1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Tài Sáng chế - Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn ppt

22 357 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Tài Sáng Chế - Một Số Vấn Đề Pháp Lý Và Thực Tiễn
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại Bài Tập Lớn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 55,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, sáng chế là một chế định còn non trẻ và mới được hình thành vào những năm 60 của thế kỷ XX chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước năm 1981: hệ thống pháp luật về sở hữu còn sơ

Trang 1

MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Đề Tài Sáng chế - Một số vấn đề

pháp lý và thực tiễn

Trang 2

Trong xã hội hiện đại cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, song song với

đó, nhu cầu của con người ngày càng đòi hỏi cao hơn Thế nhưng, nhằm thỏa mãn nhucầu của mình, con người không thể trông chờ vào sự ban ơn của tự nhiên mà còn phảitiến hành sản xuất, muốn sản xuất con người phải có nguồn lực vật chất, nguồn lực tàichính, nguồn lực công nghệ….và hợp thành nguồn lực cho sự phát triển, trong đó nguồnlực con người là yếu tố nền tảng và quan trọng nhất Khi chúng ta đề cập đến tính nềntảng của nguồn nhân lực tức đề cập ra đến sự sáng tạo của những nguồn lực lao động,nguyên nhiên vật liệu, năng lượng để thay thế cho hoạt động lao động của con người, tạo

ra nhưng bước nhảy vọt trong kỹ thuật sản xuất, thể hiện khả năng chế ngự, làm chủ vàkhai thác tự nhiên của con người Còn khi đề cập đến khía cạnh quan trọng nhất củanguồn nhân lực đó là nói đến sự sáng tạo của con người là vô tận, sự sáng tạo đó dẫn đếnngày càng tạo ra nhiều sản phẩm mà sản phẩm đó có chức năng như một phương tiện đápứng nhu cầu của con người Nó được xem như là một biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyếtmột vấn đề xác định hay nói cách khác đó chính là giải pháp kỹ thuật Tuy nhiên khôngphải tất cả giải pháp kỹ thuật đều được bảo hộ mà chỉ những giải pháp kỹ thuật đáp ứngcác tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế được pháp luật quy định mới được công nhận là sáng chế

PHẦN I: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của sáng chế ở Việt Nam.

Trước đây, sáng chế là một chế định còn non trẻ và mới được hình thành vào những năm

60 của thế kỷ XX chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước năm 1981: hệ thống pháp luật về

sở hữu còn sơ sài, tại giai đoạn này chưa có văn bản nào quy định về việc bảo hộ các tàisản trí tuệ Tuy nhiên Nhà nước vẫn có chính sách nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạocủa con người giúp phần đóng góp vào công cuộc xây dựng và ổn định đất nước Giaiđoạn 1981-1989: có thể nói đây là giai đoạn đánh dấu một bước ngoặt phát triển trongluật sở hữu trí tuệ Việt Nam đó chính là việc văn bản pháp luật đầu tiên về sở hữu côngnghiệp nói chung và sáng chế nói riêng đã được nhà nước ta ban hành Thông qua vănbản này Nhà nước ta đã ban hành điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật-hợp lí hóa sảnxuất và sáng chế Theo đó, mọi nổ lực sáng tạo và kỹ thuật, hợp lí hóa sản xuất mang lạicác lợi ích thiết thực cho Nhà nước, xã hội và cơ quan đều được đền đáp về tinh thần vàvật chất Văn bản pháp luật này thiết lập hình thức bảo hộ sáng chế, theo đó nhà sáng chếchỉ có các quyền nhân thân của tác giả sáng chế, còn độc quyền sáng chế thuộc về Nhànước Các văn bản pháp luật liên quan tới sáng chế trong giai đoạn này có thể kể đếnnhư: Nghị định số 31/CP ngày 23/01/1981; Nghị định số 200/HĐBT ngày 28/12/1988 quiđịnh về điều kiện bảo hộ giải pháp hữu ích; Nghị định số 201/HĐBT ngày 28/12/1988

Trang 3

quy định về mua bán về quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích Tuy nhiên, có thể dễdàng nhận thấy rằng câc quy định của nhà nước về bảo hộ sở hữu công nghiệp đối vớisáng chế và điều kiện bảo hộ sáng chế trong giai đoạn này là chưa thật sự hiệu quả, giá trịpháp lí còn thấp giai đoạn 1989-2005: giai đoạn này phải kể đến hai mốc lịch sử quantrọng Thứ nhất, năm 1995 khi mà Bộ luật dân sự 1995 được ban hành trong đó có quyđịnh về quyền sở hữu công nghiệp theo đó lần đầu tiên nước Việt Nam công nhận sở hữutrí tuệ là một quyền dân sự Mốc quan trọng thứ hai trong giai đoạn này đó chính là việcLuật Sở hữu trí tuệ 2005 được chính phủ thông qua đáng dấu bước ngoặt mới trong chếđịnh Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Với việc ban hành một chế định pháp luật riêng đãdần đưa sở hữu trí tuệ Việt Nam gia nhập vào hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ quốc tế vàđương nhiên điều kiện về bảo hộ sáng chế cũng được thiết lập theo hướng phù hợp hơncác chuẩn mực chung của pháp luật quốc tế thời kì hiện đại Các quy định về đối tượng,tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế cũng đượchoàn thiện hơn Và giai đoạn 2005 tới nay: có thể thấy Luật Sở hữu trí tuệ là một chếđịng pháp luật ít phải sửa đổi nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam Kể từ khi hìnhthành phải đến năm 2009 căn cứ theo các chính sách xã hội và điều kiện tự nhiên, Chínhphủ ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Mặc dù mớiđược hình thành nhưng có thể thấy chế định Luật sở hữu trí tuệ nói chung và sáng chế nóiriêng đạt được những thành công nhất định Theo thời gian và tiến trình phát triển của xãhội, các quy định pháp luật của Việt Nam liên quan tới việc bảo hộ sáng chế và điều kiệnbảo hộ sáng chế được hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh mới trong điều kiệnkinh tế thị trường hiện nay.

Theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “ Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới

dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” Từ định nghĩa sáng chế trên ta có thể thấy được bản chất của sáng

chế là giải pháp kỹ thuật Giải pháp kỹ thuật có thể dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình và

đó phải những sản phẩm hoặc quy trình do con người sáng tạo ra chứ không phải lànhững gì tồn tại trong tự nhiên và được con người phát hiện ra Sáng chế bao gồm cácđặc điểm sau: thứ nhất, bản chất sáng chế tạo ra phương tiện mới về nguyên lý kỹ thuật,chưa từng tồn tại hoặc đã tồn tại trong một nhóm nhỏ song không phổ biến và là bí mậtđối với cộng đồng; thứ hai, nó không có khă năng để giải thích thế giới nhưng có khảnăng áp dụng trực tiếp hoặc qua thử nghiệm để ứng dụng vào sản xuất và đời sống; thứ

ba, có giá trị thương mại mua bán bằng sáng chế và giấy phép; thứ tư, sáng chế bị tiêuvong theo sự tiến bộ của công nghệ và nhằm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Mặtkhác, trong các tài sản trí tuệ, sáng chế có vai trò đặc biệt quan trong đối với doanhnghiệp cũng như là yếu tố quyết định tiềm lực khoa học công nghệ của một quốc gia, làmột trong những yếu tố xác định tính cạnh tranh của nền kinh tế, là yếu tố thúc đẩy gia

Trang 4

tăng mức sống và các điều kiện kinh tế xã hội khác chính vì thế sáng chế cần được bảo

hộ Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn sáng chế chúng ta cần phân biệt sáng chế với giải pháp hữuích, sáng chế với phát minh, và sáng chế với sáng kiến Việc bảo hộ giải pháp hữu íchkhác biệt với bảo hộ sáng chế ở những khía cạnh: một là, tiêu chuẩn của tính mới giảipháp hữu ích thấp hơn tính mới của sáng chế mặc dù tại Việt nam pháp luật sáng chế vàgiải pháp hữu ích đều phải có mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới; hai là, yêu cầu vềtính sáng tạo của giải pháp hữu ích thấp hơn so với sáng chế; ba là, thời hạn bảo hộ củagiải pháp hữu ích ngắn hơn so với thời hạn bảo hộ sáng chế; bốn là, đối tượng bảo hộ giảipháp hữu ích hẹp hơn so với sáng chế, tuy nhiên bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích córất nhiều điểm tương đồng Về bản chất, cả hai đều phải đáp ứng các yêu cầu về tính mới

về khả năng áp dụng công nghiệp, thủ tục xác lập quyền về cơ bản là giống nhau, cácquyền của chủ sở hữu của cả hai được pháp luật quy định cũng tương tự nhau Theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam hiện hành, giải pháp hữu ích được xem là một dạng đặc biệtcủa sáng chế, có mức độ sáng tạo thấp hơn sáng chế và có thời hạn bảo hộ ngắn hơn.Giữa sáng chế và phát minh thì phát minh là việc tìm ra một sự vật hiện tượng hoặc quyluật đã tồn tại trong thế giới tự nhiên chứ không phải do con người sáng tạo ra Còn sángchế hoặc là không có sẵn trong tự nhiên mà do con người sáng tạo ra hoặc một cái gì đã

có trong tự nhiên nhưng được con người tác động có chủ đích để biến đổi, hoàn thiện vàcách tạo ra cái vốn không có hoặc phương thức biến đổi cái vốn đã có nói trên Mặc dù,phát minh không trực tiếp làm thay đổi tự nhiên nhưng bắt nguồn từ phát minh có thểhàng loạt sáng chế ra đời Cuối cùng giữa sáng chế và sáng kiến ta thấy so với sáng chế,sáng kiến là đối tượng có trình độ sáng tạo kỹ thuật thấp hơn sáng chế, thậm chí thấp hơn

cả giải pháp hữu ích, yêu cầu về tính mới cũng rất thấp chỉ cần sáng kiến có tính mớitrong phạm vi một cơ quan tổ chức là có thể được công nhận là sáng kiến

Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế, nếu đáp ứng các điều

kiện sau: Một là, sáng chế phải có tính mới Sáng chế được coi là tính mới nếu chưa bị

bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nàokhác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trướcngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên Tại ViệtNam, giải pháp kỹ thuật được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hìnhthức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặcnước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trườnghợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên Để đánh giá tính mới của giải pháp

kỹ thuật yêu cầu được bảo hộ sáng chế/ giải pháp hữu ích cần phải tiến hành so sánh cácdấu hiệu cơ bản của giải pháp kỹ thuật đó với các dấu hiệu cơ bản của giải pháp kỹ thuậtđối chứng được tìm thấy trong quá trình tra cứu thông tin Pháp luật Việt Nam có quyđịnh sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được

Trang 5

biết và có nghĩa vụ giữ bí mất về sáng chế đó Sáng chế cũng không bị coi là mất tínhmới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chếđược nộp trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày công bố: Sáng chế bị người khác công bốnhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật Sởhữu trí tuệ Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật Sở hữutrí tuệ công bố dưới dạng báo cáo khoa học Sáng chế được người có quyền đăng ký quyđịnh tại Điều 86 của Luật Sở hữu trí tuệ trưng bày tại các triển lãm của Quốc gia Việt

Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận chính thức Hai là,

sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo Nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được

công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nàokhác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên củađơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế

đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người hiểubiết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng Mục tiêu bảo hộ sáng chế là khuyến khíchsáng tạo công nghệ vì vậy sáng tạo là yêu cầu bắt buộc đối với sáng chế Để đánh giáđược bản chất của những khác biệt tạo nên trình độ sáng tạo, cần phải xem xét toàn bộtình trạng kỹ thuật đã biết Do đó, việc đánh giá trình độ sáng tạo thường được tiến hànhtrên ba khía cạnh: vấn đề mà sáng chế giải quyết, giải pháp giải quyết vấn đề đó, các ưuđiểm của sáng chế so với tình trạng kỹ thuật đã biết Tại Việt Nam, sáng chế được coi là

có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dướihình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nướchoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chếtrong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên Giải pháp kỹ thuật bịcoi là không có trình độ sáng tạo nếu rơi vào các trường hợp sau: tập hợp các dấu hiệu cơbản khác biệt mang tính hiển nhiên; tập hợp các dấu hiệu cơ bản khác biệt đã được bộc lộdưới dạng đồng nhất hoặc tương đương trong một số giải pháp kỹ thuật nào đó đã biếttrong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc; giải pháp kỹ thuật là sự kết hợp đơn giản củacác giải pháp kỹ thuật đã biết với chức năng, mục đích và hiệu quả cũng là sự kết hợp

đơn giản chức năng, mục đích, hiệu quả của từng giải pháp kỹ thuật đã biết Ba là sáng

chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp Nếu có thể thực hiện được việc chế

tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình nội dung của sángchế và thu được kết quả ổn định Theo pháp luật Việt Nam, việc đánh giá xem sáng chế

có khả năng áp dụng công nghiệp hay không phải được thực hiện trước khi đánh giá tínhmới và tính sáng tạo của sáng chế Để đánh giá khả năng có thể thực hiện được giải pháp

kỹ thuật cần căn cứ vào các yếu tố sau: các thông tin về bản chất của giải pháp cùng vớicác chỉ dẫn về điều kiện kỹ thuật cần thiết được trình bày một cách rõ ràng đầy đủ đếnmức cho phép người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể tạo ra,

Trang 6

sản xuất hoặc có thể sử dụng; việc tạo ra, sản xuất ra và sử dụng hoặc khai thác và thựchiện các giải pháp nêu trên có thể được lặp đi lặp lại với kết quả giống nhau Xuất phát từyêu cầu của sáng chế là giải pháp kĩ thuật giúp giải quyết một vấn đề thực tiễn nên có thểkhả năng áp dụng công nghiệp là một yêu cầu luôn gắn liền với thực tiễn xã hội Sáng chếphải gắn liền với những hiện thực khách quan, không thể đưa ra những giải pháp màkhông thể sử dụng trong thực tiến xã hội được Chính vì vậy, để đánh giá khả năng ápdụng công nghiệp của giải pháp kỹ thuật người ta thường căn cứ vào các yếu tố sau: Quyluật tự nhiên rõ ràng một giải pháp kỹ thuật dù sáng tạo đến đâu mà trái với quy luật tựnhiên thì không thể mang lại lợi ích gì cho xã hội khi mà giải pháp đó không thể tồn tạitrên thực tiễn trong tự nhiên (Ví dụ: sáng chế bảo hộ cho một loại động cơ vĩnh cửu); khảnăng áp dụng trong thực tế: các đối tượng mặc dù về mặc lý thuyết là có thể được nhưngxét về mặt thực tế thì bị coi là không có khả năng áp dụng công nghiệp; việc thực hiệnlặp lại đối tượng: giải pháp kỹ thuật đề cập trong sáng chế sẽ không có khả năng áp dụngcông nghiệp trong trường hợp chỉ có thể thực hiện các chỉ dẫn về đối tượng trong một sốgiới hạn lần thực hiện, hoặc kết qua thu được trong các lần thực hiện không đồng nhấtvới nhau, hoặc kết quả thu được khác với bản nêu kết quả sáng chế; hiệu quả của giảipháp: đương nhiên các giải pháp không có ích lợi hoặc không phục vụ nhu cầu của xãhội, thậm chí gây tác hại như gây ô nhiễm môi trường, tiêu phí quá mức năng lượng vàtài nguyên, có hại cho sức khỏe con người thì bị coi là không có khả năng áp dụng côngnghiệp.

Có thể nói, khoa học công nghệ và sáng tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng trongcuộc sống hằng ngày Những bước tiến lớn trong khoa học công nghệ thời xa xưa đã đưaloài người thoát khỏi hình thái xã hội phong kiến Trong khoảng một thế kỉ trở lại đây,khả năng dẫn dắt của công nghệ mà cụ thể là sáng chế, đã làm thay đổi tiến trình vậnđộng của nhân loại, trở thành một yếu tố quyết định tạo ra sự thịnh vượng của các quốcgia Khi sáng chế chứng minh được tầm quan trọng của mình thì cũng là lúc việc bảo hộsáng chế trở thành mối quan tâm của toàn xã hội “Hệ thống bằng độc quyền sáng chế đổthêm dầu lợi ích vào ngọn lửa thiên tài” (Abraham Lincon) Câu nói trên phần nào đã nóilên tầm quan trọng của hệ thống bằng độc quyền sáng chế Đặc biệt trong thời đại ngàynay, khi mà vấn đề tri thức được coi là then chốt, là một nhân tố quan trọng để đánh giánăng lực cạnh tranh của một quốc gia, thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung

và bảo hộ sáng chế nói riêng càng trở nên có ý nghĩa Bảo hộ sáng chế không chỉ manglại lợi ích cho chủ sở hữu sáng chế, mà còn tác động đến cả nền kinh tế xã hội, cụ thể bảo

hộ sáng chế có những ý nghĩa sau: Trước hết, khuyến khích sáng tạo ra công nghệ mới –sáng chế không dễ dàng được tạo ra mà đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu, thời gian, công sứccủa nhà sáng chế nhưng lại rất dễ bị sao chép (làm đúng như vất gốc), dễ bị bắt chước(làm theo kiểu của người khác) và đưa vào khai thác để sinh lời, nếu không có bảo hộ thì

Trang 7

ai cũng có thể khai thác sáng chế đó mà không phải hao phí cho việc đầu tư nghiên cứu.

Bị đối thủ cạnh tranh cướp đoạt thành quả lao động và lợi nhuận, nhà sáng chế và ngườiđầu tư kinh phí sẽ không còn động lực để lặp lại quy trình sáng tạo, bởi vì họ đầu tư lớn

mà thành công lại nhỏ Điều này sẽ gây tổn thất không chỉ cho bản thân nhà sáng chế màlàm ảnh hưởng đến cả xã hội, Do đó, tăng cường bảo hộ sáng chế sẽ ngăn chặn việc sửdụng các sản phẩm khoa học công nghệ một cách bất hợp pháp giúp chủ sở hữu có thểbảo vệ được thành quả sáng tạo của mình và tiếp tục đầu tư phát triển tạo ra sáng chếmới Bên cạnh đó, việc bảo hộ sáng chế còn tạo môi trường kinh doanh lành mạnh – nếukhông có hệ thống bảo hộ sáng chế, các đối thủ cạnh tranh trên thị trường sẽ không cầnđầu tư sáng tạo mà đơn giản chỉ cần bắt chước, sao chép các sáng chế của người khác vớichi phí rẻ hơn nhiều Kết quả là các nhà sản xuất chân chính không có khả năng thu hồivốn để bù đắp những chi phí cần thiết trong quá trình triển khai, chứ chưa nói đến việctiếp tục đầu tư, lặp lại quá trình sáng tạo Và rất có thể họ sẽ bị chính các đối thủ cạnhtranh của mình loại ra khỏi thị trường Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối vớisáng chế cũng như các đối tượng sở hữu công nghiệp khác một cách không thỏa đáng bịcoi là rào cản đối với thị trường tự do và mở cửa Ngược lại, bảo hộ sáng chế có hiệu quảchính là nhằm giữ gìn một môi trường trong sạch cho các hoạt động sáng tạo và kinhdoanh, từ đó đảm bảo khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Ngoài ra, việc bảo hộsáng chế còn tạo điều kiện cho hoạt động chuyển giao công nghệ và đầu tư – một hệthống bằng độc quyền sáng chế mạnh và thực thi phù hợp còn là điều kiện tiên quyết chohoạt động chuyển giao công nghệ và đầu tư, thông qua việc tạo ra một môi trường antoàn cho các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh và tiếp tục nghiên cứu và phát triển.Chính vì vậy việc bảo vệ sáng chế tạo ra và giữ gìn một môi trường trong sạch cho hoạtđộng kinh doanh và sáng tạo Nhật Bản chính là một ví dụ điển hình của việc sử dụng hệthống bằng độc quyền sáng chế để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đầu tư Khi phátđộng vòng đàm phán Kenedy của GATT, Tổng thống Mỹ Kenedy chỉ coi Nhật Bản nhưmột nước đang phát triển, một sự khác biệt hoàn toàn so với Nhật Bản ngày nay.Các nhàxây dựng chính sách của nước này đã dựa vào hệ thống bằng độc quyền sáng chế để xúctiến đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ, góp phần phát triển kinh tế quốc dân,biến Nhật Bản từ một nước đang phát triển thành một nước phát triển hang nhất nhì trênthế giới Một ví dụ khác, Braxin và Ấn Độ, hai nước đã chứng kiến sự tăng trưởng đáng

kể và liên tục trong đầu tư trực tiếp nước ngoài sau khi họ tăng cường luật về bằng độcquyền sáng chế đầu những năm 1990 Không những thế, việc bảo hộ sáng chế còn làmgiàu tri thức công nghệ - để được cấp bằng độc quyền sáng chế, tác giả phải bộc lộ côngkhai các chi tiết sáng chế của mình ra xã hội Như vậy, thông tin có trong sáng chế có thếđược mọi người dùng cho việc nghiên cứu các mục đích thực nghiệm Sau khi hết thờihạn bằng độc quyền sáng chế, thông tin đó trở thành thông tin chung và mọi người được

Trang 8

tự do sử dụng thương mại những thông tin đó, làm giàu thêm tri thức công nghệ Thôngqua tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển, việc bảo vệ sáng chế sẽ tạo ra nhiều việclàm mới, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp, và tạo nguồn thu cho ngân sách thông qua việc nộpthuế Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng cũng không thể phủ nhận tầm quantrọng của việc bảo hộ sáng chế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước Cũngchính vì những lợi ích bằng độc quyền sáng chế đem lại mà tại Việt Nam trong nhữngnăm qua, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đã trở thành mộttrong những mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp và toàn xã hội Vì vậy, việcxây dựng và cùng có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và đối vớisáng chế nói riêng là yêu cầu cấp bách trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóađất nước.

PHẦN 2: Thực tiễn bảo vệ sáng chế ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.

Khái niệm về bằng sáng chế dựa trên cơ sở thỏa hiệp có đi, có lại Nhà phát minh hay sáng chế có quyền tối cao trong việc sử dụng phát minh của mình trong một thời giannhất định Và đổi lại, quy định của hầu hết các quốc gia đều yêu cầu nhà phát minh công khai phương pháp tìm ra phát minh để cho mọi người có thể hiểu và học hỏi được từ những phát minh này Nhà sáng chế được khuyến khích về mặt kinh tế để chấp nhận rủi

ro và sáng tạo; xã hội nhận được lợi ích của phát minh và kiến thức của họ được ứng dụng trong những lĩnh vực khác Việc bảo hộ chặt chẽ sở hữu trí tuệ không những chỉ thúc đẩy sức sáng tạo mà còn tạo ra niềm tin vững chắc vào nền kinh tế đó, đủ để thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường chuyển giao công nghệ

Trang 9

Những thành công cơ bản trong bảo vệ sáng chế ở Việt Nam thời gian qua là khá rõ

nét và đáng được ghi nhận Theo đó, từ một nền kinh tế khép kín, sản xuất và lưu thông hàng hoá theo mô hình tự cấp tự túc, khi chuyển sang kinh tế thị trường đã nhanh chóng tiếp thu được những kiến thức, trong đó quan trọng nhất là các vấn đề thuộc về quy ước quốc tế Sau khi chính thức gia nhập WTO, Việt Nam đã quyết tâm thực hiện đầy đủ các cam kết trong đàm phán trước đây, thể hiện rõ sự cầu thị và nghiêm túc Cụ thể là đã cho

ra đời hàng loạt các văn bản pháp quy có liên quan đến vấn đề bảo vệ sáng chế theo quy định của WTO phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời đã có những hoạt động tuyên truyền, phổ biến các văn bản này một cách sâu rộng và thiết thực Thôngqua đó, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh và cả bản thân từng người dân cũng đã hiểu và có ý thức đối với nghĩa vụ và quyền lợi trong việc bảo vệ sáng chế Kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, vấn đề bảo vệ sáng chế đã được quan tâm và từng bước thực hiện nghiêm túc theo yêu cầu chung của tổ chức kinh tế - thương mại lớn nhất

thế giới này Việc tổ chức thực hiện và giải quyết tranh chấp về sáng chế ở Việt Nam mặc

dù đã có những bước đi cụ thể, song thực tế những năm qua cho thấy đây là khâu yếu nhất, và cũng chính là sự áp dụng không thành công Luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam Có

thể chỉ ra một số những vấn đề nổi cộm sau đây: việc bảo vệ các phát minh sáng chế

không được thực hiện tốt, để xảy ra hiện tượng mất bản quyền vào tay nước ngoài

Ngược lại, các doanh nghiệp trong nước vì thiếu hiểu biết đã tiếp tay cho các doanh nghiệp nước ngoài hoặc trực tiếp vi phạm bản quyền của các doanh nghiệp khác, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế; việc xử lý các tranh chấp

về sáng chế ở Việt Nam những năm qua cũng đã bộc lộ những yếu kém cơ bản, cụ thể là chưa giải quyết dứt điểm những khiếu kiện kéo dài về quyền sở hữu trí tuệ, nhất là hỗ trợ trong việc đăng ký các phát minh, sáng chế Từ đó gián tiếp hạn chế sức sáng tạo và sự phát huy trong hoạt động nghiên cứu khoa học của con người; việc xử lý tội xâm phạm sáng chế còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Các vi phạm xảy ra ngày một gia tăng nhiềuhơn nhưng khó bị phát hiện và khi bị phát hiện thì thường chỉ bị xử lý bằng các biện phápdân sự hoặc hành chính Điều này cho thấy, công tác đấu tranh phòng chống tội xâm phạm các sáng chế hiện còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền sáng chế một cách hiệu quả trước các hành vi xâm phạm ngày một gia tăng và phức tạp; chưa có lực lượng chuyên trách chống tội phạm nhằm phát hiện kịp thời những hành vi viphạm nên hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về vi phạm quyền sáng chế chưa được nâng cao

Theo bảng xếp hạng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2012 Việt Nam bị tụt hạng trên bảng chỉ số đổi mới toàn cầu, xếp thứ 76/141 (năm 2011 xếp thứ 51/125, 2010 là 71/132…) Nghĩa là tính đổi mới, sáng tạo của nước ta thuộc vào loại

kém Người Việt Nam vẫn luôn tự hào là thông minh và sáng tạo, nhưng chỉ có bình quân

1 sáng chế được đăng ký ở nước ngoài hằng năm, trong khi số này ở hầu hết các nước khu vực Đông Nam Á đều rất cao Cụ thể như năm 2011, Singapore có 647 bằng/4,8 triệudân, Malaysia 161/27,9 triệu, Thái Lan 53/68,1 triệu, Philippines 27/93,6 triệu… Đáng nói là tình hình vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ ngày càng gia tăng trong khi việc thực thipháp luật về quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam còn kém hiệu quả Nguyên nhân chính là

Trang 10

đa phần người dân, doanh nghiệp thiếu hiểu biết về sở hữu trí tuệ và nhất là về sáng chế,

dẫn đến việc tôn trọng pháp luật sở hữu trí tuệ thấp Ông Brian Neubert, Trưởng phòng

Kinh tế, Tổng lãnh sự quán Mỹ tại thành phố Hồ Chí Minh, cho biết 27 triệu việc làm tại

Mỹ trực tiếp về lĩnh vực sở hữu trí tuệ Nếu tính cả những công việc có liên quan sở hữu trí tuệ thì con số này lên đến 40 triệu, chiếm 1/3 trong tổng số việc làm tại nước này Không chỉ thế, các hiệp định tự do thương mại, đặc biệt là các vòng đàm phán Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương mà Việt Nam cũng là một thành viên, đều bao gồm những tiêu chuẩn rất cao về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không chỉ cho doanh nghiệp các nước, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát minh và sáng tạo của các nước Bằng sáng chế bảo hộ rất nhiều các loại phát minh như kiểu dáng công nghiệp, quytrình sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, hợp chất phân tử Bằng sáng chế cũng được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ giống như bản quyền Hiến pháp trao cho Quốc hội quyền thúc đẩy “sự tiến bộ của khoa học và nghệ thuật” bằng cách cho các nhà phát minh được hưởng độc quyền tối cao trong một thời gian nhất định đối với những “phát minh” của

họ Người Mỹ luôn tự hào là một dân tộc có nhiều nhà phát minh sáng chế sẵn sàng thử nghiệm những cái mới trong cả ngành công nghiệp lẫn cả trong chính trị Vì vậy, bằng sáng chế là một phần quan trọng trong lịch sử phát triển của Hoa Kỳ Mặc dù hầu hết học sinh Mỹ có thể không biết rằng bằng sáng chế được đề cập tới trong Hiến pháp nhưng nhiều học sinh biết qua các bài học rằng một trong những bằng sáng chế đầu tiên được cấp cho máy tỉa hột bông của Eli Whitney, chiếc máy có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển sau này của Hoa Kỳ

Một nghiên cứu đáng chú ý của Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu năm 2002 của Ngân hàng Thế giới đã phát hiện ra rằng “dù cho các quốc gia có mức thu nhập khác nhau nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn liền với phát triển thương mại và đầu tư nước ngoài, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn” Một ấn bản khác năm 2002 của Ngân hàng Thế giới mang tựa đề “Cẩm nang Phát triển, Thương mại

và WTO” đã chú dẫn một số nghiên cứu và chỉ ra được rằng việc bảo hộ mạnh mẽ sáng chế có thể: gia tăng thương mại toàn cầu; thu hút thêm được đầu tư trực tiếp nước ngoài; tăng cường việc mua bán công nghệ và do đó có thể tăng năng lực sản xuất trong nước; góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng Ngày nay, Giooc-đa-ni có thể là một ví dụ điển hình cho những kết quả nghiên cứu trên Tại quốc gia này, việc gia tăng bảo hộ bằng sángchế đã đem lại những lợi ích kinh tế hữu hình Viện Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (IIPI) đã công

bố một báo cáo vào tháng 8 năm 2004 nghiên cứu việc thành lập ngành công nghiệp côngnghệ dược và thuốc chữa bệnh từ cây cỏ có khả năng cạnh tranh toàn cầu của Giooc-đa-

ni Báo cáo phát hiện ra rằng “Kinh tế Giooc-đa-ni đã được hưởng lợi lớn từ việc bảo hộ

sở hữu trí tuệ tốt hơn trong thời gian gần đây” theo như công bố của IIPI và nhấn mạnh

hệ thống bảo vệ sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là bảo vệ bằng sáng chế, “đã tăng cường tập trung vào những phát minh dựa trên nghiên cứu cho các công ty dược phẩm của Giooc-đa-ni” Điều này đã được thể hiện trong đóng góp tăng đột biến của ngành chăm sóc y tế, từ 2,8% năm 1997 lên tới 3,5% năm 2001, vào GDP của Giooc-đa-

ni Kể từ năm 1997 số lượng việc làm trong các lĩnh vực y tế tăng thêm 52% Báo cáo

Trang 11

cũng cho thấy “ngành dược phẩm là ngành lớn thứ hai ở Giooc-đa-ni và từ năm 1999 tới

2002 lượng thuốc xuất khẩu của các công ty Giooc-đa-ni tăng thêm 30%”

Hiện nay, quá trình quốc tế hóa diễn ra ngày càng nhanh, trong khi đó hệ thống bảo

hộ sáng chế của Việt Nam mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng lại đạt kết quả không như mong muốn, nếu như không nói là còn quá yếu kém Tình hình này đã đặt việc thực hiện của Việt Nam theo Hiệp định TRIPS vào thế khó khăn Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xingia nhập tổ chức WTO, khi đó hệ thống bảo hộ bằng sang chế vận hành chủ yếu trên cơ

sở các văn bản dưới luật như: Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Ở thời điểm

đó, biện pháp xử lý các xâm phạm bảo hộ sáng chế chủ yếu là biện pháp hành chính mặc

dù về nguyên tắc, Tòa án sẵn sàng xét xử các tranh chấp và các vụ kiện về bằng sáng chế nhưng do các quy định pháp luật chưa phải là luật, tòa án lại chưa có kinh nghiệm trong xét xử các vụ án như thế này nên việc tham gia xét xử của tòa án trên các văn bản pháp luật đã ban hành còn rất hạn chế Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về bảo hộ bằng sáng chế còn nhiều điểm chưa phù hợp, ngay cả những đối tượng đã được pháp luật bảo hộ như sáng chế cũng có những bất cập, ví dụ: thời gian bảo hộ sáng chế của Việt Nam là 15năm, trong khi WTO quy định là 20 năm Để phù hợp với các quy định của TRIPS, Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm đối với hệ thống bảo hộ sáng chế Cụ thể là việc ban hành Luật Hải quan và Bộ luật dân sự 1995 gồm 61 điều về sở hữu trí tuệ Tuy nhiên Bộ luật dân sự chỉ mới đề cập đến những đối tượng đã nêu trong 2 pháp lệnh là Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả (ban hành năm 1994), những đối tượng còn lại trong quy định của TRIPS chỉ được nêu chung chung trong cụm từ “những đối tượng khác” Từ đó có thể thấy, dù đã nỗ lực để cải thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với quy định của WTO, song ngay từ khi ban hành các văn bản pháp luật, Việt Nam đã thể hiện sự thiếu triệt để trong việc tiếp cận và nội dung thực hiện hiệp định Hệ thống văn bản pháp lý Việt Nam về sở hữu trí tuệ và bảo hộ sáng chế còn chưa đáp ứng được những đòi hỏi của các quy tắc mang tính quốc tế Đơn cử như việc bảo hộ patent còn thiếu tính quy định về việc bên bị coi là xâm phạm quyền patent đối với quy trình phải chứng minh được quy trình của mình khác với quy trình thuộc patent Cho đến nay, Việt Nam vẫn áp dụng cơ chế hai giá về phí và lệ phí, như vậy là duy trì chế độ phân biệt đối xử trong chính sách về giá sở hữu công nghiệp giữa công dânViệt Nam với công dân nước ngoài

Sở dĩ trong quá trình thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng như bảo

hộ bằng sáng chế của Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc là do một số lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, chế độ bảo hộ bằng sáng chế ở Việt Nam mới hình thành và phát triển trong

khoảng 20 năm gần đây nên còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp cũng như nhà sáng tạo Việt Nam Nhiều nhà sáng chế thậm chí còn không biết là đã có những văn bản bảo

hộ sáng chế của họ nên chưa khuyến khích được việc tăng cường hoạt động nghiên cứu

khoa học công nghệ Thứ hai, mặc dù các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ mà chúng

ta đã ban hành và ký kết với các nước về cơ bản là đầy đủ và phù hợp các chuẩn mực quốc tế nhưng trong thực tế, việc vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ và xâm phạm tài sảntrí tuệ có những biểu hiện đáng lo ngại Nói cách khác nước ta chưa có một cuộc điều tra

Ngày đăng: 01/04/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w