối (lắp ghép) thành tiến trình dạy học
Bước 4: Lựa chọn tư liệu
Căn cứ vào nội dung và ý đồ sử dụng HLS, GV cần:
- Tìm kiếm tư liệu: phim (video), ảnh (image), hoạt cảnh (animation)
- Xử lí tư liệu
- Thiết kế phương án sử dụng tư liệu trong mỗi hoạt động
Bước 5: Lựa chọn phần mềm công cụ và số hóa kịch bản dạy học
- Lựa chọn phần mềm công cụ thích hợp
- Cài đặt (số hóa) nội dung
- Tạo hiệu ứng cho các tương tác
Bước 6: Chạy thử, xin ý kiến chuyên gia và đồng nghiệp
Bước 7: Chỉnh sửa và hoàn thiện, đăng tải
Trang 38HLS của chương “Động học” được thiết kế tương ứng theo sơ đồ sau
Ở đây ta dùng website https://shub.edu.vn/ để trình bày nội dung này
đồ thị độ dịch chuyển và thời gian
Chủ đề 2: Chuyển động biến đổi, biến đổi đều và gia tốc
Chủ đề 3: Sự rơi
tự do
Tự kiểm tra đánh giá
Đề kiểm tra trắc nghiệm
Đề kiểm tra tự luận
Trang 39Sắp xếp nội dung trong các thư mục giống như trong slide
2.3.2 Phân loại học liệu số theo mục đích
2.3.2.1 Thiết kế học liệu số cho mục đích hệ thống hóa kiến thức cơ bản
Trên cơ sở nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của chương
“Động học”, HLS nhằm hệ thống hóa kiến thức chương “Động học” được thiết kế bám sát theo chương trình sách giáo vật lý 12 bản mẫu của nhà xuất bản và đạo tạo Việt Nam giúp HS có thể tự học một cách dễ dàng nhất
Ví dụ 3: Bài “Độ dịch chuyển và quãng đường đi được” kiến thức cơ bản gồm: vật làm mốc, chất điểm, hệ tọa độ, độ dịch chuyển và quãng đường đi được
HLS tương ứng với bài “Độ dịch chuyển và
quãng đường đi được” được thiết kế trên
phần mềm powerpoint như hình 2.1
Hình 2.1 Slide trang bìa bài giảng
Trang 40HS bấm vào nút tiếp tục để bắt đầu bài
giảng, từ slide này HS có thể click vào các
slide có nội dung khác nhau theo tùy chọn
của mình (hình 2.2)
2.3.2.2 Thiết kế học liệu số cho mục đích rèn luyện kỹ năng giải toán cơ bản
- Xác định nội dung của HLS
Với mục tiêu nhằm giúp cho HS rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải các bài tập dạng cơ bản qua đó khắc sâu kiến thức, hệ thống các bài tập thuộc phần này chúng tôi xây dựng trên cơ sở vận dụng lý luận về DH phân hóa Các dạng bài tập này được sử dụng trong ôn tập rèn kỹ năng giải toán sau mỗi bài học, mỗi phần và cuối chương, cụ thể:
- Hệ thống bài tập dành cho HS yếu kém: Đây là các bài tập hết sức đơn
giản, chỉ cần HS hiểu được khái niệm, biết công thức để vận dụng
- Hệ thống bài tập dành cho HS có nhận thức trung bình, trung bình khá:
Các bài tập ở nhóm này không đơn thuần chỉ là sự vận dụng cơ học những kiến thức đã học mà HS phải hiểu thực sự một số vấn đề và biết vận dụng chúng vào giải bài tập
- Hệ thống bài tập dành cho HS khá giỏi: Đây là các bài tập ở mức độ cao
hơn so với các bài trên và phù hợp cho đối tượng HS khá và giỏi, để làm bài tập này tốt đòi hỏi HS phải vận dụng các kiến thức một cách linh hoạt Nhằm phát triển các khả năng phân tích, tư duy, tính toán, …
Các bài tập này thường kèm theo lời giải chi tiết và dự kiến các HĐ để hỗ trợ HS khi giải quyết các bài tập
2.3.2.3 HLS phần tự kiểm tra, đánh giá
HLS có nhiệm vụ hỗ trợ HS tự kiểm tra đánh giá cần phải được biên tập hết sức chính xác và khách quan trong đánh giá
Phương án kiểm tra trắc nghiệm được xem là phương tiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS, nó được sử dụng như một biện pháp tích cực, hữu hiệu để