LOVE Lêi nãi ®Çu §ång Nai lµ mét trong nh÷ng trung t©m c«ng nghiÖp c¶ níc §©y lµ vïng kinh tÕ träng ®iÓm n»m trªn trôc Thµnh phè Hå ChÝ Minh Biªn Hoµ Vòng Tµu, lµ n¬i cã c¸c ®iÒu kiÖn thuËn lîi cho p[.]
Những vấn đề lý luận về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
Lý luận về cơ cấu ngành công nghiệp
1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế.
Trong nghiên cứu nền kinh tế, thuật ngữ “cơ cấu” thường được hiểu là “cấu trúc”, phản ánh kết cấu bên trong của một đối tượng Cấu trúc của một đối tượng bao gồm các bộ phận cấu thành và mối quan hệ giữa chúng, quyết định tính chất và năng lực thực hiện các chức năng hoặc mục tiêu cần đạt được Theo lý thuyết hệ thống, cấu trúc xác định các đặc điểm, năng lực và hạn chế của đối tượng Để khắc phục các khuyết điểm do cấu trúc gây ra, cần thay đổi cấu trúc của đối tượng để tạo ra năng lực và tính chất mới, mặc dù quá trình này thường phức tạp và đòi hỏi thời gian, vượt xa việc chỉ thay đổi hành vi của đối tượng.
Trong định nghĩa về cấu trúc, không có quy định hay giới hạn nào về các bộ phận và mối quan hệ của đối tượng nghiên cứu, tùy thuộc vào đặc điểm của đối tượng, điều kiện môi trường và quan điểm của nhà nghiên cứu Người nghiên cứu có thể lựa chọn các đặc điểm về bộ phận cấu thành và mối quan hệ phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của mình Thuật ngữ “cơ cấu” cần được hiểu là nội dung của thuật ngữ “cấu trúc”, phản ánh tính linh hoạt và đa dạng trong tổ chức của đối tượng nghiên cứu.
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành của nền kinh tế cùng với các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định hướng Nó phản ánh sự ổn định và phát triển giữa các yếu tố cấu thành trong những điều kiện không gian, thời gian và kinh tế - xã hội cụ thể Các yếu tố cấu thành của nền kinh tế luôn vận động hướng tới những mục tiêu nhất định, góp phần hình thành hệ thống kinh tế toàn diện và bền vững.
Quan điểm trên nhấn mạnh rằng, cơ cấu kinh tế không chỉ đơn thuần phản ánh các tỷ lệ giữa các ngành, lĩnh vực mà còn thể hiện mối quan hệ tác động qua lại phức tạo bên trong hệ thống kinh tế Việc hiểu rõ cơ cấu kinh tế giúp nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững, đồng thời góp phần xác định các xu hướng chuyển dịch nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điều này cho thấy, mối liên hệ nội tại trong cơ cấu kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng các chính sách phát triển phù hợp và thích ứng với biến động thị trường.
Nó không chỉ cố định mà luôn ở trạng thái động, phù hợp với các mục tiêu nhất định Tình trạng này bị ảnh hưởng bởi thời gian và điều kiện tái sản xuất xã hội trong bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể, đảm bảo sự phù hợp liên tục với sự phát triển và biến đổi của hoàn cảnh thực tế.
Cơ cấu kinh tế có những trng chủ yếu sau:
- Cơ cấu kinh tế đợc hình thành một cách khách quan do trình độ phát triển của lực lơng sản xuất và phân công lao động xã hội.
- Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử và xã hội nhất định.
- Cơ cấu kinh tế mang tính kế thừa rất rõ rệt.
- Cơ cấu kinh tế mang tính hệ thống.
- Cơ cấu kinh tế luôn biến đổi theo hớng ngày càng hoàn thiện.
- Cơ cấu kinh tế có tính hớng đích hay mục tiêu.
- Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình.
1.2 Phân loại cơ cấu kinh tế. Đứng trên góc độ nghiên cứu khác nhau Về cơ bản, cơ cấu kinh tế có thể đợc chia thành các loại sau:
- Cơ cấu ngành: là sự kết hợp giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân hoặc từng loại hình sản xuất, từng xí nghiệp trong nội bộ ngành.
- Cơ cấu lãnh thổ: Là sự kết hợp giữa các vùng lãnh thổ toàn quốc hoặc từng cơ sở trong mỗi vùng.
- Cơ cấu thành phần kinh tế: Là sự kết hợp các thành phần hữu cơ trong nền kinh tế quốc dân.
- Cơ cấu kinh tế kỹ thuật: Là quan hệ kết hợp theo qui mô trình độ tập trung hoá, chuyên môn hoá, cơ giới hoá
- Cơ cấu kinh tế quản lý: Phản ánh mối quan hệ kết hợp giữa các cấp quản lý kinh tế nh Trung ơng, Địa phơng
- Cơ cấu kinh tế đối ngoại: là sự kết hợp giữa các mặt hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
Cơ cấu kinh tế chung phản ánh mối quan hệ giữa các chỉ tiêu chủ yếu, thể hiện sự cân đối trong nền kinh tế quốc dân Trong đó, quan hệ tỷ lệ tích lũy và tiêu dùng trong thu nhập quốc dân là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy phát triển bền vững Ngoài ra, sự cân đối giữa đầu tư và tổng sản phẩm quốc dân đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng dài hạn cho nền kinh tế.
Cơ cấu ngành giữ vai trò quan trọng nhất trong các loại cơ cấu kinh tế, phản ánh rõ nét trình độ phát triển của phân công lao động xã hội Việc thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là đặc điểm nổi bật của các quốc gia đang phát triển, góp phần thúc đẩy sự chuyển mình về mặt kinh tế và xã hội.
Trong phân tích cơ cấu ngành, ngành được hiểu là tập hợp các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một chức năng chính trong hệ thống phân công lao động xã hội Hiện nay, có hai hệ thống phân ngành kinh tế chính được công nhận, mặc dù có thể có nhiều phương pháp phân ngành khác nhau Các hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc phân chia và hiểu rõ cấu trúc nền kinh tế, hỗ trợ phân tích sự phát triển và xu hướng ngành nghề.
+ Phân ngành kinh tế theo hệ thống “sản xuất vật chÊt” (material production System - MPS)
Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) phân chia các hoạt động kinh tế - xã hội dựa trên các tiêu chí riêng biệt, phản ánh sự khác biệt về khái niệm sản phẩm và quan điểm về hoạt động sản xuất vật chất Do đó, có sự khác biệt cơ bản giữa các hệ thống phân ngành theo SNA và các hệ thống khác, làm nổi bật sự đa dạng trong cách phân loại hoạt động kinh tế.
Trong hệ thống sản xuất vật chất, hoạt động kinh tế - xã hội được phân thành hai khu vực chính: khu vực sản xuất vật chất và khu vực phi sản xuất vật chất Mỗi khu vực này lại gồm các ngành cấp I như công nghiệp và nông nghiệp, giúp phân chia rõ ràng các lĩnh vực hoạt động kinh tế Các ngành cấp I được chia nhỏ thành các ngành cấp II, chẳng hạn ngành công nghiệp bao gồm các ngành sản phẩm như điện năng và nhiên liệu, nhằm mục đích tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất hiệu quả hơn.
Theo hệ thống tài khoản quốc gia, các ngành kinh tế được chia thành ba nhóm lớn gồm nông nghiệp, công nghiệp xây dựng và dịch vụ Những nhóm ngành này bao gồm tổng cộng 20 ngành cấp I như nông nghiệp và lâm nghiệp, khai thác mỏ và khai khoáng Các ngành cấp I tiếp tục được phân chia thành các ngành cấp II, từ đó hình thành các ngành sản phẩm cụ thể để phản ánh rõ hơn cấu trúc của nền kinh tế quốc gia.
Tùy theo mức độ gộp hoặc chi tiết hoá cũng như mục đích phân tích, ta có thể xây dựng cơ cấu ngành phù hợp Việc phân chia hợp lý và chọn lựa các chỉ số giá trị thống nhất giúp xác định các chỉ tiêu định lượng phản ánh đặc điểm của từng ngành so với toàn bộ nền kinh tế Các chỉ tiêu này cung cấp cái nhìn tổng thể về vai trò và đóng góp của các ngành trong nền kinh tế, hỗ trợ trong việc đánh giá, dự báo và hoạch định chiến lược phát triển bền vững.
2 Cơ cấu ngành công nghiệp.
Cơ cấu ngành công nghiệp thể hiện tổng thể các ngành công nghiệp và mối quan hệ sản xuất giữa chúng Nó được biểu thị bằng tỷ trọng của từng bộ phận so với toàn bộ sản xuất công nghiệp, giúp đánh giá sự phân bổ nguồn lực và tiềm năng phát triển của từng ngành Việc hiểu rõ cơ cấu ngành công nghiệp là nền tảng để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia.
Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phát triển công nghiệp ở các mặt sau:
Trình độ phát triển và mức độ hoàn chỉnh của công nghiệp phản ánh sự tiến bộ của lực lượng sản xuất, với quan hệ sản xuất được phân chia thành nhiều bộ phận và ngành, từ đó nâng cao trình độ xã hội hoá lao động Khi công nghiệp phát triển, khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất và đời sống ngày càng tăng, đồng thời cơ cấu nền công nghiệp trở nên hoàn chỉnh hơn Sự phát triển này củng cố vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế.
Mức độ tự chủ về kinh tế của đất nước phản ánh qua cơ cấu ngành công nghiệp khai khoáng, khi ngành này phát triển mạnh thì phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu càng cao Sự chuyên môn hoá và liên kết giữa các ngành đảm bảo tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, từ nguyên liệu sản xuất đến tiêu dùng, nhằm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Điều này giúp tăng cường tiềm lực kinh tế, củng cố nền kinh tế tự chủ của quốc gia và tăng cường quốc phòng toàn dân.
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
1, Chuyển dịch cơ cấu ngành:
Chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự thay đổi dần dần trong cơ cấu ngành và mối quan hệ giữa chúng theo thời gian Khác với thay đổi cơ cấu ngành diễn ra đột ngột, chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra từ từ qua từng giai đoạn, phản ánh sự điều chỉnh của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Quá trình này đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của các ngành, dẫn đến thay đổi các mối quan hệ về tầm quan trọng và vai trò của từng ngành trong nền kinh tế, từ đó hình thành một cơ cấu ngành mới phù hợp với xu hướng phát triển Sự chuyển dịch này thể hiện rõ qua các điểm như sự thay đổi về tỷ trọng các ngành trong GDP, lao động và các chỉ số kinh tế khác theo thời gian.
Trong nền kinh tế, sự xuất hiện ngành mới hoặc mất đi một số ngành đã có thể diễn ra, phản ánh sự thay đổi về số lượng và loại ngành nghề Để nhận biết chính xác các biến động này, hệ thống phân loại ngành phải đủ chi tiết và toàn diện; chỉ xét đến ngành gộp không thể xác định được các ngành sản phẩm mới hình thành hay các ngành đã biến mất Ví dụ, vào đầu những năm 1980 tại Hà Nội, sau hơn 20 năm hòa bình, đã có sự mai một hàng nghìn nghề thủ công truyền thống, giảm từ 4.000 xuống còn gần 2.000 nghề, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề mà trước đây chúng ta chưa quan tâm đúng mức.
Sự tăng trưởng về quy mô diễn ra với tốc độ khác nhau giữa các ngành, dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành Chuyển dịch cơ cấu ngành chỉ xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều giữa các lĩnh vực sau mỗi giai đoạn phát triển, phản ánh quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng phù hợp với xu hướng phát triển chung.
Sự thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành phản ánh qua số lượng các ngành liên quan và mức độ tương tác của chúng Mức độ tác động này thể hiện qua quy mô đầu vào cung cấp hoặc nhận từ các ngành, được đo bằng các hệ số trong bảng I/O Các biến đổi này thường liên quan đến sự tiến bộ trong công nghệ sản xuất và khả năng thay thế lẫn nhau để đáp ứng nhu cầu xã hội trong các điều kiện mới.
Khi nhà máy nhiệt điện chạy than được nâng cấp công nghệ, định mức tiêu thụ than trên mỗi kWh điện giảm, phản ánh hiệu quả hơn trong quản lý năng lượng Nếu chuyển sang công nghệ khí đốt, mối quan hệ giữa sản phẩm điện và khí đẩy mức tiêu thụ than trung bình cho mỗi kWh điện giảm còn cao hơn, thúc đẩy sự chuyển đổi nguồn năng lượng Sự phát triển của ngành khí đốt dẫn đến xu hướng người tiêu dùng chuyển từ dùng bếp điện sang bếp ga, tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với ngành khí đốt Như vậy, sự ra đời hoặc mở rộng của một ngành công nghiệp không những thúc đẩy phát triển các ngành liên quan mà còn có thể hạn chế sự phát triển của các ngành cạnh tranh, qua đó ảnh hưởng đến cơ cấu và cân đối của nền kinh tế năng lượng.
Sự tăng trưởng của các ngành dẫn đến chuyển cơ cấu ngành trong mỗi nền kinh tế là một quá trình phát triển tất yếu theo quy luật lâu dài Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra theo hướng nào và tốc độ nhanh hay chậm là những vấn đề đáng quan tâm và phụ thuộc vào các quy luật phát triển kinh tế cụ thể.
Nhiều nền kinh tế đã thành công trong phát triển nhờ chuyển dịch cơ cấu ngành phù hợp với điều kiện đặc thù của từng quốc gia Việc xác định xu hướng và giải pháp chuyển dịch ngành không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà còn cần phát hiện những đặc thù riêng của đất nước, môi trường trong nước và toàn cầu để thích nghi và vận dụng hiệu quả các bài học đã có Chuyển dịch cơ cấu ngành phù hợp góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc gia.
Trong chuyển dịch cơ cấu ngành bao gồm cả chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
2 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là một xu thÕ tÊt yÕu. a Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
Sự thay đổi về cấu trúc công nghiệp phản ánh quá trình chuyển dịch tỷ lệ giữa các ngành trong ngành công nghiệp, không chỉ đơn thuần là thay đổi vị trí của các ngành mà còn bao gồm sự cải thiện về số lượng và chất lượng của từng ngành Điều này đòi hỏi phải xem xét sự thay đổi về chất trong các mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền công nghiệp quốc gia Như vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp không chỉ là sự điều chỉnh về quy mô mà còn về tính chất và mối liên hệ giữa các ngành để thích nghi với yêu cầu của thị trường và xu thế kinh tế hiện đại.
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu sản lượng đầu ra của ngành đó, chịu ảnh hưởng bởi năng suất lao động và quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực của tỉnh, đồng thời tìm ra các ngành công nghiệp mũi nhọn có khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là yếu tố then chốt nhằm nâng cao vai trò trong việc thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Quá trình này giúp tạo đà phát triển bền vững cho các ngành, thúc đẩy sự liên kết hợp lý và tăng trưởng kinh tế tổng thể Việc tối ưu hóa cấu trúc ngành công nghiệp góp phần thúc đẩy đa dạng hóa nền kinh tế, mở rộng cơ hội việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là bước quan trọng nhằm khắc phục các mất cân đối trong ngành, góp phần xây dựng một hệ thống công nghiệp cân đối và phát triển bền vững Điều này tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển mạnh mẽ và ổn định của sản xuất công nghiệp Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường và thúc đẩy nền kinh tế phát triển toàn diện.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp tạo nên cơ sở vật chất
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đóng vai trò thiết yếu trong việc định hướng các quyết định phù hợp để thúc đẩy phát triển kinh tế Mối quan hệ giữa thay đổi cơ cấu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là chặt chẽ, khi tiến bộ khoa học kỹ thuật buộc các cơ cấu công nghiệp phải chuyển đổi phù hợp, đồng thời việc thay đổi cơ cấu này lại mở đường cho việc triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới Phát triển các ngành trọng điểm như điện năng, cơ khí, hóa chất trong thời kỳ công nghiệp hóa, cùng với các ngành hiện đại như điện tử, điện nguyên tử, hóa tổng hợp và sản xuất thiết bị tự động hóa đã trở thành động lực chính thúc đẩy các ngành khác phát triển vượt bậc, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, đồng thời tạo điều kiện đổi mới nguyên tắc và công nghệ sản xuất trong nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ nâng cao hiệu quả tích luỹ và sản xuất Quá trình này giúp hoàn thiện cơ cấu giá trị sử dụng của vốn đầu tư vào ngành công nghiệp, từ đó tăng khả năng sinh lời và hiệu quả sử dụng vốn Nhờ vậy, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp thúc đẩy sự phân công lại và phân công mới trong lao động xã hội không chỉ theo ngành kinh tế mà còn theo ngành lãnh thổ Quá trình này giúp ngành công nghiệp và các vùng lãnh thổ huy động tối đa tiềm năng kinh tế vốn có, từ đó thúc đẩy sự phát triển sản xuất và giảm thiểu chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và đời sống nhân dân giữa các vùng kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Điều này giúp đất nước tham gia hiệu quả hơn vào phân công lao động quốc tế, mở rộng thị trường và thu hút đầu tư nước ngoài Nhờ đó, mối quan hệ kinh tế đối ngoại của nền kinh tế được hoàn thiện hơn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững.
Thực trạng cơ cấu công nghiệp trên lãnh thổ Tỉnh Đồng Nai
Về điều kiện tự nhiên
Tỉnh Đồng Nai nằm trong xùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam ở về cực Bắc miền Đông Nam Bộ:
- Đông giáp tỉnh Bình Thuận.
- Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.
- Tây Bắc giáp tỉnh Sông Bé (Bình Dơng).
- Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đồng Nai nằm ở phía Tây giáp TP Hồ Chí Minh, được xem là khu vực “bản lề” chiến lược quan trọng kết nối Trung du, Cao nguyên Nam, Đồng bằng và Duyên hải Đây là cửa ngõ của trục động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm TP Hồ Chí Minh, Biên Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu Đồng Nai đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của khu vực Tỉnh gồm 9 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thành phố trực thuộc.
Thành phố Biên Hòa, cách trung tâm TP Hồ Chí Minh 30 km về phía Đông Bắc theo quốc lộ 1, là trung tâm kinh tế và chính trị của tỉnh Đồng Nai Thành phố này bao gồm 8 huyện: Thống Nhất, Định Quán, Đông Phú, Vĩnh Cửu, Long Khánh, Xuân Lộc, Long Thành và Nhơn Trạch Các huyện này đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh Đồng Nai.
1.2 Địa hình. Địa hình Đồng Nai là dạng địa hình Trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đến đồng bằng Nam Bộ. Nhìn chung, đất đai của Đồng Nai đều có địa hình tơng đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc dới 8 0 , 92% đất có độ dốc nhỏ hơn 15 0 ; các đất có độ dốc lớn hơn 15 0 chiếm khoảng 8% Trong đó:
- Đất phù xa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng thấp ngập nớc quanh năm.
- Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc dới 8 0 , đất có độ dốc hầu hết nhỏ hơn 15 0
- Riêng đất tầng mỏng và đất đá bột có độ dốc cao.
Rừng là tài nguyên quan trọng của tỉnh Đồng Nai, với diện tích đất lâm nghiệp đạt 171.428 ha tính đến ngày 1/10/1998, chiếm 19,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 130.789 ha, góp phần duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường Ngoài ra, rừng nguyên liệu giấy hàng năm có thể khai thác khoảng 700 - 1.000 ha để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến giấy, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc, bao gồm các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, với tổng diện tích lên đến 124.993 ha Đây chiếm đến 93,6% diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh, thể hiện vai trò quan trọng của khu vực này trong quỹ đất rừng tự nhiên của địa phương.
Rừng Đồng Nai có trữ lượng đáng kể với hơn 4,6 triệu m³ gỗ quý hiếm theo số liệu điều tra năm 1995, cùng nhiều chủng loại cây cối đa dạng Ngoài ra, khu rừng còn tồn tại trên 10 loại thú rừng quý hiếm và nhiều loại dược liệu quý giá Khu rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên rộng 35.000 ha đang được xây dựng thành khu vườn quốc gia, nơi sinh sống của 185 loài thực vật, gồm 54 loài gỗ quý và 24 loại cây thuốc Khu vực này còn có 8 loại cây chứa vitamin, 11 loại cây cho dầu và quả, cùng với 62 loài thú rừng thuộc 25 họ, 22 loài bò sát thuộc 12 họ, và 121 loài chim thuộc 43 họ, góp phần đa dạng sinh học phong phú.
1.4 Tài nguyên đất. Đồng Nai có quỹ đất khá phong phú và phì nhiêu, tổng diện tích tự nhiên 586.640 ha Có 10 nhóm đất chính Căn cứ vào nguồn gốc và chất lợng đất đai có thể tập trung thành 3 nhóm đất sau:
Các loại đất hình thành trên đá bazan bao gồm đất đá bọt, đất đen và đất đỏ, có độ phì nhiêu cao, chiếm diện tích 229.416 ha (39,16%) Những loại đất này chủ yếu phân bố tại phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, phù hợp để trồng nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày như cao su, cà phê và tiêu.
Các loại đất hình thành trên phù xa cổ, đá phiến sét, đất nâu xám, và đất loang cổ chiếm diện tích lớn 246.380 ha, chiếm 41,9% tổng diện tích đất của tỉnh Những vùng đất này chủ yếu phân bổ ở phía Nam, Đông Nam của tỉnh tại các huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, và ở phía Đông Bắc tại huyện Xuân Lộc Do đặc điểm đất thường có độ phì kém, những vùng này phù hợp chủ yếu cho các cây ngắn ngày như đậu đỗ, cây ăn quả, và cây công nghiệp dài ngày như cây điều.
Nhóm đất thủy thành, gồm đất phù sa, đất gley, đất cát và đất tầng mỏng, diện tích khoảng 58.400 ha chiếm 9,9% tổng diện tích đất Vùng đất này tập trung chủ yếu ven các con sông lớn như sông Đồng Nai và sông La Ngà, có chất lượng đất khá tốt và phù hợp để trồng các loại cây lương thực như lúa nước, hoa màu và cây rau quả.
Biểu 1: Tài nguyên đất của tỉnh Đồng Nại
STT Nhóm đất Diện tích (ha) Đặc điểm
1 Bazalt 229.416 Trồng cây công nghiệp ngắn và dài hạn nh: cao su, cà phê, tiêu
2 Phù xa cổ 246.380 Trồng cây ngắn ngày: đậu đỗ, cây ăn quả
58.400 Trồng cây lơng thực: lúa nớc, hoa màu, cây ăn quả
Đồng Nai nổi bật với nhiều loại đất chất lượng cao phù hợp trồng các cây có giá trị kinh tế lớn như cao su, cà phê, điều, đậu nành và các loại cây ăn trái Nhờ vào đặc điểm đất đai phong phú, vùng đất này đã trở thành trung tâm nông nghiệp phát triển, góp phần nâng cao thu nhập và kinh tế của địa phương Các loại đất phù hợp này giúp người nông dân dễ dàng phát triển các giống cây trồng mang lại hiệu quả cao, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Đồng Nai.
Nhiều vùng đất có kết cấu chặt, bền vững thuận lợi để bố trí các công trình xây dựng, công nghiệp
Tỉnh Đồng Nai có nguồn tài nguyên nớc rất phong phú, kể cả nguồn nớc mặt và nguồn nớc ngầm. a Nguồn n ớc mặt.
Huyện có hơn 40 sông, suối lớn nhỏ, nổi bật là hệ thống các sông lớn như sông Đồng Nai, sông Thị Vải, sông La Ngà, sông Đồng Tranh và sông La Buông Các con sông này đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, cung cấp nguồn nước tưới tiêu, vận chuyển hàng hóa và phát triển các hoạt động thủy sản Hệ thống sông ngòi phong phú này tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giao thông thủy, thúc đẩy ngành nông nghiệp và du lịch sinh thái của khu vực.
Sông Đồng Nai là con sông rộng lớn nhất vùng Đông Nam
Bộ, có chiều dài qua Tỉnh là 290Km 2 , lu lợng nớc trung bình
Nguồn nước chính có lưu lượng 478 m³/giây được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp tại các vùng ven sông Đồng Nai Ngoài ra, nguồn nước này còn phục vụ cho mục đích công nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho toàn khu vực Biên Hòa, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng.
Ngoài hệ thống sông suối kể trên, Đồng Nai có trên 23 hồ, đập lớn nhỏ Đáng kể nhất là hồ Trị An có diện tích 285
Km 2 , dung tích trên 2,5 tỷ m 3 nớc.
Với hệ thống sông, suối, hồ và đập, tỉnh có tổng lượng nước mặt hàng năm khoảng 20 tỷ m³, đảm bảo nguồn cung nước phong phú cho phục vụ sản xuất và sinh hoạt Trong khi đó, nguồn nước ngầm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước lâu dài, góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng của khu vực với khả năng khai thác bền vững.
Nguồn nớc ngầm đợc đánh giá bớc đầu có tổng trữ lợng tiềm năng khoảng 3 triệu m 3 /ngày, nhng phân bổ lại không đợc đều Có thể chia làm 3 vùng:
- Vùng 1 (phía Bắc tỉnh): nớc ngầm tầng trên giao động từ 5 - 20 m, lu lợng bình quân là 40 - 50 m 3 /h.
- Vùng 2 (phía Tây và dọc sông Đồng Nai): mực nớc ngầm xuất hiện ở độ sâu 20 m, lu lợng bình quân là 30 -
40 m 3 /h Khu vực ven sông Đồng Nai mực nớc từ 2,5 - 3m, lu l- ợng bình quân là 5 - 10 m 3 /h.
- Vùng 3 (phía Đông và Đông Nam): đợc coi là vùng nghèo nớc ngầm và nớc mặt, ở độ sâu 20m có nơi 40m chỉ đạt lu lợng 3 - 6 m 3 /h.
Nguồn khoáng sản của tỉnh Đồng Nai tơng đối phong phú về số lợng và chủng loại.
- Về nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng:
+ Đá xây dựng: Có tổng trữ lợng khoảng 295,5 triệu tấn, có thể khai thác 2- 3 triệu tấn/năm.
Sét gạch ngói đã được phát hiện tại 17 mỏ và điểm quặng, với nhiều mỏ hiện đang trong quá trình khai thác Tuy nhiên, phần lớn các mỏ chưa được đánh giá đầy đủ về trữ lượng, dẫn đến hạn chế trong khả năng khai thác Trung bình mỗi năm, ngành khai thác sét gạch ngói có thể sản xuất từ 1 đến 2 triệu m³.
+ Cát xây dựng: chủ yếu đợc khai thác trong trầm tích lòng sông Đồng Nai, trữ lợng bồi lắng có thể khai thác 2 -3 triệu m 3 /năm.
- Nguyên liệu phụ gia ciment:
+ Puzolan: Đã phát hiện 15 điểm quặng với
+ Latert: Đã phát hiện 9 điểm có laterit, quy mô nhỏ, chất lợng không ổn định.
- Nguyên liệu keranzit: mỏ Đại An huyện Vĩnh Cửu có trữ lợng dự báo cấp 2 khoảng 5 triệu tấn.
Về kinh tế xã hội
2.1 Nhân tố thị trờng. Đồng nai là một tỉnh có dân số khoảng 2134 nghìn ng- ời (1998), thu nhập bình quân đầu ngời khoảng 500 USD sẽ làm tăng khả năng thanh toán của ngời dân, làm tăng cầu Với dân số khá đông, thu nhập cao sẽ là lực lợng tiêu thụ hàng hoá lớn, thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển, làm tăng cung nhằm thoả mãn cầu Đồng Nai còn là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuận lợi việc phát triển thơng mại, dịch vụ Đồng Nai có nhiều khu công nghiệp lớn nh: KCN Biên Hoà, Hố Nai, Sông mây đây là những nơi thu hút lực lợng lao động và thúc đẩy ngành công nghiệp của Tỉnh phát triển.
2.2 Cơ sở hạ tầng. a Mạng l ới giao thông.
Năm năm qua ngành giao thông đã đầu t nâng cấp 311Km đờng, 24 cầu, làm mới 315Km đờng (trong đó có 39
Dự án giao thông gồm có 84 cầu, 164 cống dài km nhựa với tổng kinh phí 124,8 tỷ đồng Trong đó, ngân sách tỉnh đóng góp 36 tỷ đồng, ngân sách huyện là 32 tỷ đồng, ngân sách xã là 8 tỷ đồng, và các đơn vị kinh tế địa phương đóng góp 18,6 tỷ đồng để đảm bảo thực hiện dự án.
EC 327: 7,6 tỷ đồng và nhân dân đóng góp 22,6 tỷ đồng.
Mạng lới giao thông của Tỉnh rất phong phú và đa dạng, bao gồm đờng bộ, đờng thuỷ, đờng sắt và đờng hàng không.
- Mạng lới giao thông đờng bộ: Tổng chiều dài là 3.026
Km, trong đó: đờng nhựa 469 Km, đờng đá 37,1 Km, đờng cấp phối 678,3 Km và đờng đất 1.841 Km.
- Mạng lới giao thông đờng thuỷ: Toàn Tỉnh với 480,4 Km đờng sông, trong đó đã đa vào khai thác 94,5%, bao gồm
37 con sông, 43 rạch, 02 con kênh và khu lòng hồ Trị An rộng
32000 ha Mật độ đờng giao thông đờng sông đạt 82 m/Km 2 Mạng lới giao thông đờng sông toàn Tỉnh hiện có 3 cảng:
Cảng Cogido là cảng dã chiến có vị trí thuận lợi, phù hợp để xây dựng hệ thống kho tàng có sức chứa từ 20.000 đến 40.000 tấn Với khả năng mở rộng kho bãi, năng lực thông qua của cảng có thể đạt đến 200-300 tấn mỗi ngày, góp phần nâng cao hiệu quả vận chuyển và logistics tại khu vực.
Cảng Gò Dầu đã có dự án xây dựng, mở ra cơ hội phát triển mạng lưới vận tải sông và pha sông biển tại Đồng Nai Việc đầu tư vào cảng này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành vận tải trong khu vực, góp phần nâng cao hiệu quả logistics và kết nối giao thông đường thủy Nhờ đó, kinh tế Đồng Nai sẽ ngày càng khởi sắc, thu hút nhiều dự án đầu tư mới và mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu.
+ Cảng đồng Nai: tổng diện tích 47000 m 2 bến và
1105 m 2 cầu tàu Cảng có thể tiếp nhận tàu trọng tải nhỏ hơn 3000 tấn Hiện nay năng lực thông qua cảng Đồng Nai có thể đạt đợc 325000 tấn/năm
Mạng lưới đường sắt Bắc Nam chạy qua tỉnh Đồng Nai dài 87,5 km, bao gồm 12 ga: Gia Huynh, Trảng Táo, Gia Ray, Bảo Chánh, Xuân Lộc, An Lộc, Dầu Dây, Bàu Cá, Trảng Bom, Long Lạc, Hố Nai và Biên Hòa Tuyến đường sắt này đóng vai trò là mạch máu giao thông quan trọng, kết nối tỉnh Đồng Nai với miền Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh, thúc đẩy phát triển kinh tế và lưu thông hàng hóa trong khu vực.
Tỉnh Đồng Nai có sân bay Biên Hòa với diện tích 40 km² nằm ở phía Bắc trung tâm thành phố, là sân bay chính của tỉnh Ngoài ra, còn có các sân bay dã chiến được xây dựng trước năm 1975, nhưng hiện nay hầu hết bị bỏ hoang hoặc do Bộ Quốc phòng quản lý, như sân bay Chang Rang ở lâm trường Mã Đà, sân bay trong khu quân sự Dốc 47 Cẩm Mỹ, sân bay Xuân Lộc, sân bay Gia Ray huyện Xuân Lộc và sân bay Bình Sơn huyện Long Thành Hệ thống điện và thông tin liên lạc của Đồng Nai hiện gặp nhiều vấn đề, đặc biệt là tình trạng quá tải, thiếu trạm biến áp trung gian 110/20Kv hoặc 110/15Kv, khiến chất lượng điện năng thấp, gây ảnh hưởng đến an toàn vận hành Việc chậm xây dựng các trạm biến áp trung gian đang làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ phát triển công nghiệp của tỉnh do nhu cầu cung cấp điện cho các khu công nghiệp ngày càng tăng nhanh Các khu vực dân cư và công nghiệp tại TP Biên Hòa cần được cải tạo, nâng cấp hệ thống lưới điện phân phối trung hạ thế, nhưng nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và phát triển kinh tế của Đồng Nai.
Hiện nay, chỉ thành phố Biên Hòa có hệ thống cấp nước tương đối hoàn chỉnh, chủ yếu lấy từ Nhà máy nước Biên Hòa từ sông Đồng Nai, với công suất 36.000 m³/ngày đêm, đáp ứng khoảng 60% dân số nội ô thành phố Hệ thống cấp nước cho khu công nghiệp Biên Hòa lấy trực tiếp từ Nhà máy nước Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh, với công suất 25.000-30.000 m³/ngày đêm Trong khi đó, các đô thị khác chủ yếu phải phụ thuộc vào nguồn nước từ giếng khoan, tình trạng này phản ánh sự yếu kém trong nguồn cung cấp nước của khu vực.
Thông tin liên lạc: Tổng dung lợng tổng đài (cả UT và Starex) trên toàn tỉnh lên 24.184 số tổng kênh thông tin từ
960 kênh năm 1994 lên 3590 kênh năm 1998, trong đó kênh liên tỉnh và quốc tế 850 kênh Tổng số máy điện thuê bao
Với mục tiêu đạt 25.700 máy điện thoại, tỉnh đã hoàn thành chỉ tiêu trung bình 1 máy trên 100 dân, đồng thời 90% số xã đã được phủ sóng điện thoại Bên cạnh đó, Buôn Ma Thuột tỉnh tập trung phát triển các dịch vụ viễn thông mới như dịch vụ nhắn tin, điện thoại di động và fax nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng và thúc đẩy sự phát triển của ngành viễn thông địa phương.
2.3 Các vấn đề xã hội a Dân số và lao động
Dân số Đồng Nai phát triển rất nhanh, chủ yếu do lượng dân di cư từ nhiều vùng khác đến sinh sống và lập nghiệp Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhờ thực hiện tốt các chương trình kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tại địa phương đã giảm đáng kể.
Dân số trung bình năm 1998 của tỉnh Đồng Nai là 2.134 triệu người, với mật độ dân số khoảng 364 người/km² Kết cấu phân bố dân cư không đều, thành phố Biên Hoà có mật độ cao nhất lên đến 2.992 người/km², trong khi huyện Vĩnh Cửu có mật độ thấp nhất chỉ 94 người/km² Trong tổng dân số, khu vực thành thị chiếm tỷ lệ 28,9%, còn khu vực nông thôn chiếm 71,1% Dân số thành thị đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây nhờ vào quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại Đồng Nai.
Dân số trong độ tuổi lao động năm 1998 là 1.016 nghìn người, chiếm 47,6% tổng dân số, trong đó có 929.040 người thực tế tham gia lao động trong các ngành sản xuất, chiếm 91,4% dân số trong độ tuổi lao động Ngành giáo dục đã phát triển mạnh về quy mô và chất lượng trong những năm qua, với sự đầu tư đáng kể vào cơ sở vật chất và phương tiện giảng dạy Giáo dục nhà trẻ và mẫu giáo tăng trung bình 1.880 trẻ mỗi năm, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em Đồng thời, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông hàng năm cũng liên tục tăng, phản ánh sự tiến bộ của hệ thống giáo dục quốc gia.
Giáo dục bổ túc văn hoá và xoá mù chữ phát triển rộng rãi trong toàn dân với số ngời đi học trung bình hàng năm là
Trong ngành giáo dục, số lượng học bổ túc văn hóa đạt 12.622 người, đồng thời có 4.025 người được hỗ trợ xoá mù chữ, thể hiện nỗ lực nâng cao dân trí Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục phát triển mạnh mẽ tại cả khu vực nhà nước và tư nhân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Các hình thức đào tạo tại chức dài hạn và ngắn hạn được tổ chức thường xuyên, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động nâng cao trình độ chuyên môn Đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hệ thống y tế toàn địa bàn gồm có 5 bệnh viện đa khoa tỉnh, khu vực và 3 bệnh viện chuyên khoa, cùng 4 bệnh viện huyện Ngoài ra, còn có 12 phòng khám khu vực, 1 trạm vệ sinh phòng dịch, 119 trạm y tế và 12 phòng chuẩn trị y học dân tộc, tổng số giờ hoạt động đạt 2.855 giờ Bên cạnh đó, hệ thống còn bao gồm 3 bệnh viện liên doanh trung ương hoặc tổ chức như bệnh viện tâm thần, bệnh viện 7B và bệnh viện công ty cao su Đồng Nai.
Lực lợng nhân viên y tế đến năm 1998 là 3760 ngời. Trong đó lực lợng y bác sỹ có 1297 ngời (bác sỹ 447 ngời, y sỹ
Dân số toàn tỉnh đạt khoảng 820.000 người, với mức trung bình mỗi bác sĩ trên 10.000 dân là 68 người Hiện nay, tất cả các xã, phường đều có y sĩ, trong đó 25% xã, phường có bác sĩ (41/163 xã phường) Về văn hóa thể dục thể thao, tỉnh đã phát huy các truyền thống văn hóa dân tộc và địa phương, nhiều di tích lịch sử được trùng tu, xếp hạng di tích cấp quốc gia Các lễ hội truyền thống đã được khôi phục, đồng thời tỉnh đã thành lập các nhà bảo tàng với kho tàng cổ vật có giá trị văn hóa cao.
Các hoạt động nghệ thuật được tổ chức rộng rãi và mang tính chất quần chúng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân, đặc biệt ở các vùng xa, vùng sâu của tỉnh Đồng thời, hệ thống đài phát thanh – truyền hình đã hoàn thành và bước vào sử dụng hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi để truyền tải thông tin đến nhân dân một cách nhanh chóng và chính xác.
Tình hình phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai
1 Tình hình phát triển ngành công nghiệp tỉnh đồng Nai
1.1 Kết quả sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai Đồng Nai là một tỉnh có công nghiệp đợc hình thành và phát triển sớm mà chủ yếu dựa vào các nguồn lực ở trong tỉnh nh: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất phân phối điện khí đốt và nớc Trong mỗi ngành công nghiệp đó đều tồn tại các doanh nghiệp của địa phơng, doanh nghiệp của Trung ơng, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp đầu t nớc ngoài … Lực lợng cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề qua nhiều năm đợc đào tạo, đợc rèn luyện tích luỹ, tiếp cận và hiện nay có trình độ đảm đơng đợc các công việc đổi mới công nghệ, công nghiệp lớn hiện đại mà mục tiêu của Tỉnh đã đề ra, để đa nền kinh tế của tỉnh theo hớng hiện đại hoá
Tính đến năm 1998, toàn tỉnh có tổng số 7192 cơ sở sản xuất công nghiệp trong đó gồm:
- Kinh Tế Nhà nớc Trung ơng: 39 cơ sở
- Kinh tế nhà nớc Địa phơng: 25 cơ sở
- Kinh tế tập thể : 5 cơ sở
- Kinh tế t nhân: 247 cơ sở
- Kinh tế hỗn hợp : 47 cơ sở
- Doanh nghiệp nhỏ: 6650 cơ sở
- Doanh nghiệp đầu t nớc ngoài: 118 cơ sở
Biểu 5: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Đơn vị tính: Triệu đồng
Biểu đồ giá trị sản lợng công nghiệp của Tỉnh Đồng
Trong những năm gần đây, sản xuất công nghiệp liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, trung bình mỗi năm tăng 35,2%, vượt xa mức tăng trung bình 8% mỗi năm của giai đoạn 1990-1995 Đây là thành quả nổi bật vượt mục tiêu đề ra của Nghị quyết của Tỉnh ủy, khẳng định sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của ngành công nghiệp địa phương.
Ngành công nghiệp Trung ương phát triển ổn định nhờ vào trình độ công nghệ cao và thị trường tiêu thụ rộng lớn Nhịp độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt khoảng 32,7%, thể hiện sức bật mạnh mẽ của ngành trong khu vực và góp phần thúc đẩy nền kinh tế địa phương tiến bộ nhanh chóng.
Trong giai đoạn từ năm 1991 đến 1998, ngành công nghiệp Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, với mức tăng lần lượt là 84,7%, 17,9% vào năm 1995 và 10,4% vào năm 1998 Nhiều nhà máy đã mở rộng quy mô sản xuất và đổi mới công nghệ, điển hình như Công ty đường Biên Hòa, Nhà máy sữa Dielắc, Nhà máy đường La Ngà, Nhà máy luyện cán thép Biên Hòa và Bột giặt Net Hơn 80% các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đã đạt được hiệu quả kinh doanh cao và giữ vững vị thế cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế.
- Công nghiệp quốc doanh Địa phơng tăng bình quân năm là 6,6% Tốc độ này mặc dù có chậm hơn so với thời kỳ
Từ năm 1990 đến 1995, doanh nghiệp đã tăng trưởng trung bình 10,9% mỗi năm, phản ánh đúng bản chất và hiệu quả kinh doanh sau quá trình sắp xếp lại theo Nghị định 388/CP Các doanh nghiệp nhà nước địa phương thường có quy mô nhỏ, nhưng một số doanh nghiệp như xí nghiệp chế biến thực phẩm, công ty bao bì Biên Hòa và nhà máy chế biến gỗ Tân Mạnh đã phát triển ổn định về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Trong những năm gần đây, công nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển mạnh về số lượng doanh nghiệp và vốn đầu tư nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần Từ chỉ có 5 doanh nghiệp tư nhân với vốn đầu tư 542 triệu đồng năm 1991, đến năm 1995 đã có 818 doanh nghiệp hoạt động, tổng vốn kinh doanh đạt 280.255 tỷ đồng, bao gồm 93 công ty TNHH với vốn đầu tư 131.266 tỷ đồng và 721 doanh nghiệp tư nhân với vốn đầu tư 138.659 tỷ đồng Giá trị GDP từ khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm khoảng 5,4%, trong khi góp phần tạo ra 1,6% lao động toàn nền kinh tế Đến năm 1998, số doanh nghiệp nhỏ tăng lên con số 6.440, trong đó có 118 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, giúp tăng tỷ lệ đóng góp của ngành này lên 8,4% vào GDP và duy trì tỷ lệ lao động khoảng 1,6%.
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2000, giá trị tổng sản lượng bình quân hàng năm tăng 25%, cao hơn đáng kể so với giai đoạn 1990-1995, với mức tăng trung bình 3,7% mỗi năm Ngoài các sản phẩm truyền thống như gạch, ngói, gốm sứ và chế biến nông sản, ngành công nghiệp đã mở rộng ra nhiều mặt hàng mới với mẫu mã đa dạng như nước tinh khiết, bình xăng xe Honda, giày dép xuất khẩu, sơn, vật liệu xây dựng Nhìn chung, ngành công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển mạnh mẽ, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương bằng cách phát huy các ngành nghề truyền thống và mở rộng các mặt hàng mới, góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và thúc đẩy xuất khẩu.
Ngành công nghiệp nước ngoài tại tỉnh đã tăng trưởng rất nhanh về số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư Năm 1991, chỉ có 15 dự án với tổng vốn đầu tư 259 triệu USD, nhưng đến năm 1998, toàn tỉnh đã cấp phép cho 114 dự án với tổng vốn 2,3 tỷ USD, trong đó 53 dự án đã đi vào hoạt động và tạo ra 21.500 lao động Giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp của tỉnh tăng từ 8,6 tỷ đồng năm 1992 lên 378 tỷ đồng năm 1995, tăng gấp 47 lần và chiếm đến 21,1% trong toàn ngành công nghiệp địa phương Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ổn định với sản phẩm chủ yếu hướng xuất khẩu.
Biểu 6: sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp Trung - ơng
- Lốp xe đạp các loại
- Ti vi màu trắng ®en
- Cà phê các loại Tấn 650 700 1008
Biểu 7: sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp địa ph- ơng
- Quạt dân dụng các loại Cái 23228 21500 33140
- Trung đại tu ô tô Cái 450 476 485
- Nông cụ cầm tay 1000 cái 265 270 285
- Giấy các loại NQD Tấn 3.100 3.200 3.250
- Thùng hộp giấy QD Tấn 6.602 8.600 9.230
- Bánh kẹo các loại Tấn 180 77 85
-Quần áo may sẵn 1.000 đôi 1.683 2.171 2.300
-Nớc máy khai thác 1.000 m 3 12.713 13.577 15.400 -Thức ăn gia súc Tấn 63.788 65.450 69.500
Biểu 8: sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp
(khu vực có vốn đầu t nớc ngoài)
- Nớc uống đóng hép TÊn 4,959 4,400 4,610
- Thức ăn gia súc 1.000 tÊn 377,46 377 436
- Khăn tắm các loại 1.000 tÊn 1,43 1,43 1,29
- Sản phẩm may mặc 1000 SP 5,553 7,390 9,400
Trong giai đoạn vừa qua, sản xuất công nghiệp đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao, góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành Các thiết bị công nghệ đã từng bước đổi mới, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất Sự đổi mới này đã tác động quyết định đến tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Nhờ đó, tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội đã tăng từ 33,4% năm 1995 lên 48,25% năm 1998, phản ánh rõ nét chuyển biến tích cực trong nền kinh tế quốc gia.
1.2 Lao động trong ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai
Biểu 9: Lao động trong khu vực công nghiệp tỉnh Đồng Nai §V: ngêi
Tổng số % Tổn g số % Tổn g sè %
Công nghiệp khai thác 2130 2,2 2287 2,0 2979 2,5 Công nghiệp chế biến 9382
97, 0 Công nghiệp sản xuất và phân phối điện , khí đốt và nớc
Trong những năm qua, lao động của khu vực công nghiệp tỉnh đã có xu hướng tăng trưởng, với mức tăng 25%, giúp giải quyết thêm 24.927 lao động có việc làm từ năm 1996 đến 1998 Lao động trong ngành khai thác tăng tới 39,8%, trong khi lao động trong ngành chế biến tăng 25,6%, chứng tỏ tỉnh đã chú trọng phát triển mở rộng quy mô và nâng cao năng suất trong lĩnh vực khai thác và chế biến để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Tuy nhiên, lao động trong ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước có xu hướng giảm 3,9%, điều này phản ánh sự tập trung của tỉnh vào xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, dù có thể gây khó khăn cho việc thực hiện chủ trương CNH – HĐH của Đảng và Nhà nước cũng như ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân trong tương lai.
Biểu 10: Lao động trong các cơ sở quốc doanh, các cơ quan nhà nớc và ngoài quốc doanh Đơn vị: Ngời
Trong giai đoạn này, lao động trong ngành công nghiệp quốc doanh trung ương tăng 0,5% năm 1997 nhưng giảm 3,9% năm 1998, trong khi lao động trong quốc doanh địa phương giảm 4,8% vào năm 1998 Ngược lại, số lượng lao động làm ngoài khu vực quốc doanh đã tăng lên 134,8% trong cùng năm, phản ánh sự chuyển dịch lao động sang các lĩnh vực ngoài quốc doanh Những biến động này chủ yếu do các tỉnh tổ chức lại doanh nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương, đồng thời giải thể các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nhằm mở rộng quy mô những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và giải quyết vấn đề thất nghiệp.
Dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh công nghiệp, khu vực quốc doanh trung ương giữ vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai Hiện tại, ngành công nghiệp tỉnh đang phát triển mạnh mẽ, giúp giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động địa phương một cách hiệu quả Điều này tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Đồng Nai trong tương lai.
1.3 Đầu t cho ngành công nghiệp
Biểu 11: Tình hình thực hiện vốn đầu t vào các ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
Các ngành Vốn trong nớc
1997 – 1998 (USD) Công nghiệp khai thác 27859
Công nghiệp chế biến 301413 585,86 43,7 Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nớc
Vốn đầu t vào ngành công nghiệp của Tỉnh Đồng Nai Đơn vị: triệu đồng
Trong những năm qua hoạt động đầu t vào lĩnh vực công nghiệp đã tăng 8% năm 1996 – 1997 nhng lại giảm
Trong năm 1998, tỷ lệ vốn đầu tư giảm còn 18,5% do nguồn vốn nước ngoài giảm, trong khi vốn đầu tư trong nước vào ngành công nghiệp vẫn tăng nhanh, đạt 18,8% Vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chủ yếu tập trung vào xây dựng mới, lắp đặt thiết bị và cải tiến công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến, chiếm phần lớn tổng vốn đầu tư ngành công nghiệp Trong bối cảnh vốn đầu tư vào các ngành khác giảm, ngành công nghiệp chế biến vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Trong các thành phần kinh tế, khu vực quốc doanh địa phương chiếm lĩnh phần lớn vốn đầu tư, với trị giá 509.159 triệu đồng năm 1998, chiếm 53,4% tổng vốn đầu tư toàn ngành công nghiệp Khu vực quốc doanh trung ương cũng chiếm tỷ lệ đáng kể với 444.000 triệu đồng, tương đương 46,6% Trong giai đoạn 1995 – 1998, nhiều dự án đầu tư nước ngoài có quy mô vốn lớn đã góp phần đáng kể vào tổng vốn đầu tư của tỉnh, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp địa phương.
- Khu công nghiệp Biên Hoà 1: 13 dự án tổng vốn đầu t: 48,7 triệu USD
- Khu công nghiệp biên Hoà 2: 51 dự án đầu t tổng vốn đầu t là 385,52 triệu USD
- Khu công nghiệp Gò Dầu: 8 dự án tổng số vốn đầu t
- Khu công nghiệp Sông Mây: 8 dự án tổng số vốn đầu t là 63,57 triệu USD
- Khu công nghiệp Hố Nai: 13 dự án tổng số vốn đầu t 22,77 triệu USD
- Khu công nghiệp Tuy Hạ: 7 dự án đầu t tổng vốn đầu t 74,3 triệu USD
2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
Biểu 12: Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Nai Đơn vị tính: Triệu đồng
Nông-lâm nghiệp-thuỷ sản
Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng
Ngành công nghiệp và dịch vụ của tỉnh đang tăng trưởng khá nhanh, with tốc độ tăng trưởng lần lượt là 47,3% và 23,9% Cơ cấu ngành đã chuyển dịch theo hướng tích cực, với tỷ trọng ngành công nghiệp tăng từ 42,38% năm 1996 lên 48,00% năm 1998, nhờ vào các điều kiện tự nhiên thuận lợi như vị trí địa lý, địa hình và tài nguyên Ngoài ra, tỉnh nằm trong khu vực trọng điểm phía Nam, nhận được sự quan tâm đầu tư phát triển từ Nhà nước Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng tăng từ 24,76% năm 1996 lên 26,5% năm 1998, chứng tỏ sự phát triển ổn định của ngành này trong giai đoạn này.