1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx

79 693 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế
Trường học Bệnh viện đa khoa Can Lộc, Hà Tĩnh
Chuyên ngành Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển chung của đất nước thì trong những nămgần đây ngành y tế nước ta cũng đã có những bước phát triển vượt bậc, công tácCSSK cho nhân dân được thực hiện tốt hơn.Trong

Trang 2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

1.1 Lý do chọn đề tài 4

1.2 Lý thuyết Công tác Xã hội 6

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10

1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 16

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 25

2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 25

2.2 Các câu hỏi nghiên cứu 26

2.3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 26

2.4 Nội dung nghiên cứu 27

2.5 Phương pháp nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu 35

3.2 Thực hành CTXH tại bệnh viện 55

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

4.1 Kết luận 75

4.2 Kiến nghị 77

Trang 3

11 TTDSKHHGĐ Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài

Sau gần 30 năm tiến hành đổi mới, hội nhập và phát triển Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế - xã hội, văn hóa đếngiáo dục và y tế, diện mạo đất nước đã có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân ngày

Trang 4

càng được nâng cao Cùng với sự phát triển chung của đất nước thì trong những nămgần đây ngành y tế nước ta cũng đã có những bước phát triển vượt bậc, công tácCSSK cho nhân dân được thực hiện tốt hơn.

Trong 65 năm qua, dưới sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đồngthời với sự nỗ lực to lớn của toàn dân, ngành y tế nước ta đã đạt được những thànhtựu to lớn, mạng lưới y tế cơ sở hiện nay đã có 80% số thônbản có nhân viên y tếhoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia, hệ thốngpháp luật, chính sách về y tế đã được ban hành và từng bước được hoàn thiện trongthực tiễn; những tiến bộ khoa học - kỹ thuật về y tế ngày một phát triển, cơ sở vậtchất y tế ngày càng được cải thiện, sự chăm lo của cộng đồng trong đó có hoạt độngnhân đạo, từ thiện được đẩy mạnh đã góp phần tích cực hỗ trợ cho người dân, nhữngngười yếu thế trong xã hội khắc phục những rủi ro gặp phải trong quá trình KCB,CSSK

Tuy nhiên, trước những biến động khó lường của nền kinh tế thế giới, đối mặtvới tình hình giá cả, lạm phát tăng cao trong nước, ngành y tế phải đối mặt với rấtnhiều vấn đề của riêng mình như chất lượng y tế cơ sở còn thấp, hệ thống KCB ngàycàng quá tải, công tác BHYT cũng còn nhiều vấn đề, các dịch bệnh vẫn rình rập và

có thể bùng phát bất kỳ lúc nào, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đặt con ngườitrước những nguy cơ mới

Trong thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã liên tụcđăng tải những vấn đề bất cập liên quan đến lĩnh vực y tế Đó là các vấn nạn nảysinh trong BV như : tình trạng quá tải, sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa bệnhnhân với bác sĩ, giữa người nhà bệnh nhân với các cơ sở y tế, “cò BV”, nhữngvướng mắc trong làm thủ tục KCB,…Những vấn nạn này nếu không được khắcphục sẽ để lại nhiều hậu quả đáng tiếc

Bên cạnh đó, tại cộng đồng, hiện nay, nhiều chương trình mục tiêu y tế quốcgia đang triển khai và rất cần có sự tham gia của nhân viên CTXH, đặc biệt là cácchương trình liên quan đến những nhóm xã hội đặc thù như: quản lý, chăm sóc, tưvấn cho người nhiễm HIV tại cộng đồng, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng,

Trang 5

phòng chống lao, phòng chống bệnh tâm thần, quản lý sức khoẻ hộ gia đình, sứckhoẻ sinh sản, phòng chống tai nạn thương tích…

CTXH là một ngành, một lĩnh vực có thể cung cấp các dịch vụ giải quyết tốtcác vấn đề nêu trên Đẩy mạnh triển khai thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế khôngchỉ là một nhu cầu bức thiết hiện nay mà đó còn là một giải pháp tối ưu để nâng caochất lượng các dịch vụ y tế

Theo Từ điển Bách khoa Xã hội, “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụngnhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xãhội và đem lại nền an sinh cho mọi người trong xã hội” Trên một thế kỷ qua, khoahọc và nghề chuyên môn công tác xã hội đã hình thành và phát triển đem lại nhữnglợi ích đáng kể thông qua việc cung cấp các dịch vụ hữu ích cho con người Đếnnay, công tác xã hội có mặt tại 80 nước trên thế giới, đã và đang hỗ trợ cho nhữngngười yếu thế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, mang lại bình đẳng và côngbằng xã hội Với ý nghĩa quan trọng đó, công tác xã hội đã được đưa vào rất nhiềulĩnh vực khác nhau, như: Chăm sóc hỗ trợ những đối tượng thiệt thòi, yếu thế (trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật,…) trong toà án, trường học và nhất làtrong lĩnh vực y tế

Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngày 15/07/2011, Bộ Y tế đãchính thức triển khai “Đề án phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) trong lĩnh vực

y tế”, nhằm kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình KCB

Hiện nay ở Việt Nam trong đào tạo CTXH chưa có chuyên ngành CTXH y tếriêng biệt Đây còn là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng cũng đang có nhiều triểnvọng để phát triển Là một nhân viên CTXH trong tương lai, thực hành CTXH tronglĩnh vực y tế cũng là một nội dung hoạt động của ngành CTXH nên tôi thực sự quantâm và muốn tìm hiểu về vấn đề này

Với tất cả những lý do trên, cùng với sự động viên khuyến khích của giáo

viên hướng dẫn đã tạo động lực để tôi quyết định chọn đề tài: “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” (Nghiên cứu trường hợp tại Bệnh viện đa khoa Can Lộc, Hà

Tĩnh) làm nội dung cho khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành CTXH của mình.

Trang 6

1.2 Lý thuyết Công tác Xã hội

1.2.1 Lý thuyết hệ thống trong CTXH

Trong tiến trình thực hành CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng,nhân viên xã hội khi giúp đỡ thân chủ của mình cần áp dụng rất nhiều kĩ năng vàkiến thức như: thuyết hành vi, lý thuyết phân tâm học, thuyết nhân văn, hiện sinh…

và nhiều lý thuyết khác để giải thích hành vi của thân chủ từ đó đưa ra được tiếntrình giúp đỡ phù hợp mang lại hiệu quả cao

Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụngtrong công tác xã hội Khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ không thể thiếu được lýthuyết hệ thống bởi nhân viên xã hội cần chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cầnđến những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và thamgia các hệ thống Có làm được như vậy thì nhân viên xã hội mới thực sự hoàn thànhtiến trình giúp đỡ của mình Chỉ khi nào thân chủ được sự giúp đỡ và tham gia các

hệ thống họ mới thực sự trở lại là chính họ Đó cũng là cái đích cuối cùng mà CTXHhướng đến

Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ lý thuyết hệthống tổng quát của Bertalanffy Bertalanffy sinh ngày 19/09/1901 tại Vienna và mất12/06/1972 tại Newyork - Mĩ Ông đã tốt nghiệp các trường đại học: Vienna(1948),London(1949), Montreal(1949) Ông là một nhà sinh học nổi tiếng Lí thuyết củaông là một lí thuyết sinh học cho rằng “ mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thốngđược tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớnhơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử , màđược tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn Lý thuyết này được áp dụng đối với các hệthống xã hội cũng như những hệ thống sinh học Sau này, lý thuyết hệ thống đượccác nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson(1995), Mancoske(1981), Siporin(1980)

…và phát triển

Hanson cho rằng giá trị của thuyết hệ thống là nó đi vào giải quyết những vấn

đề tổng thể nhiều hơn là những bộ phận của các hành vi xã hội con người Mancoskethì cho rằng thuyết hệ thống bắt nguồn dưới học thuyết Darwin xã hội của Herbert

Trang 7

Spencer Theo Siporin đã tìm hiểu và nghiên cứu khảo sát thực tế trong xã hội cuốithế lỉ XIX ở Anh để tìm hiểu và phát triển thuyết này Và cũng có trường phái cácnhà xã hộsi học sinh thái Chicago vào những năm 1930 cũng trở thành những ngườitiên phong trong phong trào nghiên cứu và tìm hiểu về thuyết hệ thống.

Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn công tác xã hộiphải kể đến công lao của Pincus va Minahan cùng các đồng sự khác Tiếp đến làGermain và Giterman Những nhà khoa học trên đã góp phần phát triển và hoànthiện thuyết Hệ thống trong thực hành CTXH trên toàn thế giới

Hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau về hệ thống Theo từ điển tiếng

Việt: “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có

quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất.”

Theo định nghĩa của “Lý thuyết công tác xã hội hiện đại”: “Hệ thống là một tập hợp

các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất.”

Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của hệ thốnglớn hơn Và mỗi cá nhân được coi như là một hệ thống Cũng có nhiều cách phânloại hệ thống khác nhau như: hệ thống đóng, hệ thống mở, các hệ thống sinh học hay

hệ thống xã hội

Trong công tác xã hội, hai hình thức cơ bản của lý thuyết hệ thống được phânbiệt rõ ràng là: Lý thuyết hệ thống tổng quát và lý thuyết hệ thống sinh thái

Lý thuyết hệ thống tổng quát trọng tâm là hướng đến những cái “tổng thể” và

nó mang tính “hoà nhập” trong công tác xã hội Pincus và Minahan áp dụng lýthuyết hệ thống vào thực hành công tác xã hội Nguyên tắc về cách tiếp cận nàychính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của

họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng, do đó công tác xã hội phải nhấn mạnh đếncác hệ thống

Ba hình thức hệ thống tổng quát đó là: Hệ thống chính thức, hệ thống phichính thức và hệ thống xã hội

 Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè, người thân, cộng sự đồngnghiệp…

Trang 8

 Hệ thống chính thức: Các nhóm cộng đồng, các tổ chức công đoàn…

 Hệ thống xã hội: BV, cơ quan, tổ chức đoàn thể nhà nước, nhà trường…Nhưvậy, BV là một hệ thống xã hội Bệnh nhân, nhân viên y tế và những người kháctrong BV cùng thuộc một hệ thống và có sự tác động qua lại lẫn nhau

Mô hình đời sống về thực hành CTXH của Germain và Gitterman(1980) làmột mô hình chính trong hệ thống sinh thái Mô hình cuộc đời nhìn nhận cá nhânnhư việc họ thích ứng thường xuyên trong một sự trao đổi lẫn nhau với nhiều khíacạnh khác nhau về môi trường sống của họ.Tất cả chúng đều biến đổi thông qua môitrường Vấn đề của công tác xã hội xảy ra khi các hệ thống cá nhân sống trong đókhông thích ứng được với môi trường sống của họ

Áp dụng lý thuyết này vào vấn đề nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu đúng vấn

đề và có cách giải quyết tốt nhất Mỗi cá nhân là một hệ thống, như vậy mỗi bệnhnhân, người nhà bệnh nhân, nhân viên y tế là một tiểu hệ thống trong một hệ thốnglớn hơn là bệnh viện Những vấn đề trong bệnh viện xảy ra khi sự tương tác giữa cáctiểu hệ thống hay giữa các hệ thống khác nhau liên quan đến các tiểu hệ thống này

có vấn đề Theo thuyết hệ thống thì người bệnh có thể nằm trong các hệ thống như:gia đình, bạn bè, các nhóm cộng đồng, các tổ chức đoàn thể… Hiểu được lý thuyết

hệ thống sẽ tìm ra được nguyên nhân của các vấn đề mà người bệnh đang gặp phải ,thấy được những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề đó và đưa ra được những giải phápđúng đắn, mang lại hiệu quả cao

1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội

Nói tới hành động là nói tới việc chủ thể gắn cho hành vi của mình một ý nghĩchủ quan nào đó Hành động kể cả hành động thụ động và không hành động đềuđược coi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi củangười khác trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai, ý nghĩa chủ quan đó địnhhướng hành động

Max Weber cho rằng: “Hành động” có nghĩa là một thái độ của con người (tự

có, hành động bên ngoài hoặc bên trong, không được phép hoặc được phép), khi và

Trang 9

chỉ khi chủ thể gắn liền thái độ của mình với một ý nghĩa chủ quan “Hành động xãhội” thì lại là hành vi có định hướng ý nghĩa theo thái độ của những người khác”.M.Weber cho rằng việc phân loại hành động xã hội của con người có ý nghĩarất quan trọng đối với xã hội học vì, mặc dù nghiên cứu hành động người, khoa học

xã hội học chủ yếu quan tâm đến hành động xã hội M.Weber đã phân hành động xãhội thành 4 loại cơ bản là:

Hành động duy lý - công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tínhtoán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất

Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động(mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào những mục tiêuphi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý

Hành động cảm tính (xúc cảm): là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặctình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệgiữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động

Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi

lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này sang đời khác

Vận dụng thuyết hành động xã hội vào tiến trình CTXH giúp ta hiểu được vì saobệnh nhân lại có những thái độ, cách ứng xử như vậy Ở mỗi điều kiện hoàn cảnh khácnhau thì bệnh nhân có những hành động khác nhau được thể hiện thông qua thái độ, cửchỉ, lời nói và những suy nghĩ, hành vi của bệnh nhân Nhân viên CTXH phải hiểu đượcđộng cơ và mục đích của người bệnh để có sự trợ giúp tốt nhất

1.2.3 Lý thuyết vai trò

Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức

vị của con người trong xã hội đó Thí dụ, bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồngphải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, trò phải chămchỉ, thầy phải nghiêm túc Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn.Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người có thể thấy được Vai trò ẩn là vai tròkhông biểu hiện ra bên ngoài mà nhiều khi chính người đóng vai trò đó cũng khôngbiết Trên thực tế, mỗi người có thể đóng nhiều vai trò cùng một lúc Ở BV vai trò

Trang 10

của bác sĩ là chữa bệnh cho bệnh nhân, vai trò của y tá, điều dưỡng là chăm sóc chobệnh nhân Vai trò của nhân viên CTXH ở đây là giúp bệnh nhân, người nhà bệnhnhân, cán bộ y tế thấy được những vai trò khác nhau mà họ có thể đóng tuỳ vàohoàn cảnh cá nhân và tiềm năng mà họ huy động được.

1.3.1 CTXH trong lĩnh vực y tế

1.3.1.1 Trên thế giới

Ở Mỹ, CTXH lần đầu tiên được đưa vào BV năm 1905 tại Boston và đến nayhầu hết các BV đều có phòng CTXH và đây là một trong những điều kiện để các BVđược công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Mỹ Tại BV, nhân viên xã hội làmột thành phần trong ê kíp trị liệu Nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm hiểu nguyênnhân gây bệnh, phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin về điềukiện sống, thói quen, cá tính, đặc điểm tâm lý của bệnh nhân Nhân viên xã hội cònthực hiện các trợ giúp về tâm lý đối với người bệnh như: trấn an, giảm áp lực, tránhxấu hổ, tư vấn về điều trị… Nhân viên xã hội cũng có thể tham mưu về kế hoạchxuất viện của bệnh nhân và theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện CSSK tại gia đình vàcộng đồng cũng rất cần có sự tham gia của nhân viên xã hội Họ có thể tham dự vàocác hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng như: truyền thông, giáo dụcsức khoẻ, giúp các nhóm đặc thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần… Sự xuấthiện của nhân viên xã hội trong CSSK tại cộng đồng là phương thức để mở rộngmạng lưới CSSK đến với người dân ở mọi nơi, mọi lúc, nhằm khuyến khích họ tíchcực tham gia giải quyết những vấn đề sức khoẻ bằng chính khả năng của mình vàvới các phương pháp thích hợp Đồng thời, CTXH còn cần thiết phải được ứng dụng

ở cấp hoạch định chính sách về CSSK Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang pháttriển, CSSK được xác định là một trong những lĩnh vực của an sinh xã hội Do đó,khi hoạch định những chính sách về CSSK cần phải ứng dụng những tri thức củaCTXH sao cho mọi người dân đều có cơ hội được hưởng lợi

Ở Singapore, Philippines tại hầu hết ở các BV đều thành lập một đơn vịchuyên đảm nhận hoạt động thực hành CTXH trong BV Về cơ cấu tổ chức có thể là

Trang 11

một bộ phận trực thuộc BV do ngành y tế quản lý, cũng có thể là một bộ phận độclập hoạt động tại bệnh viện nhưng do ngành chủ quản (như ngành LĐ-TB&XH)quản lý Kinh phí để duy trì hoạt động có thể từ kinh phí Nhà nước, song cũng có thểhuy động từ quỹ của bệnh nhân hoặc quỹ KCB tại BV do cộng đồng quyên góp.

Những năm gần đây, tại một số BV tuyến TW cũng đã triển khai hoạt độngCTXH với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y tế kiêm nhiệm và tình nguyệnviên nhằm hỗ trợ thầy thuốc trong phân loại bệnh nhân, tư vấn, giới thiệu dịch vụchuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc cho người bệnh… góp phần làm giảm bớt khó khăntrong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB Một số mô hình tổ chức của hoạtđộng CTXH trong BV và tại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễnnhư: phòng CTXH, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội…thuộc BV haynhóm CTXH tham gia hỗ trợ người có HIV/AIDS, bệnh nhân tâm thần, giúp phụchồi chức năng tại xã/phường…

Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngày 22/11/2011, Bộ Y tế đãchính thức triển khai Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) trong lĩnh vực

y tế giai đoạn 2011 – 2020”, nhằm kịp thời giải quyết những vấn đề y tế nảy sinhtrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Hiện mô hình CTXH đang được triển khaithí điểm ở BV Nhi TW (Hà Nội) và BV Nhân dân 115 (TP Hồ Chí Minh)

BV Nhi TW là một trong những BV đã thành lập tổ CTXH sớm nhất ở nước

ta Năm 2008, Tổ CTXH của BV được thành lập Với hoạt động giúp đỡ, chia sẻvới bệnh nhân; trợ giúp bác sỹ trong KCB; theo dõi, chăm sóc bệnh nhân nhi mắcbệnh hiểm nghèo; gây quỹ; tổ chức các sự kiên… Tổ CTXH đã góp phần xoa dịu

Trang 12

nỗi đau bệnh tật của bệnh nhi, trợ giúp đắc lực cho bác sỹ, tạo ra mối thiện cảm, sựgắn kết giữa bệnh nhân - cơ sở y tế - người nhà bệnh nhân

Việc triển khai thí điểm Đề án ở BV Nhân dân 115 cho thấy CTXH thực sựmang lại hiệu quả: Các nhân viên CTXH có vai trò tích cực trong giải thích chongười dân về BHYT, về cơ sở vật chất của BV, giải thích những thắc mắc của bệnhnhân trong quá trình điều trị và báo cáo kịp thời diễn biến tâm tư của người bệnh vớithầy thuốc để có hướng điều trị tối ưu

Thực tế, tại hầu hết các BV, hoạt động KCB chỉ được thực hiện bởi các nhânviên có trình độ chuyên môn về y Các biện pháp trị liệu về xã hội chưa được quantâm Do vậy, chưa có chức danh chuyên môn về CTXH trong cơ cấu nhân sự vàchưa có phòng CTXH trong tổ chức bộ máy của BV Tại BV Chợ Rẫy, BV NhiĐồng 1 đã tổ chức các hoạt động CTXH hỗ trợ cho cán bộ y tế và bệnh nhân, giúp

họ hoàn thành nhiệm vụ và vượt qua những lo lắng bệnh tật

Tuy nhiên, hoạt động CTXH trong Ngành hiện mới chỉ mang tính tự phát,chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý Đội ngũ cán bộ tham giahoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo, bồidưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạtđộng chưa được như mong đợi Theo phản ánh của đại diện Sở Y tế tỉnh Lào Cai,hiện nay, trong các BV tại tỉnh chưa có cán bộ làm CTXH, cán bộ y tế người Kinh ítbiết tiếng dân tộc, thiếu kỹ năng về CTXH

Từ đòi hỏi thực tế và bản chất quan trọng của CTXH trong lĩnh vực y tế, côngtác này đã được xác định là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển bềnvững trong công tác CSSK nhân dân

Tại Hội thảo “Phát triển CTXH trong lĩnh vực y tế”, Bộ trưởng Bộ Y tế đãnhấn mạnh, Bộ Y tế sẽ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo phát triển CTXH trong Ngành Bộtrưởng đã giao Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ Dân số - Y tế, Bộ Y tế thườngtrực báo cáo để triển khai lĩnh vực này

Trang 13

Như vậy, ngành CTXH trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam đã có một hướng đi

rõ ràng Thực hiện thành công việc đưa CTXH vào lĩnh vực y tế sẽ góp phần đáng

kể cải thiện năng lực của hệ thống Y tế Việt Nam

Có thể nói, CTXH trong ngành Y tế là một nội dung hoạt động rất quan trọngtrong quá trình chuyên nghiệp hoá lĩnh vực CTXH, góp phần không nhỏ vào côngcuộc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân

Vừa qua Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, phê

duyệt Đề án “Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020” Mục tiêu chung của Đề

án là phát triển CTXH thành một nghề ở Việt Nam, nâng cao nhận thức của toàn xã

hội về nghề CTXH Theo đó, ngày 15/07/2011, Bộ Y tế đã chính thức triển khai “Đề

án phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2020” Đề án tập trung vào việc nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo và cán bộ

2011-ngành y tế về vai trò quan trọng của nghề CTXH; từng bước hình thành mạng lướihoạt động CTXH tại các BV để hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động CSSK banđầu, đem dịch vụ y tế đến gần với bệnh nhân hơn

Ngày 06/07/2010, tại Hà Nội, Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ Dân số

-Y tế, Bộ -Y tế đã tổ chức Hội thảo “Phát triển công tác xã hội trong lĩnh vực -Y tế”.

Tại Hội thảo nhiều bài viết, bài tham luận, ý kiến phát biểu của các nhà khoa học,các nhà hoạt động thực tiễn, các nhà quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế

đã nêu rõ vai trò, tác động của công tác xã hội trong lĩnh vực y tế; kết quả bước đầu,khó khăn, thuận lợi của hoạt động này và định hướng cho sự phát triển CTXH tronglĩnh vực y tế trong thời gian sắp tới

Bài viết “Cần đưa CTXH vào lĩnh vực y tế” của tác giả Phương Mai đăng

ngày 10/11/2011 trên mục Tin tức - Sự kiện của Báo điện tử Giađinh.net cho thấy

Trang 14

nhu cầu và sự cần thiết phải đưa CTXH vào lĩnh vực y tế Trong thời gian gần đâynhiều vấn đề bức xúc trong lĩnh vực y tế liên tiếp xảy ra làm mất dần niềm tin củangười dân vào ngành y Qua việc nêu lên thực trạng các vấn đề và đưa ra những dẫnchứng xác đáng tác giả bài viết cho rằng để giải quyết những vấn đề đó cần có sựtham gia của CTXH trong các cơ sở y tế.

Ngày 15/11/2011 trên trang Web Giaoduc.edu.vn tác giả Thanh Bình có bài

viết “Vai trò của CTXH trong chăm sóc sức khỏe” Bài viết đã đề cập đến vị trí và

vai trò của ngành CTXH trong lĩnh vực y tế, xác định những hoạt động mà nhânviên CTXH có thể tham gia trong công tác CSSK cho nhân dân

Bài viết “Một mô hình cần nhân rộng” của tác giả Hương Lan đăng ngày

30/11/2011 trên Trang tin điện tử truyền thông giáo dục sức khỏe giới thiệu về cách

làm sáng tạo và hoạt động hiệu quả của phòng CTXH ở BV Nhi TW Phòng CTXH,

BV Nhi TW được xem là mô hình thí điểm để các đơn vị trong ngành Y tế thamquan, học hỏi

Mặc dù các công trình nghiên cứu, các bài viết nói trên đã phản ánh nhiềuvấn đề liên quan đến CTXH trong lĩnh vực y tế nhưng vẫn còn quá ít các công trìnhnghiên cứu về thực hành CTXH trong một BVĐK tuyến huyện Những tài liệu, sáchbáo, công trình nghiên cứu về vấn đề này rất hiếm Đặc biệt ở BVĐK huyện Can

Lộc thì hầu như chưa có Vì vậy, việc lựa chọn đề tài: “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” (Nghiên cứu trường hợp tại Bệnh viện đa khoa Can Lộc) là xuất phát

từ nhu cầu thực tiễn chứ không phải là một phát kiến mới của cá nhân người nghiêncứu Tuy nhiên, nét riêng của đề tài này là dưới góc nhìn của CTXH, bằng nhữngkiến thức, kỹ năng và phương pháp đã được học người nghiên cứu muốn mô tả lạicác thực hành CTXH trong BV, tìm hiểu nhu cầu và những hoạt động mà nhân viênCTXH có thể tham gia để từ đó đưa ra được mô hình thực hành CTXH phù hợp.Đây là một hướng nghiên cứu mới và đầy khó khăn, thử thách đối với người nghiêncứu trong việc kế thừa những thành quả có trước để hoàn thành tốt nhiệm vụ củamình

1.3.3 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

Trang 15

1.3.3.1 Công tác xã hội

Theo Từ điển Bách khoa Xã hội: “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng

nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho mọi người trong xã hội”.

Tại Đại hội Montreal (tháng 7/2000) Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội Quốc tế

- IFSW định nghĩ về CTXH như sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự

thay đổi xã hội,việc giải quyết các vấn đề trong các mỗi quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên tắc cơ bản của nghề”.

CTXH còn được hiểu là một dịch vụ đã chuyên môn hóa, góp phần giải quyếtnhững vấn đề xã hội, về con người mang tính bức xúc nhằm thỏa mãn các lợi íchcăn bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, mặt khác góp phần giúp cánhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình

1.3.3.2 Nhân viên CTXH

Đó là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH có bằngcấp chuyên môn Đó là những cán bộ, những chuyên gia có khả năng phân tích cácvấn đề xã hội, biết tổ chức, vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm mụcđích tối ưu hoá sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực củacuộc sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượngsống của cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội

1.3.3.3 Y tế

Theo từ điển Tiếng Việt thì “Y tế là một ngành y học ứng dụng, chuyên việc

phòng, chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ”.

Khoa học sức khỏe là một ngành thuộc khoa học ứng dụng nhằm mục đíchchăm sóc sức khỏe cho con người và động vật Khoa học sức khỏe được chia là hai

Trang 16

ngành: sức khỏe công cộng (dự phòng) và sức khỏe lâm sàng Nghiên cứu, khảo sát

và kiến thức, thái độ, kỹ năng về sức khỏe; và cách vận dụng kiến thức đó vào việcgiữ gìn sức khỏe, ngừa bệnh, chữa bệnh và hiểu biết những chức năng tâm sinh

lý, tâm lý, sinh lý, sinh hóa trong cơ thể con người và động vật Nghiên cứu dựa vàocác môn khoa học thuần túy: sinh vật học, sinh hóa học, vật lý học, tâm thần học, xãhội học,hành vi học, tâm lý học, giáo dục và nâng cao sức khỏe

1.3.3.4 Bệnh Viện

BV hay nhà thương là cơ sở để khám và chữa trị cho bệnh nhân khi bệnh của

họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác Đây là nơi tập trung các chuyên viên y

tế gồm các bác sĩ nội và ngoại khoa, các y tá, các kỹ thuật viên xét nghiệm cận lâmsàng

BVĐK là những BV lớn, có thể xét nghiệm và chữa trị hầu hết các loại chứngbệnh Tại đây bác sĩ chuyên khoa mỗi ngành làm việc tại một khu riêng của ngànhmình nhưng vẫn có thể liên lạc với những bác sĩ của ngành khác để cộng tác chữatrị công hiệu - nhất là nghiên cứu những bệnh khó chẩn đoán hay chữa trị Các BVnày thường có phòng cấp cứu, phòng xét nghiệm máu và quang tuyến và phòngđiều trị tăng cường

Một số BV được thành lập chuyên ngành vì nhu cầu điều trị đặc biệt Thí dụ:

BV nhi khoa, BV mắt, BV lão,…

Bệnh xá hay trạm xá là nơi chẩn đoán và chữa trị tạm thời người bệnh địaphương thường do y tá quản lý Nếu bệnh trầm trọng sẽ được gửi lên BV lớn

1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Tổng quan về huyện Can Lộc

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Can Lộc là một huyện đồng bằng nằm ở trung tâm tỉnh Hà Tĩnh Vào 170

46-18 002 vĩ độ Bắc, 105-1060 kinh độ Đông Huyện Can Lộc nằm trên trục đường quốc

lộ 1A kéo dài khoảng 20km Can Lộc cách thủ đô Hà Nội 330km, cách thành phố

Trang 17

Vinh khoảng 30km, cách thị xã Hồng Lĩnh khoảng 15km và cách Thành phố HàTĩnh khoảng 20km Có vị trí địa lý như sau:

Phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân và Thị xã Hồng Lĩnh, phía Tây Bắc giáphuyện Đức Thọ, phía Tây Nam giáp huyện Hương Khê, phía Nam giáp huyện Thạch

Hà, Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Lộc Hà

Địa hình:

Huyện Can Lộc được thiên nhiên kiến tạo đủ cả đồi núi, các loại hình đồngbằng Đồng bằng huyện có diện tích khoảng 25.281 ha, nằm gọn giữa hai triền núiTrà Sơn và Hồng Lĩnh Gần như cân đối giữa địa phận huyện, theo hướng ĐôngNam, dải sông Nghèn chạy dọc từ đầu đến cuối huyện, tạo cho địa thế huyện có mặtbằng nhiều bậc, nhiều tầng có độ chênh lòng máng thuận lợi cho phát triển nôngnghiệp, giao thương, phát triển kinh tế

Khí hậu:

Can Lộc chịu tác động của nền khí hậu Miền Trung khắc nghiệt, khí hậu nhiệtđới gió mùa Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, huyện chịu ảnh hưởng củakhí hậu chuyển tiếp giữa Miền Bắc và Miền Nam Thời tiết hằng năm có hai mùa rõrệt Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 8 - 12 Chịu ảnh hưởng của nhiều bão và ápthấp nhiệt đới, gây lũ lớn tập trung vào tháng 9, tháng 10 Lượng mưa bình quân2200-2300mm Mùa khô thường kéo dài từ tháng 1 đến tháng 7 Trong đó từ tháng 1đến tháng 3 thường có gió mùa Đông bắc gây những đợt rét đậm kéo dài, nhiệt độ từ

100-130c Từ tháng 4 đến tháng 8 thường có từng đợt gió Tây nam (nam Lào) gâynắng nóng gay gắt từ 370c-390c Nhiệt độ trung bình hằng năm cao nhất 380-390 c,thấp nhất 80c- 150c Độ ẩm trung bình 76% - 90%

Đất đai:

Huyện Can Lộc có tổng diện tích tự nhiên là: 30.128,33ha Trong đó:

+ Đất nông nghiệp: 19.460,24ha

+ Đất phi nông nghiệp: 7.590,35ha

+ Đất chưa sử dụng: 3.077,74ha

Trang 18

Thổ nhưỡng huyện Can Lộc nhìn chung là đất sét, đất feralit, đất cát pha ítbazan thuận lợi cho trồng rau màu, lương thực

Tài nguyên thiên nhiên

 Nước:

Can Lộc là một huyện có nhiều hồ đập, sông suối đã tạo ra trữ lượng nước mặtlớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản cũng như thuận lợi cho việc sản xuất nôngnghiệp của nhân dân Đó là đập Cù Lây(Thuần Thiện) có sức chứa: 8 triệu m3 nước,đập Nhà Đường( Thiên Lộc), đập An – Hùng(Tùng Lộc), Hồ Cửa Thờ – TrạiTiểu(Đồng – Mỹ Lộc) có sức chứa: 16 triệu m3 nước, sông Nghèn

ra đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của mỗi người dân nói riêng và côngtác CSSK trên địa bàn huyện nói chung Trong thời gian qua, cùng với sự biến đổi

Trang 19

khí hậu cộng với tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp nên nhiều dịch bệnhphát sinh, nhiều căn bệnh lạ xuất hiện gây không ít khó khăn cho các hoạt động y tế.

Điều kiện kinh tế - xã hội

Về kinh tế

Trong năm 2011 mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức, thời tiết diễn biến khắcnghiệt, rét đậm kéo dài, giá cả tăng cao, dịch bệnh gia súc, gia cầm xảy ra trên địa bàn vàcác vùng lân cận ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Tuynhiên, được sự lãnh đạo của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân huyện cũng như các sở, bannghành nên huyện đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tổng giá trị sản xuất đạt 1.743 tỷđồng (tăng 557 tỷ đồng so với 2010) có thể nói là bước nhảy vượt bậc, trong khi đó năm

2010 chỉ tăng 156 tỷ (22,1%) so với 2009 Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 10% bìnhquân giá trị sản xuất 14,7 triệu đồng/người Trong đó nông nghiệp đạt 806 tỷ đồng chiếm

46, 24%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 404 tỷ đồng chiếm 23.2%,thương mại và dịch vụ 533 tỷ đồng chiếm 30.58%, thương mại và dịch vụ tăng nhanh(50%) so với năm 2010 nhưng dịch vụ nông nghiệp lại tăng không đáng kể

Trong sản xuất nông nghiệp, trồng trọt là chủ yếu chiếm 462 tỷ, tăng 26,3% sovới 2010, năm 2010 chỉ đạt 365,7 tỷ, tăng 113, 59 tỷ (45,1%) Chăn nuôi chiếm 303 tỷđồng, tăng 58,5%, thủy sản chiếm 12.5 tỷ đồng, dịch vụ nông nghiệp chiếm 18.2 tỷđồng Tổng diện tích gieo trồng 19.562 ha/20.530 ha kế hoạch, đạt 93%, năng suất bìnhquân đông xuân 52,91 tạ/ha, hè thu 47,55 tạ/ ha Tổng sản lượng 78.628 tấn, đạt 93% sovới kế hoạch, tăng so với năm 2010 là16.300 tấn

Về chăn nuôi: đàn gia cầm 771.000 con (đạt 139.6% so với kế hoạch) Công tácphòng chống dịch gia cầm đạt kết quả cao, không để xảy ra dịch cúm gia cầm, dịch lợntai xanh, dịch lở mồm long móng có xảy ra nhưng nhanh chóng được dập tắt Tuy vậy, tỷ

lệ tiêm phòng cho gia súc gia cầm còn thấp, công tác kiểm soát giết mổ kiểm dịch cònchưa chặt chẽ là nguy cơ tiềm ẩn của dịch bệnh

Ngoài ra nuôi trồng thuỷ sản cũng là một thế mạnh của vùng, diện tích nuôi thảthuỷ sản 810 ha, tăng 32 ha so với năm 2010 trong đó nuôi ao hồ nhỏ 220 ha, nuôi mặtnước lớn là 308 ha, nuôi cá ruộng là 172 ha, sản lượng dự kiến ước đạt 589 tấn Nhưng

Trang 20

do đợt lũ vào tháng 11 đã làm nghành thuỷ sản thiệt hại khoảng 305 so với sản lượng.Năm 2009 thu được 13,94 tỷ đến năm 2010 giảm 16,7% so với năm 2009 do các xã bịtách thuộc vùng hạ Can phát triển nuôi trồng thuỷ sản, còn 11,61 tỷ và đến năm 2008 có12,5 tỷ (tăng 7,7%) so với năm 2010 dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng ít trong cơ cấugiá trị sản xuất Năm 2009 thu được 25,42 tỷ đến năm 2010 tăng lên 27,09 tỷ, tăng 6,6%

so với năm 2009 và năm 2011 tăng 5,2% so với năm 2010, chiếm 28 tỷ

Về xã hội

Huyện Can Lộc có địa bàn hành chính hiện nay gồm thị trấn Nghèn và 22 xã(Thiên Lộc, Thuần Thiện, Kim Lộc, Vượng Lộc, Thanh Lộc, Song Lộc, ThườngNga, Trường Lộc, Tùng Lộc, Yên Lộc, Phú Lộc, Gia Hanh, Vĩnh Lộc, Tiến Lộc,Trung Lộc, Xuân Lộc, Thượng Lộc, Quang Lộc, Đồng Lộc, Mỹ Lộc, Sơn Lộc, HồngLộc)

Tổng quy mô dân số là: 126.199 người theo đặc điểm tự nhiên và xã hội phân

Phân theo các xã có giáo dân và các xã người lương(không có giáo dân): Địabàn huyện Can Lộc có 10/23 xã có giáo dân sinh sống, các xã còn lại có tổng số dân

là 65.566 người

Về giao thông, xây dựng: chất lượng các công trình đảm bảo Trong nămhoàn thành đưa một số công trình, dự án vào sử dụng Các trục đường chính nhưđường quốc lộ, tỉnh lộ và các ngã đường chính đã được tu sửa, làm mới, thuận lợicho đi lại Xây dựng 42 km đường bê tông, đường nhựa đến các thôn xóm đạt 123%

kế hoạch Một số đơn vị làm tốt như Yên Lộc 5km, Sơn Lộc 6.5km, Đồng Lộc3km với chất lượng tiến bộ hơn trước Giá trị đầu tư xây dựng trên địa bàn ước đạt

127 tỷ đồng

Trang 21

Các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao được tổ chức thường xuyên từ huyệnđến xã Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền nhằm kỷ niệm các ngày lễ lớn, 40năm chiến thắng Ngã ba Đồng Lộc, 130 năm ngày sinh Ngô Đức Kế Tập trung chỉđạo thực hiện toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, gây dựng làng văn hoá,

xã văn hoá, gia đình văn hoá

Đài phát thanh huyện đã khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đượcgiao Các chương trình có tác dụng tuyên truyền kịp thời, động viên khích lệ nhândân hăng hái thi đua sản xuất

Bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển nhanh, đáp ứng thông tin liên lạc.Trong năm lắp đặt thêm 1.300 máy điện thoại cố định, hệ thống internet được tăngcường đến xã và trường học, đến nay toàn huyện có 12.800 máy điện thoại cố định,bình quân 9,4 người dân/máy

Công tác giáo dục tiếp tục chuyển biến tốt Chất lượng giáo dục toàn diện.Chất lượng dạy và học được nâng lên, hạn chế tiêu cực trong thi cử và bệnh thànhtích trong giáo dục Tổng kết năm học 2010-2011 có 1 giáo viên giỏi quốc gia, 229giáo viên giỏi huyện, 9 học sinh giỏi quốc gia, 317 học sinh giỏi tỉnh, 2.417 học sinhgiỏi huyện Xếp thứ nhất toàn tỉnh về học sinh giỏi giải toán trên máy tính CASIO,giải nhất tin học trẻ lần thứ 11 Tốt nghiệp tiểu học: 98.13%, THCS: 96.03%, THPT:93.2%, 716 em đậu đại học, 676 em đậu cao đẳng, 192 em đậu trung học chuyênnghiệp, và xây dựng được thêm 3 trường chuẩn quốc gia, xây dựng thêm 15 côngtrình với 150 phòng học, mua thêm thiết bị trường học trị giá 22 tỷ đồng Công táckhuyến học được các địa phương hết sức quan tâm

Kinh tế phát triển, điều kiện sống của người dân được nâng cao dẫn đến nhu cầuKCB cũng tăng cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là nhu cầu về các dịch vụKCB có chất lượng cao Cơ sở hạ tầng giao thông tuy có được đầu tư nâng cấp, xâydựng nhưng do sự gia tăng các loại phương tiện giao thông và ý thức của người dâncòn kém nên tình trạng tai nạn giao thông, tai nạn thương tích ở mức báo động Quátrình phát triển kinh tế xã hội đã kéo theo sự phân hóa giàu nghèo diễn ra sâu sắchơn, lối sống, thói quen sức khỏe của người dân thay đổi Một số bệnh truyền nhiễm

có xu hướng quay trở lại, các bệnh không truyền nhiễm, các dịch bệnh mới, bệnh lạ

Trang 22

diễn biến khó lường trước… Bên cạnh đó nhiều cơ sở y tế xuống cấp; trang thiết bị

cũ, lạc hậu, không đồng bộ; cán bộ y tế còn thiếu, trình độ chưa cao, cơ cấu và phân

bổ cán bộ y tế mất cân đối, chưa đáp ứng được nhu cầu CSSK của nhân dân; chi tiêucông cho y tế còn thấp; một số cơ chế chính sách ngành còn chậm đổi mới… tất cảđang đặt ra cho ngành y tế huyện nhà nhiều thách thức

Tuy nhiên, được sự quan tâm của các cấp, các ngành cùng ý thức và sự tham giacủa người dân, các cấp ủy Đảng, chính quyền vào công tác CSSK ngày càng sâurộng; sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan ban ngành, đoàn thể trong công tácCSSK ngày càng rộng rãi và hiệu quả nên tổ chức mạng lưới y tế sau một thời gian

có thay đổi nay đã dần ổn định, là điều kiện quan trọng để phát triển trong thời giantới Nhờ vậy, ngành y tế vẫn hoàn thành các chỉ tiêu đề ra: khám bệnh đạt 77904lượt người, tăng 17% so với năm 2010 là 15.056 lượt người, tăng 4,9% so với năm

2011, trung tâm y tế dự phòng được thành lập đi vào hoạt động hiệu quả, cácchương trình mục tiêu y tế quốc gia được triển khai đồng bộ và đạt hiệu quả cao, sauđợt lũ tháng 10 trên địa bàn huyện không xảy ra dịch bệnh, hệ thống y tế cơ sở, cáctrạm xá xã hoạt động ổn định…

1.4.2 Tổng quan về BVĐK huyện Can Lộc

BVĐK huyện Can Lộc đóng tại Thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh HàTĩnh, là đơn vị hành chính cấp II được tách lập từ Trung tâm Y tế huyện, tháng01/2007 Nhiệm vụ chính của BV là KCB và tham gia hoạt động, chủ động phòngchống các bệnh dịch xảy ra trên địa bàn BV có quy mô 130 giường bệnh, tiếp nhậnKCB cho người dân trên phạm vi Thị trấn Nghèn, 22 xã thuộc huyện Can Lộc vàmột số xã khác của các huyện lân cận

Trở thành đơn vị độc lập, thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP, đã góp phầnnâng cao đời sống cho CBCC, đơn vị mua sắm thêm được nhiều trang thiết bị, thựchiện liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp đầu tư các dịch vụ y tế vào công tácKCB

Thực hiện Nghị định 225/2007/ NĐ-CP đầu tư cải tạo nâng cấp BV và Quyếtđịnh 47/2008/QĐ-TTg của Chính phủ về nâng cao BVĐK tuyến huyện từ nguồn tráiphiếu Chính Phủ Đến nay, BV đã có cơ sở khang trang, đạt được mô hình BV xanh,

Trang 23

sạch, đẹp Trang thiết bị y tế ngày càng hiện đại, có các dịch vụ chất lượng cao, đápứng ngày càng cao về nhu cầu KCB của nhân dân Đội ngũ CBCCVC có năng lựcchuyên môn, quản lý, có tinh thần thái độ phục vụ tốt, ý thức trách nhiệm cao trongphục vụ người bệnh.

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 06/2007/CT-BYT về nâng cao chất lượng KCB,Nghị quyết 87/NQ-HĐND tỉnh, BV đã triển khai kế hoạch làm việc trước giờ buổisáng, buổi chiều 30 phút, làm thêm giờ nếu chưa giải quyết hết công việc Không đểbệnh nhân phải chờ đợi hoặc chuyển sang ngày sau tại phòng khám bệnh, tăngcường bác sĩ và buồng bệnh, xây dựng hệ thống tư pháp tiếp đón người bệnh tại chỗ,giúp cho người bệnh đến được đón tiếp và khám ngay giờ đầu, chống tình trạng quátải, lạm dụng thuốc và các dịch vụ y tế

BV là đơn vị đầu tiên của Ngành Y tế Hà Tĩnh xây dựng Dự án "Ứng dụng vàphát triển Công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành các hoạt động của BV" cóhiệu quả tốt Các tổ chức đoàn thể: Đảng bộ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh, các Hội Phụ nữ, Cựu chiến binh đều đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc,

BV 2 năm liền 2007, 2008 đạt BV tiên tiến xuất sắc toàn đoàn được Công đoàn Y tếViệt Nam tặng cờ, Bộ Y tế tặng Bằng khen, UBND tỉnh tặng Cờ thi đua đơn vị xuấtsắc Với khí thế phấn khởi thi đua lập thành tích xuất sắc kỷ niệm các ngày lễ lớntrong năm, toàn thể CBCCVC của BV đang quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, năng lực công tác, giữ vững danh hiệu lá

Bên cạnh đó các lý thuyết, phương pháp thực hành CTXH còn rất ít và chungchung chưa đáp ứng được việc thực hành CTXH với từng vấn đề cụ thể Đặc biệt là

Trang 24

CTXH trong lĩnh vực y tế Ở Việt Nam CTXH trong lĩnh vực y tế mới có đề án đểphát triển trong năm ngoái và chỉ có một số bài viết chuyên đề và một số kết quảnghiên cứu thực trạng ở một vài bệnh viện.

Dưới góc độ tiếp cận của CTXH, kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần làmsáng tỏ hệ thống lý thuyết của CTXH và một số ngành khoa học liên quan như Xãhội học, Tâm lý học…đồng thời cũng giúp cá nhân người nghiên cứu hiểu thêm vềcác lý thuyết đã được học và được biết Đó là các lý thuyết về CTXH cá nhân,CTXH nhóm, CTXH cộng đồng, lý thuyết tâm lý học hành vi, lý thuyết hệ thốngtrong CTXH…

1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Đối với Phòng Y tế huyện Can Lộc:

Kết quả nghiên cứu có thể là một trong những tiền đề làm cơ sở cho Phòng Y

tế có một cái nhìn khái quát hơn, có những chương trình hoạch định, điều chỉnh, bổsung những chính sách, chiến lược hợp lý nhằm phát triển CTXH trong lĩnh vực y tếtrên địa bàn huyện trong thời gian tới

Đối với BVĐK huyện Can Lộc

Kết quả nghiên cứu giúp cho lãnh đạo và cán bộ y tế làm việc tại BV thấyđược thực trạng các vấn nạn đang diễn ra trong BV, hiểu được những khó khăn củabệnh nhân và vai trò của nhân viên CTXH trong các hoạt động y tế để từ đó cónhững giải pháp nhằm nâng cao chất lượng KCB Bên cạnh đó, BV cũng có thểtham khảo mô hình CTXH mà người nghiên cứu đưa ra để áp dụng vào thực tiễn

Trang 25

Đối với bản thân:

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp tôi kiểm chứng những kiến thức đã đượchọc trên ghế nhà trường Đồng thời, giúp tôi rút ra được những bài học và nhữngkinh nghiệm bổ ích làm tiền đề để tôi chuẩn bị cho hành trang trở thành nhân viênCTXH trong tương lai

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu

 Mô tả các thực hành CTXH tại BVĐK huyện Can Lộc

 Phân tích, làm rõ vai trò của ngành CTXH trong lĩnh vực y tế

 Đề ra các mô hình CTXH trong BV phù hợp và hiệu quả

2.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, người nghiên cứu cần thực hiện nhữngnhiệm vụ sau:

Tiếp cận địa bàn, thu thập và xử lý các thông tin sơ cấp và thứ cấp liênquan đến đề tài nghiên cứu

Sử dụng lý thuyết và phương pháp làm rõ thực trạng các thực hành CTXHtại BV

Tiến hành tìm hiểu hoạt động và đánh giá hiệu quả của các dịch vụ hỗ trợ xã hội

Trang 26

hiện có tại BV.

Sử dụng các phương pháp nhằm tìm hiểu được khó khăn, trở ngại của bệnhnhân và nhân viên y tế trong quá trình khám chữa bệnh cũng như những vấn đề đangxảy ra trong BV

Qua kết quả nghiên cứu được dùng làm căn cứ cho việc đề xuất mô hìnhcông tác xã hội trong BV ở địa bàn nghiên cứu và các khuyến nghị góp phần giảquyết những khó khăn trở ngại trong quá trình khám chữa bệnh của bệnh nhân vànhân viên y tế

2.2 Các câu hỏi nghiên cứu

- Các thực hành CTXH trong BV diễn ra như thế nào?

- BV hiện có các dịch vụ hỗ trợ xã hội nào? Các dịch vụ này đã đáp ứng đượcnhu cầu thực tiễn hay chưa?

- Sự phối hợp giữa BV với các cơ quan, ban ngành trong công tác CSSK chongười dân hiện nay ra sao?

- Nhân viên CTXH có thể làm gì để giúp đỡ, hỗ trợ bệnh nhân; người nhà bệnhnhân và cán bộ y tế?

- Mô hình CTXH trong BV như thế nào thì sẽ phù hợp và mang lại hiệu quả tốiưu?

2.3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các thực hành CTXH tại BVĐK huyện Can Lộc

Trang 27

- Cán bộ y tế làm việc tại bệnh viện (bao gồm: cán bộ lãnh đạo bệnh viện; cán

bộ quản lý các phòng, ban; cán bộ chuyên môn)

Thời gian nghiên cứu tại địa bàn từ ngày 12/03/2011 đến 12/04/2011

 Các phương pháp thực hành CTXH trong BV

 Những khó khăn, trở ngại mà người bệnh và nhân viên y tế gặp phải trongquá trình KCB

 Những vấn đề đang xảy ra trong BV

 Hoạt động của CTXH trong BV

 Dịch vụ CTXH trong BV

2.5.1 Phương pháp thu thập thông tin.

Để thu thập những thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu đề tài ngườinghiên cứu đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin sau:

2.5.1.1 Phương pháp quan sát.

Trang 28

Đây là phương pháp đã được người nghiên cứu sử dụng xuyên suốt trong quátrình thực hiện đề tài Thực chất của phương pháp này là quá trình tri giác và ghichép mọi yếu tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mụcđích nghiên cứu dựa trên một số đặc trưng là tính hệ thống, tính kế hoạch và tínhmục đích.

Để thu nhận được những thông tin cần thiết, có được những tài liệu về nhữngđặc trưng cơ bản của thực hành CTXH trong BV, không bỏ sót những sự kiện quantrọng nào có liên quan đến những khía cạnh khác nhau của thực hành CTXH trong

BV thì với mỗi quan sát, trong chương trình nghiên cứu của mình người nghiên cứu

đã đưa ra kế hoạch chi tiết cho việc thực hiện quan sát

Thứ nhất, người nghiên cứu xác định một cách sơ bộ khách thể của quan sát,

đó là bệnh nhân, người nhà của bệnh nhân, cán bộ, nhân viên y tế, các cơ quan/tổchức có liên quan, những hoạt động diễn ra trong bệnh viện…Phân loại khách thểquan sát, phân loại những sự kiện những hiện tượng dựa trên những đặc điểm và quytắc logic nhất định phù hợp với mục đích quan sát

Thứ hai, là người nghiên cứu xác định thời gian, địa điểm và cách thức quansát Căn cứ vào đối tượng được quan sát và cách thức quan sát mà người nghiên cứu

ấn định thời gian và địa điểm Chẳng hạn, để quan sát thái độ của bác sĩ đối với bệnhnhân người nghiên cứu tiến hành quan sát vào thời điểm mà bác sĩ đi khám bệnh chobệnh nhân Để quan sát tổng quan về BV người nghiên cứu quan sát vào nhiều thờiđiểm khác nhau Có thể là vào sáng sớm hoặc vào giữa buổi

Thứ ba, người nghiên cứu tiến hành quan sát thu thập thông tin Trong mỗiquan sát, trước hết người nghiên cứu quan sát môi trường (bối cảnh) xung quanh đốitượng được quan sát, mối quan hệ của đối tượng với môi trường đó, vai trò của đốitượng trong môi trường đó Sau đó người nghiên cứu quan sát và ghi nhận nhữnghành vi của đối tượng được quan sát qua những hành động, hoạt động và ngôn từ.Thứ tư, người nghiên cứu thực hiện việc ghi chép từ những gì quan sát được.Người nghiên cứu tiến hành ghi chép theo nhiều cách khác nhau Có cả ghi chép

Trang 29

công khai trước những người được quan sát, ghi chép theo hồi tưởng và ghi bằng cácphương tiện phim ảnh, ghi âm…

Thứ năm, người nghiên cứu tiến hành kiểm tra lại những gì quan sát đượcbằng cách quan sát lặp lại nhiều lần, sử dụng các tài liệu có lên quan, trò chuyện,trao đổi với những người có trong tình huống quan sát

Trong quá trình quan sát tùy vào ưu điểm và nhược điểm của từng loại quansát mà người nghiên cứu đã thực hiện đan xen nhiều loại quan sát khác nhau Đốivới cán bộ, nhân viên y tế người nghiên cứu sử dụng loại quan sát theo chuẩn mực,quan sát công khai, quan sát tham dự Đối với bệnh nhân và người nhà người nghiêncứu sử dụng loại quan sát tự do, quan sát công khai, quan sát bí mật, quan sát mộtlần và nhiều lần

Quan sát thường mang lại những thông tin mang đặc tính mô tả Nhờ phươngpháp quan sát mà người quan sát có thể cảm nhận trực tiếp những hành vi, những sựkiện và các quá trình Nó cho phép thấy được sự phát triển của các biến cố, cho phépnghiên cứu được đặc tính của cá nhân trong những tình huống cụ thể

mà giúp chúng ta hiểu sâu, hiểu kỹ về một vấn đề nhất định Phương pháp đượcngười nghiên cứu thực hiện với 16 đối tượng được chia làm 9 nhóm

Bảng 2.1: Số người phỏng vấn sâu phân theo nhóm đối tượng:

Trang 30

(1 bác sĩ, 1 y tá, 1 nhân viên làm thủ tục)

9 Bệnh nhân, người nhà bệnh nhân

(2 bệnh nhân nam, 2 bệnh nhân nữ, 2 người nhà bệnh nhân (1 nam-1 nữ)

6

Trước khi tiến hành phỏng vấn sâu, người nghiên cứu đã xây dựng các “Bảnghướng dẫn phỏng vấn sâu” cho 9 nhóm đối tượng Xin xem chi tiết ở phần phụ lục 1.Trong đó:

 Với mỗi nhóm đối tượng người nghiên cứu xác định sợ bộ những thông tincần thu thập

 Chuẩn bị một số câu hỏi trọng tâm cho mỗi nhóm đối tượng sẽ tiến hànhphỏng vấn

Kết quả thu được khi sử dụng phương pháp này là:

Giúp người nghiên cứu có được các thông tin về cơ cấu tổ chức cũng như vaitrò của hệ thống mạng lưới y tế huyện và các cơ quan, ban ngành liên quan

Giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ giữa các ngành, các tổ chứcđoàn thể trong công tác CSSK cho nhân dân

Thu thập được những thông tin cần thiết có tính chất chiều sâu về những khókhăn trong công tác KCB và những hoạt động liên quan đến công tác CSSK chonhững đối tượng đặc thù

Trang 31

Biết được thực trạng các thực hành CTXH tại địa bàn nghiên cứu và ý kiến,quan điểm của các cấp, các ngành về vấn đề thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế.

Làm rõ được nhu cầu và đưa ra các giải pháp để phát triển CTXH trong BV

2.5.1.3. Phương pháp phỏng vấn cấu trúc cá nhân

Đây là phương pháp sử dụng bảng hỏi cấu trúc nhằm thu thập thông tin địnhlượng cho đề tài nghiên cứu Người nghiên cứu đã tiến hành phương pháp này theotrình tự các bước như sau:

Thứ nhất, dựa vào mục tiêu nghiên cứu người nghiên cứu xác định nhữngthông tin cần thu thập, xác định đối tượng khảo sát và đặc điểm tình hình tại nơi tôi

sẽ tiến hành khảo sát

Thứ hai, người nghiên cứu soạn thảo bộ công cụ để thu thập thông tin Đó làmột bảng hỏi với 37 câu hỏi khác nhau được chia làm 3 phần, những câu hỏi nàyđược sắp xếp theo một trình tự logic nhất định Xin xem chi tiết ở phụ lục 2

Thứ ba, người nghiên cứu tiến hành trưng cầu ý kiến, phát phiếu để ngườiđược hỏi điền vào các phiếu đó

Thứ tư, người nghiên cứu tổng hợp các phiếu, xử lý thông tin, trình bày dướidạng rút gọn và rút ra những kết luận

Phương pháp chọn mẫu:

Tại thời điểm tháng 4/2012 theo thống kê của BVĐK Can Lộc thì BV đang

có khoảng 230 bệnh nhân đến khám và điều trị

Dựa vào dân số mẫu là 230 áp dụng công thức Slovin:

Trong đó: - n: cỡ mẫu

- N: dân số mẫu

Cỡ mẫu được chọn cho nghiên cứu này là 80 bệnh nhân(với phạm vi sai số là

ε = 9%) Cụ thể mẫu cho nghiên cứu này được phân bổ như sau:

Bảng 2.2: Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân theo khoa và giới tính.

Trang 32

Stt Tên khoa Số mẫu Nam Nữ

kế Sau khi tập huấn xong, người nghiên cứu cùng 2 bạn của mình đã tiến hành thuthập thông tin trong 2 ngày từ ngày 10 đến ngày 11 tháng 04 năm 2012

Chúng tôi đã phân chia nhau đi đến từng phòng khám, từng phòng bệnh nhânđang nằm điều trị để phát phiếu, hướng dẫn bệnh nhân điền thông tin vào phiếu vàthu phiếu trực tiếp

Kết quả thu được khi thực hiện phương pháp này là:

- Giúp người nghiên cứu xác định được những khó khăn, trở ngại mà ngườibệnh đang gặp phải và nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, trở ngại đó cũngnhư những mong muốn, nhu cầu của người bệnh trong quá trình KCB tại BV

- Giúp người nghiên cứu tìm hiểu được thực trạng các thực hành CTXH và hoạtđộng của các dịch vụ hỗ trợ xã hội hiện có tại BV

- Giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối quan hệ giữa bệnh nhân với nhữngngười thân trong gia đình, với đội ngũ cán bộ y tế và những người xung quanh

Trang 33

- Giúp người nghiên cứu đánh giá được sự cần thiết và vai trò của thực hànhCTXH trong BV.

- Giúp người nghiên cứu có thể đưa ra được những mô hình thực hành CTXHphù hợp và hiệu quả

-2.5.2 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu.

Sau khi đã thu thập xong những thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu

đề tài, tùy vào đặc điểm của từng loại dữ liệu mà người nghiên cứu đã tiến hànhphân tích và xử lý những dữ liệu có được bằng nhiều phương pháp khác nhau

2.5.2.1. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu định tính

Dữ liệu định tính được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là các tài liệu, tư liệuliên quan đến vấn đề nghiên cứu và thông tin có được khi tiến hành phỏng vấn sâucác nhóm đối tượng

Tài liệu là nguồn cung cấp các thông tin nhằm đáp ứng cho mục tiêu nghiêncứu Trong nghiên cứu của mình người nghiên cứu đã sử dụng rất nhiều nguồn tàiliệu khác nhau Có thể phân thành hai loại đó là nguồn tài liệu thành văn và khôngthành văn

Nguồn tài liệu thành văn ở đây là các tài liệu, văn bản, các báo cáo tổng kếtnăm, báo cáo thống kê bệnh viện, báo cáo nhanh hàng tháng, hàng quý…của UBNDhuyện Can Lộc, BVĐK huyện Can Lộc, TTYTDP huyện Can Lộc và một số cơquan, tổ chức liên quan

Nguồn tài liệu thành văn thứ hai được người nghiên cứu sử dụng đó là cáccông trình nghiên cứu đã có,các tạp chí, sách báo, bài viết…của các tác giả liên quanđến vấn đề thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế

Ngoài nguồn tài liệu thành văn thì nguồn tài liệu không thành văn được ngườinghiên cứu sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài là các tranh ảnh, biểu tượng,biểu mẫu, hiện vật, phim ảnh, băng ghi hình, máy ghi âm…của những cá nhân, tổchức có nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 34

Trước khi sử dụng một tài liệu nào đó người nghiên cứu luôn luôn đề cao haikhía cạnh đó là sự cần thiết và mức độ có thể tin tưởng được.

Ngoài ra, thông qua phương pháp phỏng vấn sâu và ghi chép lại từ 16 đốitượng thuộc 9 nhóm như đã trình bày trong phương pháp phỏng vấn sâu nêu trên,người nghiên cứu cũng đã thu thập được một lượng thông tin khá chi tiết và đầy đủ

về những vấn đề liên quan đến đề tài mà người nghiên cứu quan tâm muốn tìm hiểu.Đây cũng là một trong những nguồn thông tin quan trọng giúp người nghiên cứuhiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế tại địabàn

Sau khi có được những tài liệu, tư liệu cần thiết và những thông tin thu đượcqua phỏng vấn sâu, người nghiên cứu tiến hành phân tích và xử lý số liệu bằngphương pháp phân tích truyền thống đó là các thao tác trí tuệ để giải thích nhữngthông tin có được trên cơ sở quan điểm mà người nghiên cứu quan tâm trong từngtrường hợp cụ thể Thực chất của phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu định tính màngười nghiên cứu đã tiến hành là quá trình phân tích, xem xét, đánh giá, so sánh vàlọc lại những thông tin cần thiết đáp ứng những mục tiêu nghiên cứu

Thông qua phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu định tính tôi có thể đạt đượcnhững mục đích như:

Tìm hiểu về vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế - xã hội, nhất là những đặc điểm củangành y tế tại địa bàn nghiên cứu

Hiểu được mối quan hệ và quan điểm của BVĐK và các cấp, các ngành trongcông tác CSSK cho nhân dân

Tìm hiểu thựcs trạng các thực hành CTXH trong BV, tìm hiểu nguyên nhân vàđưa ra những giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề trong BV

Có những thông tin cần thiết về lịch sử hình thành và phát triển của nghềCTXH trong lĩnh vực y tế trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Tìm hiểu để đưa ra các mô hình thực hành CTXH phù hợp

2.5.2.2. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu định lượng.

Dữ liệu định lượng được dùng trong nghiên cứu đề tài là thông tin có được từ

80 phiếu sau khi đã tiến hành thu thập xong thông tin, đây là kết quả của phương

Trang 35

pháp phỏng vấn cấu trúc cá nhân sử dụng bảng hỏi Trước khi xử lý thông tin từ 80phiếu thu được, người nghiên cứu đã làm sạch thông tin bằng cách kiểm tra lại từngphiếu xem trong các phiếu đó có sai sót gì không? Thông tin mà bệnh nhân điền vàotrong các phiếu đã đúng và đủ chưa? Nếu có phiếu nào chưa đạt tiêu chuẩn thì loại

bỏ và thu thập bổ sung

Sau đó, dựa vào 80 phiếu này, người nghiên cứu đã tiến hành thiết kế cơ sở

dữ liệu, nhập dữ liệu vào bảng và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS-version 15.0.Khi phần mềm SPSS cho ra kết quả, người nghiên cứu tiến hành đánh giá, chọn lọclại những số liệu, thông tin cần thiết liên quan đến vấn đề nghiên cứu để đưa vàotrình bày trong bài khóa luận của mình Thông tin có thể được trình bày dưới dạngbảng biểu và đồ thị

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm của BVĐK huyện Can Lộc

Chức năng, nhiệm vụ

BVĐK huyện Can Lộc là đơn vị hành chính cấp II được tách lập từ Trungtâm Y tế huyện, tháng 01/2007 Chức năng, nhiệm vụ chính của BV là KCB vàtham gia hoạt động, chủ động phòng chống các bệnh dịch Cụ thể:

- Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các trạm y tếtrong huyện, từ các BV khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trúhoặc ngoại trú

- Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước

- Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong huyện và các ngành

- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật

- Tổ chức giám định sức khỏe, khám giám định pháp y khi hội đồng giám định ykhoa huyện hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu

- Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi BV không đủ khả năng giải quyết

- BV là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế bậc đại học và trung học;

Trang 36

- Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong BV và tuyến dưới để nâng caotrình độ chuyên khoa.

- Tổ chức nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các đề tài y học ở cấp Nhà nước, cấptỉnh

Trang 37

Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động.

BVĐK huyện Can Lộc có cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động như sau:

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ hoạt động của BV:

BV hoạt động theo nguyên tắc chỉ đạo tập trung Người chịu trách nhiệm điềuhành toàn bộ hoạt động của BV là giám đốc, trợ giúp giám đốc có 2 phó giám đốc (1phụ trách chuyên môn, 1 phụ trách các tổ chức, đoàn thể) Dưới giám đốc và phógiám đốc có các trưởng phòng, trưởng khoa có trách nhiệm quản lý điều hànhphòng, khoa mà mình đảm nhận Hiện tại BV có 7 phòng chức năng và 13 khoa trựcthuộc

Bảng 3.1: Bảng thể hiện các phòng, khoa của BVĐK huyện Can Lộc:

Trang 38

- Phòng Hành chính – Quản trị - Khoa Răng – Hàm – Mặt

- Khoa Ung bướu

- Khoa Truyền nhiễm

- Khoa Dược

- Khoa Y học cổ truyền

- Khoa Chẩn đoán hình ảnh

- Khoa Da liễu

- Khoa Hóa – Sinh

Tổng số CBCCVC hiện có của BV là 135 người thuộc nhiều cấp bậc, trình độkhác nhau Trong đó cán bộ sau đại học có 09 người, cán bộ đại học có 19 người,cán bộ trung học có 75 người, cán bộ sơ cấp và cán bộ khác có 27 người Cơ cấunhân sự của BVĐK huyện Can Lộc được thể hiện qua Bảng 3.2 như sau:

Bảng 3.2: Bảng thể hiện cơ cấu nhân sự của BV:

1 Cán bộ sau đại học - Bác sĩ CKII: 01 người

Trang 39

- Cán bộ khác: 11 người

Quy mô và phạm vi hoạt động

BVĐK huyện Can Lộc đóng tại Thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh HàTĩnh có quy mô 130 giường bệnh, tiếp nhận KCB cho người dân trên phạm vi 22 xãthuộc huyện Can Lộc và một số xã khác của các huyện lân cận

Thời gian qua, bệnh viện đã tập trung đầu tư vào 2 yếu tố căn bản quyết địnhđến chất lượng KCB là cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ y, bác sỹ Để có điều kiệnphục vụ tốt cho bệnh nhân đến điều trị, Đảng uỷ, Ban giám đốc bệnh viện đã quyếtđịnh đầu tư chỉnh trang và nâng cấp các khu điều trị chức năng, các phòng khámchuyên khoa và áp dụng các tiến bộ khoa học y học hiện đại trong công tác chẩnđoán và điều trị như: máy siêu âm màu 4D; hệ thống nội soi dạ dày tá tràng, tai mũihọng; xét nghiệm huyết học bằng máy tự động 18 thông số

Với sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, BVĐK Can Lộc ngày càng trở thànhđịa chỉ tin cậy của bệnh nhân BV nhiều năm liền đạt danh hiệu BV tiên tiến xuất sắctoàn đoàn được Công đoàn Y tế Việt Nam tặng cờ, Bộ Y tế tặng Bằng khen, UBNDtỉnh tặng Cờ thi đua đơn vị xuất sắc

Tình hình công tác KCB trong thời gian qua.

Trong những năm qua, thực hiện chương trình CSSK của cấp uỷ, chính quyềnhuyện, được sự quan tâm chỉ đạo của Sở Y tế Hà Tĩnh, BVĐK huyện Can Lộc đã cónhững nỗ lực phấn đấu và giành nhiều kết quả trong hoạt động khám và chữa bệnhcho nhân dân

Trong năm 2011 BV đã tiến hành khám bệnh cho 77904 lượt người, điều trịnội trú cho 7704 lượt người với thời gian 51617 ngày, điều trị ngoại trú cho 837 lượtngười với thời gian 3335 ngày Trong đó số người có BHYT là 5378 người Tổng sốlần xét nghiệm tại BV là 194603, BV cũng đã tiến hành 3500 lần chụp XQ, 13000lần siêu âm và chuyển viện cho 1499 bệnh nhân

Thực hiện thủ tục hành chính trong KCB, người bệnh đến được tiếp đón,hướng dẫn lấy số khám bệnh đăng ký vào mạng vi tính, đến các bàn khám Trên

Ngày đăng: 01/04/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số người phỏng vấn sâu phân theo nhóm đối tượng: - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Bảng 2.1 Số người phỏng vấn sâu phân theo nhóm đối tượng: (Trang 30)
Bảng 2.2: Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân theo khoa và giới tính. - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Bảng 2.2 Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân theo khoa và giới tính (Trang 32)
Bảng 3.1: Bảng thể hiện các phòng, khoa của BVĐK huyện Can Lộc: - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Bảng 3.1 Bảng thể hiện các phòng, khoa của BVĐK huyện Can Lộc: (Trang 37)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ hoạt động của BV: - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ hoạt động của BV: (Trang 37)
Bảng 3.2: Bảng thể hiện cơ cấu nhân sự của BV: - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Bảng 3.2 Bảng thể hiện cơ cấu nhân sự của BV: (Trang 38)
Bảng 3.3: Số lượng cán bộ y tế làm việc tại BV phân theo độ tuổi - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Bảng 3.3 Số lượng cán bộ y tế làm việc tại BV phân theo độ tuổi (Trang 40)
Bảng 3.5: Bảng thể hiện tỷ lệ số người thân chăm sóc bệnh nhân - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Bảng 3.5 Bảng thể hiện tỷ lệ số người thân chăm sóc bệnh nhân (Trang 50)
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa BV với các cơ quan, tổ chức. - Đề tài “Thực hành CTXH trong lĩnh vực y tế” pptx
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa BV với các cơ quan, tổ chức (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w