ACIAR in Vietnam January Tháng 1 2013 News ACIAR – MALICA Workshop on Agribusiness Research for Development Methods P.2 Australian Foresters receive MARD Award P.2 Scoping Studies: Opp
Trang 1ACIAR in Vietnam January Tháng 1 2013
<aciar.gov.au>
News
ACIAR – MALICA Workshop on Agribusiness Research for
Development Methods (P.2)
Australian Foresters receive
MARD Award (P.2)
Scoping Studies: Opportunities to improve the sustainable utilisation and
management of water and soil resources for coastal agriculture in
Vietnam and Australia (P.3)
3rd International Conference for Conservation Agriculture in South East Asia (P.3)
Project updates
Project AGB/2008/002 “Improved market engagement for sustainable upland
production systems in the North West Highlands of Vietnam”
through the eyes of farmers (P.6)
CLUES project holds second semi-annual review and workshop in
Can Tho University (P.8)
PigRISK Stakeholder Workshop in Hung Yen and Nghe An
Launching research on benefits of nutrition and risks of food safety of
animal source foods in Vietnam (P.12)
A new type of Acacia tree is now under field trial in Vietnam (P.14)
ACIAR aquafeed project set to boost marine aquaculture
in Viet Nam (P.16)
Market analysis project completion (P.20)
ACIAR Fellowships
Tin tức
Hội thảo Phương pháp Nghiên cứu Kinh doanh Nơng nghiệp -
ACIAR và MALICA (P.2)
Các nhà Khoa học Lâm nghiệp Australia nhận huân chương của
Bộ Nơng nghiệp và Phát triển Nơng thơn Việt Nam (P.2)
Dự án nghiên cứu khả thi:
Cơ hội cải thiện quản lí và sử dụng bền vững tài nguyên đất
và nước cho nơng nghiệp ven biển Australia và Việt Nam (P.3) Hội thảo Quốc tế về Nơng nghiệp Bảo tồn tại Đơng Nam Á lần thứ 3 (P.3)
Cập nhật từ dự án
Dự án AGB/2008/002 “Cải thiện các hệ thống sản xuất nơng nghiệp và liên kết thị trường nơng sản ở vùng cao
Tây Bắc, Việt Nam” qua cái nhìn của bà con nơng dân (P.7)
Dự án CLUES tổ chức
Hội thảo sơ kết giữa năm lần thứ hai tại trường Đại học Cần Thơ (P.9)
Hội thảo các bên liên quan tại Hưng Yên và Nghệ An - dự án PigRISK Khởi động nghiên cứu về lợi ích dinh dưỡng và nguy cơ an tồn
thực phẩm của sản phẩm động vật tại Việt Nam (P.13) Một dạng mới của Keo đang được trồng tại Việt Nam (P.15)
Dự án ACIAR nghiên cứu thức ăn thủy sản thúc đẩy
nghề nuơi biển ở Việt Nam (P.17) Kết thúc Dự án Phân tích Thị trường (P.21)
Học bổng ACIAR
Sloping land maize cultivation, North West Vietnam Erosion visible in background; trial with residue retain as mulch in foreground
Trồng ngơ trên đất dốc tại vùng Tây Bắc Việt Nam Phía sau là hình ảnh đất xĩi mịn do trồng theo phương pháp thơng thường;
phía trước là thử nghiệm che phủ đất bằng thân xác thực vật để hạn chế xĩi mịn đất
Trang 2Ngày 2 tháng 11 năm 2012 Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (NN&PTNT) đã tổ chức Lễ trao huân chương
cho bốn nhà khoa học Australia, những người đã có 20 năm
đóng góp trong lĩnh vực lâm nghiệp Đó là Ông Stephen
Midgley, TS Chris Harwood, GS TS Sadanandan Nambir và
Ông Khongsak Pinyopusarek Các nhà khoa học này đều khởi
đầu công việc của họ với Việt Nam thông qua Tổ chức Nghiên
cứu Khoa học Công nghiệp Khối thịnh vượng chung (CSIRO)
và đã đang hợp tác với các nhà khoa học của Viện Khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam (KHLNVN) trong suốt hơn 20 năm qua,
nhằm đưa vào khảo nghiệm và trồng tại Việt Nam các giống
cây trồng có nguồn gốc từ Nam Thái Bình Dương thông qua
các dự án do ACIAR và AUSAID tài trợ kinh phí Ông Lương
Thế Phiệt – Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ NN&PTNT
đã trao huân chương Vì Sự Nghiệp Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Việt Nam cho bốn nhà khoa học này Tới dự buổi
lễ còn có khoảng 30 cán bộ từ Viện KHLNVN, Bộ NN&PTNT
và Đại sứ quán Australia Trong bài phát biểu của mình, ngài
Đại sứ Australia, Hugh Borrowman đã nêu: “Chúng ta đều biết
rằng sự hợp tác lâu dài nhất giữa Australia và Việt Nam chính
là sự hợp tác về khoa học ACIAR đã tài trợ cho nhiều lĩnh vực
Ngành nông nghiệp và chăn nuôi của Việt Nam ngày càng chịu
nhiều ảnh hưởng bởi những thay đổi trong thị trường nội địa
và quốc tế Chiến lược phát triển nông thôn cần xác định được
các chuỗi giá trị thị trường tin cậy giúp tạo thu nhập bền vững
cho người dân nông thôn Các yêu cầu để thâm nhập được thị
trường ảnh hưởng và thậm chí có thể đòi hỏi các sáng kiến, kỹ
thuật nông nghiệp mới Các chuỗi cung ứng hỗ trợ nông nghiệp
cũng đòi hỏi cải thiện mối liên kết giữa người sản xuất, ngành
công nghiệp chế biến và hệ thống phân phối sản phẩm nông
nghiệp nhằm thiết lập được các qui tắc thị trường phù hợp
Để giải quyết vấn đề nói trên, được sự tài trợ của Tổ chức Quỹ
Crawford (Crawford Fun), ACIAR đã phối hợp cùng Nhóm nghiên
cứu kết nối thị trường và sản phẩm nông nghiệp cho các thành
phố Châu Á (MALICA) tổ chức hội thảo Phương pháp Nghiên
cứu Kinh doanh Nông nghiệp vào hai ngày 11 và 12 tháng 9
năm 2012 tại Tản Đà Resort, Ba Vì nhằm chia sẻ kinh nghiệm từ
nhiều dự án nghiên cứu Hơn 50 chuyên gia nghiên cứu phát
triển, các nhà khoa học trong lĩnh vực phân tích kinh tế định
lượng, thị trường và chuỗi giá trị đến từ Australia, Pháp, Mỹ,
Philippin và Việt Nam đã tham dự hội thảo Hội thảo tạo điều
kiện cho các chuyên gia này chia sẻ, học hỏi những kinh nghiệm,
bài học thành công cũng như khó khăn từ những hoạt động,
dự án nghiên cứu và phát triển của mình Một trong những
kết quả có được từ hội thảo là sự hình thành chương trình cao học (Master Class) về các phương pháp nghiên cứu Kinh doanh nông nghiệp Đề xuất về chương trình này sẽ được xây dựng cụ thể hơn vào đầu năm 2013
ACIAR xin cảm ơn Tổ chức Quỹ Crawford đã hỗ trợ để tổ chức hôi thảo này Nội dung các bài trình bầy tại hội thảo được đăng
trên trang web:
http://www.malica-asia.com/en/aciar-malica-agrobusiness-rnd-workshop-09-2012/
Hội thảo Phương pháp Nghiên cứu Kinh doanh Nông nghiệp - ACIAR và MALICA
nông nghiệp, song sự hợp tác trong lĩnh vực lâm nghiệp đã để lại nhiều dấu ấn đáng kể và không ngừng phát triển mạnh mẽ
từ hai thập kỷ qua” Trong khi công nhận sự đóng góp của các nhà khoa học này, chúng ta không thể không công nhận sự tân tâm, lòng nhiệt tình và sự cởi mở của các nhà khoa học Việt Nam như GS TS Lê Đình Khả và TS Hà Huy Thịnh Không có sự hợp tác tuyệt vời của họ thì mối quan hệ hợp tác của chúng ta không thể phát triển như ngày nay ACIAR rất tự hào đã hỗ trợ công việc của bốn nhà khoa học này cũng như các cán bộ của Viện KHLN Việt Nam trong thời gian qua
Các nhà Khoa học Lâm nghiệp Australia
nhận huân chương của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam
Discussion points at the workshop Các vấn đề thảo luận tại hội thảo
Australian Ambassador, Mr Huge Borrowman speaking at the Medal Award Ceremony
Ngài đại sứ Hugh Borrowman phát biểu tại Lễ trao Huân chương
Trang 3<aciar.gov.au>
(ACIAR) đã tài trợ cho đoàn nghiên cứu gồm: Bộ Các ngành
Công nghiệp cơ bản, bang NSW Australia, Viện Quản lý nước
Quốc tế (văn phòng vùng tại Lào), Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHẢ THI:
Cơ hội cải thiện quản lí và sử dụng bền vững tài nguyên đất
và nước cho nông nghiệp ven biển Australia và Việt Nam
cao Bền vững: Sáng kiến vì nông dân, cùng nông dân và
do nông dân thực hiện nhằm thích ứng với những biến đổi
trong khu vực và thế giới” đã diễn ra tại Hà Nội từ ngày 10 đến
ngày 14 tháng 12 năm 2012 Hội thảo được tài trợ bởi ACIAR,
AFD, FFEM, Bộ Ngoại Giao Cộng Đồng Châu Âu và tổ chức bởi
Viện Khoa Học Nông Lâm Nghiệp các tỉnh Miền núi Phía Bắc
(NOMAFSI), Trung tâm Phát triển và Nghiên cứu Nông Nghiệp
Pháp (CIRAD) và Trường Đại học Queensland Trong 5 ngày hội
thảo, hơn 100 đại biểu tham dự đến từ trên 25 quốc gia đã
được nghe báo cáo về các sáng kiến trong nông nghiệp bảo
tồn và các thách thức trong việc ứng dụng Tham luận của các
đại biểu đến từ các quốc gia, khu vực khác nhau đã tạo cơ hội
cho hội thảo thao khảo các ý kiến cũng như các bài học kinh
nghiệm từ những nghiên cứu trên khắp thế giới Chuyến thăm
quan dã ngoại được tổ chức vào ngày thứ Tư tới huyện Mộc
Châu là quãng thời gian “giải lao” thú vị của hội thảo Mặc dù
chuyến đi qua các vùng núi mù sương thật dài, song địa điểm
thí nghiệm lại là nơi đầy nắng Các thành viên đã được tận mắt
chứng kiến một số thí nghiệm đang thực hiện tại vùng Tây Bắc Việt Nam thuộc một dự án của CIRAD/NOMAFSI, đồng thời họ cũng được thăm quan các hệ thống máy gieo hạt thẳng/trực tiếp tại đây Qui mô hội thảo đã được mở rộng ngoài mong muốn cho các dự án do ACIAR và CIRAD tài trợ tại khu vực này Hội thảo thực sự là một cơ hội giá trị cho các thành viên tham dự chia sẻ những kinh nghiệm, thành công cũng như khó khăn Để biết thêm thông tin về Bảo tồn Nông nghiệp trong khu vực và những ấn phẩm về hội thảo này, xin truy cập trang web của CANSEA: http://cansea.org.vn/
Hội thảo Quốc tế về Nông nghiệp Bảo tồn
tại Đông Nam Á lần thứ 3
nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam và Trường Đại học Murdoch, Australia để thực hiện chuyến nghiên cứu khả thi nhằm xem xét cơ hội cải thiện việc sử dụng bền vững tài nguyên đất và nước trong sản xuất nông nghiệp vùng Duyên hải Nam
Trung bộ Việt Nam Đoàn nghiên cứu đã gặp
gỡ các đối tác tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam
từ ngày 12 đến 23 tháng 11 vừa qua nhằm thu thập các thông tin về kiến thức quản
lý nước với phương thức canh tác có tưới tiêu cũng như về quản lí đất và dinh dưỡng, đặc biệt vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước, dinh dưỡng và hiệu quả cây trồng tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam Đoàn nghiên cứu hiện đang tổng kết các thông tin thu thập từ chuyến công tác và
sẽ họp mặt để hoàn tất tài liệu dự thảo đề xuất dự án mới vào đầu năm 2013 và trình lên ACIAR xét duyệt
Visit Atifical Equifer in Ninh Thuan
Đi thăm hệ thống trữ nước nhân tạo tại tỉnh Ninh Thuận
Trang 4Từ năm 2009, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp
miền núi phía Bắc, Viện Bảo vệ Thực vật, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp và Trường Đại Học Queensland đã cùng với 37 nông dân thuộc 7 làng bản tại 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu thuộc miền núi phía Tây Bắc, Việt Nam cộng tác nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp, góp phần cải thiện hệ thống nông nghiệp và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Đây là một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ của dự án “Cải thiện các hệ thống sản xuất nông nghiệp và liên kết thị trường nông sản ở vùng cao Tây Bắc, Việt Nam” do ACIAR tài trợ (AGB/2008/002) Một loạt các thử nghiệm đã được thực hiện trên ruộng nương của nông dân và cùng với sự tham gia của họ: từ bước lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi thử nghiệm đến phân tích và đánh giá kết quả trong suốt 3 năm thực hiện dự án Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng các giải pháp kỹ thuật có thể chống xói mòn
và cải thiện tình hình sản xuất Tuy nhiên, chúng tôi muốn để nông dân tự nói cho chúng ta biết kỹ thuật nào phù hợp để họ
áp dụng trong điều kiện sản xuất tại địa phương
Nông dân đã chia sẻ với chúng tôi quan điểm riêng của họ về các thử nghiệm qua các câu chuyện hình ảnh Tại mỗi bản, chúng tôi đã cung cấp một máy ảnh cho một nông dân để chụp lại các hình ảnh thú vị thể hiện sự thay đổi, có thể là tích cực hoặc tiêu cực liên quan đến các hoạt động của dự án Sau mỗi hai tháng, chúng tôi cùng nông dân xem lại các hình ảnh
và sắp xếp để tạo thành các câu chuyện Sau đó, nông dân treo các câu chuyện bằng hình ảnh này tại nhà riêng hay nhà văn hóa của bản để chia sẻ và gợi mở các cuộc thảo luận nhóm về các hoạt động của dự án với các thành viên khác trong cộng đồng Các câu chuyện hình ảnh cũng giúp nhóm cán bộ nghiên cứu hiểu thêm về quan điểm của nông dân đối với các hoạt động dự án và những kỹ thuật mà nông dân muốn áp dụng trong điều kiện sản xuất của họ
Chúng tôi đã lựa chọn 33 câu chuyện điển hình từ hàng trăm câu chuyện để chia sẻ trong tài liệu “câu chuyện hình ảnh” bằng cả hai ngôn ngữ Tiếng Việt và Tiếng Anh Cuốn tài liệu này sẽ được công bố tại Hội nghị Nông nghiệp bảo tồn khu vực Đông Nam Á lần thứ 3 được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 10-14 tháng 12 năm 2012 Tài liệu này cũng được đăng tải lên trang web của dự án www.taybacxanh.net và bản cứng của tài liệu được lưu trữ và phân phối tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (Phú Hộ, Phú Thọ, Việt Nam -Tel +84 210 3865073) hoặc tại Trung tâm truyền thông
vì sự thay đổi của xã hội, Đại học Queensland (email: ccsc@ uq.edu.au)
Dự án AGB/2008/002
Elske van de Fliert and Oleg Nicetic (Trường ĐH Queensland), Phạm Thị Sến (Viện NCNLN MN phía Bắc), Lê Thị Hằng Nga (Phiên dịch)
Dự án AGB/2008/002 “Cải thiện các hệ thống sản xuất nông nghiệp
và liên kết thị trường nông sản ở vùng cao Tây Bắc, Việt Nam”
qua cái nhìn của bà con nông dân
Trang 5PROJECT UPDATES
<aciar.gov.au> <aciar.gov.au> NEWS
Dự án SMCN/2009/021
TS Ngô Đằng Phong, Nguyễn Thanh Giao, Đặng Quỳnh Giao (Văn Phòng CLUES)
Dự án CLUES tổ chức Hội thảo sơ kết giữa năm lần thứ hai tại trường Đại học Cần Thơ
ở Đồng bằng sông Cửu Long: sự thích ứng các hệ thống canh tác trên nền lúa” (Dự án CLUES) đã tổ chức Hội thảo sơ kết giữa năm lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 8 năm
2012 tại trường Đại học Cần Thơ Hơn 60 nhà khoa học Việt Nam và cán bộ của Đại học Cần Thơ, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Qui hoạch Thủy lợi Miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh An Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và thành phố Cần Thơ cũng như các nhà khoa học đến từ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và Viện Quản lý nước Quốc tế (IWMI) đã tham gia hội thảo
Các nhà khoa học đến từ Viện lúa Quốc tế IRRI tham gia hoạt động này gồm có TS Reiner Wassmann , GS Tô Phúc Tường, TS Russell Reinke, TS Romeo Labios, và TS Ngô Đằng Phong Đại diện của Viện Quản lý nước Quốc tế có TS Chu Thái Hoành, Đại học Cần Thơ có GS Lê Quang Trí và ACIAR-Việt Nam có ông Geoff Morris và Bà Vũ Thị Hải Hậu
Trong phần chính của hội thảo, các trưởng hợp phần, TS Nguyễn Xuân Hiền (SIWRP), TS Nguyễn Thị Lang (CLRRI), TS
Participants visited field experiment on straw management at Hoa An station, Hau Giang province on 8/8/2012 Các đại biểu thăm ruộng thí nghiệm quản lý rơm rạ tại Hòa An, tỉnh Hậu Giang ngày 8/8/2012
Green house Gas sampling on one experimental field in CLRRI Lấy mẫu khí hiệu ứng nhà kính trên ruộng lúa tại Viện Nghiên Cứu Lúa ĐBSCL
Trang 6Lê Văn Hòa (CTU), TS Đặng Kiều Nhân (CTU), TS Nguyễn Hiếu
Trung (CTU) và TS Cao Văn Phụng (CLRRI) đã trình bày các
thành tựu đã đạt được trong giai đoạn tháng 03 năm 2011
đến tháng 07 năm 2012 Một số thành tựu nổi bật của Dự án
có thể tóm tắt như sau:
• Đã hình thành các bản đồ rủi ro do xâm nhập mặn và lũ ở
đồng bằng sông Cửu Long và Bạc Liêu
• Xây dựng bản đồ sử dụng đất và bản đồ đất đai tỉnh Bạc Liêu
đại diện cho vùng ven biển của ĐBSCL
• Đã đánh giá và phân tích các trở ngại do biến đổi khí hậu tác
động lên các hệ thống canh tác dựa trên nền lúa và khả năng
thích ứng của nông dân tại vùng nghiên cứu
• Đã tiến hành phổ biến kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ tại Bạc
Liêu cùng GIZ Bạc Liêu cho khoảng 100 nông dân
• Đã chọn được 27 giống lúa có khả năng chịu mặn là OM
5629 và OM 6677 cũng như đã xác định được 12 kiểu gen có
khả năng phục hồi nhanh sau stress như MNR 1, MRN 4, MNR
3, OM 6677, và OM 70 Các giống lúa có khả năng chịu mặn
và phèn vừa được phóng thích có thể sẽ được nhân rộng ra
thông qua các thử nghiệm chọn lọc giống có sự tham gia của
(PVS) và mạng lưới các hoạt động sản xuất giống
• Đã đánh giá 14 kiểu di truyền cao sản chịu ngập tại các ruộng
thí nghiệm được chọn của nông dân ở Bạc Liêu, An Giang, Hậu
Giang và Cần Thơ
• Đã quản lý các thử nghiệm 12 kiểu di truyền cao sản có khả
năng chịu đồng thời mặn và ngập tại các ruộng thí nghiệm
được chọn của nông dân ở Bạc Liêu
• Đã đánh giá được 12 kiểu di truyền với mức độ chống chịu
với điều kiện ngập úng tại các ruộng thí nghiệm được chọn của
nông dân ở Hậu Giang
• Đã thanh lọc tổng cộng 300 giống lúa địa phương (bao gồm
40 giống lúa truyền thống, 200 giống cải tiến và 60 giống IRRI) cho khả năng sống sót và phục hồi tốt trong các điều kiện hiếm khí
nhau khi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sản xuất khác nhau Tốc
hơn so với các ô thí nghiệm áp dụng kỹ thuật tưới khô ướt xen
tuổi cây lúa và đạt tốc độ cực đại ở giai đoạn trổ bông và giảm khi độ sâu mực nước giảm tại thời điểm thu hoạch
• Trái ngược với khí mê tan, tốc độ phát thải khí nitrous oxide
tuy nhiên sự phát thải cao nhất trên ruộng khô nước ở thời điểm thu họach
• Việc sử dụng phân hữu cơ đã họai mục không làm tăng sự phát thải khí methane trên ruộng lúa nước Trái lại việc sử dụng phân đạm hóa học cao lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát thải methane và nitrous oxide cao hơn Tốc độ phát
so với khi bón phân ủ ở liều lượng 6t/ha
Trước ngày hội thảo chính, các cuộc họp khoa học cho các nhóm học phần được tổ chức tại văn phòng CLUES vào ngày 6-7 tháng 8 Trong chương trình dành cho mỗi nhóm học phần, các báo cáo khoa học đã được các thành viên và tư vấn quốc tế xem xét đánh giá,
Một chuyến tham quan thực địa đến điểm thí nghiệm về quản
lý rơm rạ trên ruộng lúa tại Hòa An, tỉnh Hậu Giang đã được thực hiện vào ngày 8 tháng 8 năm 2012, trước ngày hội thảo chính, nhằm đánh giá các hoạt động ngoài đồng của dự án Sau đó các đại biểu đã đi thăm cơ sở vật chất cho nghiên cứu
và giảng dạy của Khoa Phát Triển Nông Thôn, tại Hòa An của trường Đại Học Cần Thơ
Để biết thêm thông tin, xin truy cập trang web: http://www irri.org/
>> Tiếp theo trang 9
Participants visited field experiment on straw management at Hoa An station, Hau Giang province on 8/8/2012
Các đại biểu thăm ruộng thí nghiệm quản lý rơm rạ tại Hòa An, tỉnh Hậu Giang ngày 8/8/2012
Trang 7PROJECT UPDATES
<aciar.gov.au>
nâng cao an toàn thực phẩm trong chuỗi giá trị thịt lợn đối
với các tác nhân quy mô nhỏ tại Việt Nam”, Trường Đại học Y tế
công cộng, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Viện chăn
nuôi Quốc tế (ILRI) đã tổ chức hội thảo giới thiệu một số thông
tin của dự án tới các đơn vị liên quan tại địa phương tỉnh Nghệ
An (ngày 22 – 23 tháng 11 năm 2012) và tỉnh Hưng Yên (ngày
26 – 27 tháng 11 năm 2012) Mục đích chung của hai cuộc hội
thảo nhằm thu thập một số thông tin từ các bên liên quan và
thực hiện đánh giá nhanh (RVCA và RIA) chuỗi giá trị chăn nuôi
lợn qui mô nông hộ tại hai tỉnh Hưng Yên và Nghệ An
Hơn 80 đại biểu đến từ nhóm nghiên cứu của hai trường Đại học, Viện Chăn nuôi Quốc tế, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các nhà quản lý thú y, nông nghiệp, y tế, an toàn thực phẩm, các hộ chăn nuôi, kinh doanh bán buôn, bán
lẻ, người tiêu dùng nằm trong hai tỉnh Hưng Yên và Nghệ An đã tham dự các hoạt động của hội thảo
Nội dung hội thảo xoay quanh năm câu hỏi chính: (i) Những mong muốn của anh/chị đối với ngành chăn nuôi lợn của địa phương? (ii) Những xu hướng của ngành chăn nuôi lợn tại địa phương hiện nay? (iii) Những lo lắng của anh/chị đối với ngành chăn nuôi lợn tại địa phương? (iv) Những giải pháp đã thực hiện tại địa phương nhằm giải quyết những vấn đề của ngành chăn nuôi lợn? (v) Những kiến nghị của anh/chị nhằm giải quyết những vấn đề của ngành chăn nuôi lợn? Những thông tin này giúp nhóm nghiên cứu đưa ra một bức tranh tổng quát về chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại các địa phương nghiên cứu
Kết thúc hội thảo, những vấn đề được các đơn vị liên quan tại địa phương quan tâm nhất bao gồm: tình hình dịch bệnh trên lợn vẫn diễn biến phức tạp; giá cả thịt lợn trên thị trường không
ổn định; giá trị thịt lợn tăng không kịp với chi phí đầu vào (giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y); phân cấp quản lý giữa các bộ ngành trong các vấn đề vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập Xoay quanh những vấn đề trên, dự án hứa hẹn mang lại những con số chính xác phản ánh thực trạng của chuỗi giá trị chăn nuôi lợn tại địa phương thông qua những nghiên cứu định tính và định lượng được tiến hành
Dự án LPS/2010/047
Phạm Thị Hương Giang và Lưu Quốc Toàn (Trung tâm nghiên cứu Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng)
Hội thảo các bên liên quan tại Hưng Yên và Nghệ An - dự án PigRISK
Khởi động nghiên cứu về lợi ích dinh dưỡng và nguy cơ
an toàn thực phẩm của sản phẩm động vật tại Việt Nam
Group Discussion during the PigRISK Stackholder Workshop in Hung Yen
Thảo luận nhóm tại Hội thảo tổ chức ở Hưng Yên
Presentation on Constructing pork value chain during workshop in Nghe An
Trình bày về xây dựng chuỗi giá trị thịt lợn tại Hội thảo tổ chức ở Nghệ An
Trang 8Rừng trồng các dòng keo lai đang cung cấp cho nhu cầu gỗ
ngày càng tăng của các nhà máy sản xuất địa phương và
các nhà khoa học Việt Nam và Australia đang cộng tác trong
việc tạo ra các giống đa bội mới với bộ nhiễm sắc thể (NST)
nhiều hơn bộ NST bình thường
Ở cây keo nhị bội bình thường bộ gen mang 13 đôi NST Tuy
nhiên, có thể tác động vào quá trình phân bào để nhân đôi số
NST này và làm cho chúng trở thành cây tứ bội (4x), cây tứ bội
có sinh trưởng, hình thái và một số tính chất gỗ khác so với cây
nhị bội gốc
Từ năm 2004, các cây Keo tai tượng tứ bội đã được khảo
nghiệm ở Việt Nam Tất cả các cây này được sinh trưởng từ
hạt được xử lý Colchicine để nhân đôi số lượng NST Vào năm
2011, chúng tôi đã trồng khảo nghiệm đầu tiên của các dòng
tứ bội mới của một số dòng keo lai tự nhiên có giá trị kinh tế
và hiện đang được trồng bởi các nhà trồng rừng Các cây mô
được tạo ra ở phòng nuôi cây mô Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam (FSIV) tại Hà Nội đã được chuyển tới Trường đại học
Tasmania (UTAS) nơi các dòng tứ bội được tạo ra và được kiểm
tra độ ổn định bằng phương pháp flow cytometry Các dòng
keo này sau đó được chuyển lại Hà Nội, nơi nhóm cán bộ do
ông Lê Sơn phụ trách, đã nhân chúng lên bằng phương pháp
nuôi cấy mô và chăm sóc tại vườn ươm, rồi chuyển tới trạm
thực nghiệm lâm nghiệp Bầu Bàng tỉnh Bình Dương với sự trợ
giúp của ông Biển, cán bộ Trung tâm Khoa học và Sản xuất vùng
Đông Nam bộ, chúng được trồng với thiết kế cho phép so sánh
về sinh trưởng với các dòng keo lai gốc
Các kết quả trước đã cho thấy một số dòng tứ bội có sinh
trưởng tương tự các dòng nhị bội nhưng khác về hình thái
Chúng thẳng hơn và đơn thân, đặc điểm này đặc biệt tốt cho sản xuất gỗ xẻ và cũng tiết kiệm được chi phí tỉa thân (tỉa sớm
để lại một thân) một biện pháp lâm sinh bình thường đối với các cây keo lai nhị bội Những nghiên cứu trên các cây keo tai tượng tứ bội đầu tiên được trồng ở Bầu Bàng đã cho thấy rằng sợi gỗ là dài hơn (tốt cho sản xuất giấy) và gỗ cứng hơn (tốt cho
sử dụng gỗ xẻ khi độ cứng là quan trọng) Hiện nay, FSIV đang
có kế hoạch sản xuất các dòng tứ bội từ một số dòng keo có giá trị thương mại và trồng khảo nghiệm các vật liệu hiện có rộng hơn Ở một số loài cây, đa bội đã chứng minh được khả năng chống chịu với biến đổi môi trường hơn so với các dòng nhị bội Nếu điều này đúng với các loài keo thì các dòng keo tứ bội
có thể sử dụng để mở rộng vùng trồng ở các điều kiện sinh thái khác nhau ở Việt Nam Một nhóm cán bộ của UTAS đang tạo
ra các cây hom từ các dòng keo lai nhị bội và tứ bội và chuyển tới the Plant Accelerator®, Australian Plant Phenomics Facility
ở Adelaide khi đó chúng tôi có thể đánh giá sinh trưởng ở các mức độ khác nhau về độ ẩm đất
Do các loài keo là loài sai quả/hạt và một vài loài trong chúng
có xu thế xâm lấn, việc sản xuất các dòng bất thụ được quan tâm Một cách để thực hiện điều này là lai giữa các cây nhị bội
và tứ bội để tạo ra các cây tam bội với 3 bộ NST Các cây như vậy có vấn đề với việc sản sinh các giao tử có sức sống dẫn đến giảm khả năng sinh sản Một trong số các cán bộ nghiên cứu của FSIV, TS Nghiêm Quỳnh Chi, đang tiếp tục tiến hành các phép lai như vậy ở Bầu Bàng và các dòng tam bội đầu tiên đang bắt đầu ra hoa, nên chúng tôi có thể đánh giá chúng có thật sự bất thụ hay không
Rất nhiều việc kiểm định cần được tiến hành trước khi chúng tôi có thế giới thiệu các giống mới này tới các nhà trồng rừng, xong chúng tôi tin tưởng lạc quan rằng chúng sẽ có những đóng góp to lớn cho ngành công nghiệp rừng của Việt Nam trong tương lai
Triploid (3X) Acacia monitored for reproductive sterility, that is limited or no flowering Cây keo tam bội để kiểm tra mức độ bất thụ đang rất ít hoa hoặc chưa ra hoa
Một dạng mới của Keo đang được trồng
tại Việt Nam
Dự án FST/2008/007
Jane Harbard, Rod Griffin (Trường ĐH Tasmania), Nghiêm Quỳnh Chi, Hà Huy Thịnh (Viện KHLNVN)
Trang 9PROJECT UPDATES
<aciar.gov.au>
Dự án ACIAR nghiên cứu thức ăn thủy sản
thúc đẩy nghề nuôi biển ở Việt Nam
Dự án FIS/2006/141
Nguyễn Văn Tiến, Đàm Thị Mỹ Chinh (Viện NCNTTS 1) và David Smith
More on page 18>>
Xem tiếp trang 19>>
kín gió, Việt Nam có tiềm năng lớn về nuôi trồng hải sản
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đặt mục tiêu sản lượng nuôi biển đến năm 2020 đạt sản lượng 200.000 căn cứ trên tiềm năng và thị trường của Việt Nam Để đạt được mục tiêu trên cần thiết phải nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản xuất thức ăn đồng thời thay đổi tập quán sử dụng cá có giá trị thấp bằng việc dùng thức ăn công nghiệp của người dân nuôi hải sản
Dự án FIS/2006/141 “Nâng cao tính bền vững trong chế biến
và sử dụng thức ăn cho nuôi trồng hải sản ở Việt Nam và Ôxtrâylia” với sự tham gia của Cục nghề
cá Ôxtrâylia (thuộc tổ chức CSIRO) cùng 4 đơn vị nghiên cứu ở Việt Nam bao gồm Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1,2,3
và Đại học Nha Trang Mục tiêu chính của
dự án là nghiên cứu cơ bản về dinh dưỡng
và thức ăn cho 5 đối tượng hải sản quan trọng (cá Chẽm, cá Giò, cua Bùn, và tôm Hùm) làm cơ sở xây dựng công thức thức
ăn, sản xuất thức ăn và cách cho ăn phù hợp Mục tiêu cụ thể của dự án bao gồm:
nhận sử dụng thức ăn công nghiệp
và năng lượng phù hợp cho mỗi loài
ăn và một số nguyên liệu quan trọng
công thức thức ăn và chiến lược quản
lý thức ăn
nghiên cứu có thể ứng dụng
của các mô hình dinh dưỡng cá Vược
Sau 4 năm triển khai, về cơ bản dự án thực hiện đúng tiến độ
và đạt được một số kết quả nổi bật sau:
nông hộ và nguồn nguyên liệu thức ăn hiện có ở Việt Nam
Dr Brett Glencross demonstrate striping method on collecting faeces for digestibility study of Cobia
TS Brett Glencross trình diễn phương pháp thu phân nhằm đánh giá độ tiêu hóa thức
ăn trên cá Giò
Trang 10• Mô hình dinh dưỡng cá Chẽm đã được phát triển bởi CSIRO sẽ được kiểm chứng và ứng dụng thực tế Nhờ có
sự hỗ trợ của ACIAR, dự án đã đóng góp cho việc nâng cao năng lực của các nhà khoa học Việt Nam trong việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế, góp phần phát triển và sử dụng thức ăn công nghiệp trong nuôi biển ở Việt Nam, đồng thời tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Ôxtrâylia
>> Tiếp theo trang 17
Đã có 5 bài báo phân tích mô hình kinh tế sinh học trong
nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam của 5 đối tượng cá Chẽm,
cá Giò, cá Song và cua Bùn được gửi đăng trên các tạp chí
uy tín
thành phần dinh dưỡng trong thịt cá, năng lượng duy trì
ở các mức nhiệt độ khác nhau, những số liệu này dùng để
xây dựng mô hình tối ưu về dinh dưỡng và năng lượng cho
mỗi loài
Nam, dự án đã phân tích và lựa chọn 5 loại nguyên liệu
quan trọng để thực hiện thí nghiệm xác định độ tiêu hóa
Hiện nay, thí nghiệm xác định độ tiêu hóa của cá Chẽm, cá
Giò, cua Bùn và tôm Hùm đã hoàn thành, thí nghiệm đối
với cá Song đang tiếp tục được triển khai
hóa học và dinh dưỡng, thí nghiệm phân tích liên phòng
đã được thực hiện nhằm kiểm chứng độ chính xác kết quả
phân tích khi so sánh kết quả phân tích ở phòng thí nghiệm
của các đơn vị tham gia dự án và kiểm chứng với kết quả
phân tích tại phòng thí nghiệm đã được cấp chứng nhận
quốc tế Hoạt động này rất hữu ích cho việc nâng cao năng
lực của các phòng thí nghiệm trong nước và kết quả sẽ
được dùng để xây dựng công thức thức ăn thực hiện vào
năm 2013
thức ăn với sự tham gia của hơn 20 nhà máy và các học viên
đến từ các đơn vị nghiên cứu Giảng viên là các chuyên gia
Ôxtrâylia có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất
thức ăn đã truyền đạt cho các học viên những kiến thức về
dinh dưỡng, công nghệ sản xuất thức ăn và cách khắc phục
các sự cố thực tế
chức tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang thu hút
286 người tham dự, những hoạt động này nhằm nâng cao
chất lượng khoa học của dự án, đồng thời góp phần lựa
chọn những hộ dân ở các vùng khác nhau ứng dụng các
kết quả của dự án Hội thảo dinh dưỡng khu vực lần thứ
5 do Viện 1 đăng cai dự kiến sẽ được tổ chức vào tháng 5
năm 2013