1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển

129 1,2K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Vốn Oda Đối Với Các Nước Đang Phát Triển
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 728,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển

Trang 1

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC : Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

HNKTQT : Hội nhập kinh tế quốc tế

M&A : Thôn tính và sáp nhập

OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

R&D : Nghiên cứu và Phát triển

UNIDO : Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp QuốcUNCTAC : Tổ chức Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển

MPDF : Chương trình phát triển kinh tế tư nhân

FIAS : Bộ phận tư vấn dịch vụ đầu tư nước ngoài

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

- Trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nguồn lực trong nước đóng vai trò quyết định, nguồn lực bên ngoài có ý nghĩa quan trọng Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một trong những nguồn lực bên ngoài đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội của Lào

- Là một quốc gia chậm phát triển trong khu vực Đông nam Á, Lào cần tăng cường thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài trong đó tăng cường thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển trong nước đóng vai trò quan trọng

- Việc thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào đang là vần

đề nóng bỏng được đảng và nhà nước Lào hết sức quan tâm trong tiến trình toàn cầu hoá hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn

- Nâng cao tính lý luận về vốn nói chung, nguồn vốn ODA nói riêng làm

cơ sở lý luận cho quá trình công tác sau này

- Đánh giá thực trạng việc tăng cường thu hút nguồn vốn ODA vào đầu

tư phát triển tại Lào giai đoạn 2000-2006

- Kiến nghị và đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA,

và các vấn đề tăng cường thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc tăng cường thu hút nguồn vốn

ODA vào đầu tư phát triển tại Lào giai đoạn 2000-2006, những bất cập, tồn tại

và các giải pháp nhằm nâng cao việc tăng cường thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào giai đoạn 2000-2006

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thống kê, tổng hợp và lối tư duy phân tích logic

5 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn đã góp phần làm rõ thêm tính lý luận thực tiễn về nguồn vốn ODA và tình hình thu hút vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào

- Đánh giá được thực trạng thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào giai đoạn 2000-2006

- Đưa ra được các giải pháp có tính thực tiễn đối với việc tăng cường thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào

6 Kết cấu luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vốn ODA

Chương 2: Thực trạng thu hút vốn ODA tại Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào giai đoạn 2000-2006

Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút vốn ODA tại Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ODA ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG

Trong thời gian đầu khi Ngân hàng mới ra đời, những khoản vay chủ yếu được cấp cho các nước Châu Âu Tuy nhiên, kể từ cuối những năm 60, phần lớn số tiền cho vay lại được cấp cho những nước có nền kinh tế đang phát triển ở Châu Phi, Châu Á và Mỹ La Tinh Trong những năm 80, Ngân hàng đặc biệt chú ý tới những dự án giúp đỡ trực tiếp những người nghèo tại các quốc gia đang phát triển

Cũng tại Hội nghị tài chính và tiền tệ của Liên Hợp Quốc này, 44 nước

đã thống nhất thành lập Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Ngày 27-12-1945, điều lệ

Trang 5

của Quỹ tiền tệ Quốc tế đã được 29 nước ký kết và ngày 1-3-1947, Quỹ bắt đầu hoạt động và tiến hành những khoản cho vay đầu tiên Quỹ hoạt động như một loại ngân hàng quốc tế cho vay trợ giúp các nước có khó khăn về cán cân thanh toán, trợ giúp các nước có thu nhập trung bình, thấp và giám sát khủng hoảng nợ quốc tế.

Ngay từ nửa cuối những năm 40, ODA đã được hình thành và tồn tại như một hình thức di chuyển vốn phát triển hay GDP từ những nước giàu sang nước nghèo, một phần ngân sách của các nước giàu đã được trích ra để

bổ sung vào nguồn ngân sách rất ít ỏi của các nước kém và chậm phát triển

Một sự kiện rất quan trong là ngày 14-12-1960, theo kế hoạch Marshall tại Pari, các nước Châu Âu đệ xuất một chương trình hợp tác hồi phục kinh tế tài trợ, và Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC), ngày nay được biết đến như là Tổ chức hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), được thành lập để thực hiện kế hoạch Marshall Mục tiêu của kế hoạch là trợ giúp những nước Châu

Âu khôi phục lại nền kinh tế đã bị tàn phá trong chiến tranh, cụ thể là:

- Đạt được một sự phát triển kinh tế cao bền vững, lao động và mức sống tăng trưởng cao nhất tại các nước thành viên, đồng thời duy trì được ổn định tài chính, góp phần hơn nữa vào phát triển kinh tế thế giới

- Hỗ trợ phát triển kinh tế các nước thành viên cũng như các nước không phải là thành viên trong quá trình phát triển kinh tế chung

- Tăng cường phát triển thương mại thế giới trên cơ sở đa phương phù hợp với những nghĩa vụ quốc tế

OECD bao gồm 20 nước thành viên, ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương Trong khuôn khổ hợp tác phát triển , các nước OECD đã lập ra những uỷ ban chuyên môn, trong đó có Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư Thành viên ban đầu của DAC gồm 18 nước hiện nay gồm : Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Ý, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Anh, Mỹ, Úc,

Trang 6

Niu Dilan, Nhật Bản, Phần Lan, Luxămbua, Tây Ban Nha và Uỷ ban của Cộng đồng Châu Âu IBRD, IMF, và UNDP tham dự các cuộc họp của DAC với tư cách là các quan sát viên thường trực Ba nước OECD là Hy lạp, Aixơlen và Thổ Nhĩ Kỳ không phải là thành viên của DAC nhưng vẫn tham

dự trong các cuộc họp quan trọng Thường kỳ các nước thành viên DAC thông báo cho uỷ ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan tới chính sách viện trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan tới chính sách viện trợ phát triển Năm 1996, DAC đã cho ra đời bản báo cáo “Kiến tạo thế kỷ XXI- Vai trò của hợp tác phát triển” Báo cáo này đã nói tới một vai trò khác của viện trợ nước ngoài vai trò cung cấp vốn mà đã được thực hiện sau này Đó là viện trợ phát triển phải chú trọng vào việc hỗ trợ cho các nước nhận có được thể chế và những chính sách phù hợp chứ không phải chỉ cấp vốn Dĩ nhiên tiền cũng là vấn đề quan trọng nhưng viện trợ có hiệu quả phải mang lại cả tài chính lẫn ý tưởng, và sự kết hợp giữa hai yếu tố đó có ỹ nghĩa thực sự quan trọng

Một yếu tố nữa thúc đẩy quá trình phát triển ODA trên thế giới là xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hợp tác, giúp đỡ các nước chậm phát triển để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư, trực diện

là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của họ vào các nước đang phát triển Đi liền với sự quan tâm và lợi ích kinh tế đó, các nước phát triển còn sử dụng ODA như một công cụ chính trị xác định vị trí ảnh hưởng tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA nhất là đối với các nước lớn

Mặt khác, một số vấn đề quốc tế đang nổi cộm lên như bùng nổ dân số thế giơi, bảo vệ môi trường sống trong sạch và an ninh, phòng chống bệnh AIDS giải quyết các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo… đòi hỏi nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt nước giàu , nghèo

Cho tới nay, trải qua trên nửa thế kỷ phát triển của mình, ODA vẫn

Trang 7

đang đóng một vai trò rất quan trọng đối với những nước đang và chậm phát triển trong quá trình thúc đẩy, xây dựng, cải tạo, củng cố và phát triển kinh tế.

1.1.1.2 Khái niệm về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức Tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển

Như vậy, ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế (hoặc cơ quan đại diện chính phủ) cung cấp, trong đó có các tổ chức như: Ngân hàng Thế giới (WB ), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Nhật Bản…là những chủ thể cung cấp vốn chủ yếu ODA là hình thức viện trợ chính thức không bao gồm các khoản tài trợ tư nhân kể cả khi Chính phủ nước đó đứng ra bảo lãnh Cũng như vậy viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGOs) cũng được tính vào ODA mặc dù các tổ chức này vẫn nhận được sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ

Có hai điều kiện chung nhất cho các nước đang và chậm phát triển nhận được ODA tài trợ của Cộng đồng tài trợ:

Điều kiện 1: Các nước được nhận ODA phải có mức GDP bình quân đầu người thấp (< 525USD/ năm) Chỉ tiêu này càng thấp thì khả năng nhận được ODA càng nhiều

Theo quy định của DAC thì có các mức phân loại nước nhận ODA như sau:

Các nước chậm phát triển nhất ( LDCs – Lowest Developing

Countries): Các nước này chủ yếu tập trung ở Châu Phi và một vài nước Châu

Á như Lào, Myanma, Bangladet…

Các nước có mức thu nhập thấp ( LICs – Lowest Income Countries ), là

những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 675 USD Có thể kể đến một vài nước như Ấn độ, Nigiêria, Kennia, Guana, trong các nước này có

cả Lào

Trang 8

Các nước có thu nhập trung bình thấp ( LMICs – Low Middle Income Countries ): Những nước này có thu nhập bình quân đầu người thường từ 676 đến 2.695 USD Các nước này tập trung chủ yếu ở Nam Mỹ, Trung Đông, Châu Á, một số nước ở Châu Phi và Đông Âu…

Các nước có thu nhập trên trung bình ( UMICs – Upper Middle Income Countries) có thu nhập bình quân đầu người từ 2.696 đến 8.355 USD Những nước này nằm ở châu Mỹ như Braxin, Mexico, Châu Á như Malaixia, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều tiên, và ở các Châu lục khác

Điều kiện 2: Mục tiêu sử dụng vốn của các nước đang và chậm phát triển phải phù hợp với phương hướng ưu tiên, tiêu chí này được xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp ODA và bên nhận ODA

Thường thì yêu cầu của các nước, các tổ chức tài trợ quốc tế đặt ra cho nước nhận ODA là khác nhau

1.1.1.3 Đặc điểm của ODA

Nguồn vốn ODA được hình thành nhằm mục đích hỗ trợ tài chính cho các nước đang và chậm phát triển nên việc cung cấp vốn của các nước và tổ chức tài trợ thường cho vay với những điều kiện ưu đãi nhất, thậm chí nguồn tài trợ là không hoàn lại

Theo đánh giá các khoản viện trợ từ trước đến nay thì ODA có những đặc điểm chung như sau:

Thời gian vay rất dài, từ 10-40 năm trong đó có cả thời gian ân hạn Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu đôla Mỹ Lãi suất được ưu đãi từ 0%-5%/năm Với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển, ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ một nguồn tài trợi nào khác Thông thường, ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này dưới 25% tổng

số vốn vay Đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay Yếu tố cho không được xác định dựa vào việc so sánh mức lãi suất viện trợ với mức lãi

Trang 9

suất tín dụng thương mại (tiêu chuẩn quy ước là 10%/năm) Chi tiết được minh hoạ trong biểu 1 dưới đây:

Bảng 1.1: Yếu tố cho không trong ODA

Thời gian (năm) Hoàn trả Ân hạn

Yếu tố Cho không

- Lãi suất vay: 4%

- Lãi suất vay: 3%

- Lãi suất vay: 4%

- Lãi suất vay: 2,5%

- Lãi suất vay: 0%

711253025-50

33787-12

10002535456076

Nguån: Ng©n hµng Nhµ níc

Mục tiêu tổng quát của ODA là hỗ trợ các nước nghèo thực hiện những chương trình phát triển và tăng phúc lợi của mình Tuy nhiên, tính ưu đãi dành cho vốn này thường đi kèm các điều kiện ràng buộc tương đối khắt khe như tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thành toán…Đôi khi ODA được cung cấp từ các Chính phủ còn gắn với những ràng buộc nào đó

về chính trị, xã hội thậm chí về quân sự Với những điều kiện đó không phải nước nào cũng có thể nhận được viện trợ hoặc sử dụng nó có hiệu quả trong hoàn cảnh riêng của mình Trong một số trường hợp, các điều kiện, thực chất

là những yêu sách của các nước cung cấp viện trợ mà các nước nhận viện trợ không thể đáp ứng, chẳng hạn như về nhân quyền, về định hướng xã hội hoặc thoả mãn lợi ích cục bộ về kinh tế và an ninh của các nước cung cấp viện trợ

Trang 10

Ngay cả về mặt kinh tế, Nhiều dự án tài trợ, do đi kèm một số ràng buộc như phải mua hàng hoá, thiết bị công nghệ kỹ thuật hay thuê chuyên gia từ chính nơi cung cấp viện trợ nên có giá trị thực tế đắt hơn nhiều so với giá trị ghi trong Hiệp định.

Nhiều khi bên cung cấp viện trợ thường lợi dụng ưu thế của mình để đạt được những mục tiêu chính sách riêng Họ cấp viện trợ cho những đồng minh chính trị và quân sự của mình mà không cấp viện trợ cho những đối tượng mà họ coi là kẻ thù Những nước này nhiều khi gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hoá và dịch vụ ở nước họ như một biện pháp nhằm tăng cường khả năng làm chủ thị trường xuất khẩu và giảm bớt tác động của viện trợ đối với cán cân thanh toán Nói chung, những nước cấp viện trợ, cả song phương lẫn đa phương, đều sử dụng viện trợ làm công cụ buộc các nước đang phát triển thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của các biên cấp viện trợ

Một điểm nữa cần phải nhấn mạnh rằng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức là nguồn vốn vay nợ của nước ngoài, là nguồn vốn mà nước đi vay sẽ phải thành toán trong một thời gian nhất định Chính vì vậy cần phải xem xét

dự án viện trợ trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế

1.1.1.4 Phân loại ODA

1.1.1.4.1 Phân loại ODA theo tính chất

Viện trợ không hoàn lại: Đây là nguồn vốn cho không của các nhà tài

trợ, nguồn vốn này thường được cấp dưới dạng các dự án hỗ trợ kỹ thuật (TA), Dự án các chương trình xã hội như chương trình dinh dưỡng, nước sạch, chương trình dân số Quá trình chuẩn bị dự án, tăng cường năng lực phát triển thể chế, hỗ trợ, xây dựng chính sách viện trợ hàng hoá, đầu tư cho

Trang 11

giáo dục, y tế, năng lượng, văn hoá…

Viện trợ có hoàn lại: Hay còn gọi là vốn vay ưu đãi Nguồn vốn này

thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số vốn vay của các nhà tài trợ Yếu

tố cho không trong nguồn vốn này thường thấp hơn 25% tổng số vốn vay Loại này thường có lãi suất thấp từ 0,7-3%/năm, thời gian cho vay dài trên 10 năm, có khi lên đến 40 năm và có thời gian ân hạn Nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho các dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các chương trình thuộc dạng ưu tiên của chính phủ

Viện trợ hỗn hợp: Cơ cấu của nguồn vốn bao gồm cả phần vốn hoàn lại

và không hoàn lại (yếu tố cho không) Hiện nay các nhà tài trợ có xu hướng cấp vốn theo hình thức này Loại vốn này có ưu điểm là lãi suất cho vay tương đối thấp từ 4-7,5%/năm Do vẫn còn tính chất ưu đãi cho nên việc sử dụng nguồn vốn này vẫn còn phải tuân theo một số quy tắc của phía nhà tài trợ quy định

Cung cấp trang thiết bị

Trên thực tế có dự án kết hợp cả hai loại hình hỗ trợ trên

Hình thức chương trình: Hình thức này còn gọi là hình thức viện trợ phi

Trang 12

dự án, viện trợ khi đã đạt được một Hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định

để thực hiện Nhiều nội dung khác nhau của một chương trình

Hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán ( hay hỗ trợ ngân sách ): Thường

thì hình thức này được thể hiện dưới dạng hỗ trợ tài chính trực tiếp như chuyển giao tiền tệ nhưng đôi khi lại là hiện vật như hàng hoá hoặc hỗ trợ nhập khẩu Ngoại tệ và hàng hoá chuyển vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách

1.1.1.4.3 Phân theo các kênh cung cấp

Kênh song phương: Nguồn này thường được cấp trực tiếp giữa chính phủ

với chính phủ hay cấp gián tiếp giữa các chính phủ với nhau thông qua các tổ chức phi Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế

Mô hình số 1 : Kênh tài trợ song phương

Kênh đa phương: Các tổ chức quốc tế cung cấp ODA trực tiếp cho

Chính phủ

Mô hình số 2: Kênh đa phương

NGOs: Các tổ chức phi Chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho Chính phủ

Mô hình số 3: Các tổ chức phi Chính phủ

NGOs ( Non-government organisations)

Các tổ chức quốc tế

Trang 13

1.1.1.5 Quá trình và xu hướng phát triển ODA trên thế giới

1.1.1.5.1 Quá trình phát triển ODA trên thế giới

Khối lượng ODA trên thế giới luôn biến động, trong những năm 60 khối lượng ODA trên thế giới tăng chậm, giữa thế kỷ 80 thì khối lượng viện trợ cho các nước đang và chậm phát triển đạt mức tăng trưởng gấp hai lần so với lượng ODA đầu thập kỷ 70 Những năm này nguồn viện trợ của các nước thành viên DAC và các nước Ả Rập tăng liên tục Nửa sau thập kỷ 80, khối lượng ODA trên thế giới bắt đầu bị giảm sút do tình hình thế giới có nhiều thay đổi, sau đó đến đầu thập kỷ 90, khối lượng ODA trên thế giới mới bắt đầu tăng trở lại

Điều đáng chú ý là trong suốt 40 năm qua, khối lượng ODA của các nước thành viên DAC tăng liên tục trong khi đó lượng ODA từ Liên xô cũ (CIS) và các nước Đông Âu (CEECs) bị giảm mạnh và đến cuối năm 80 thì mất hẳn, thậm chí các nước này trở thành nước nhận ODA

Mục tiêu phấn đấu đầu tiên về tỷ lệ ODA/GNP là 1% đã được chấp nhận tại Hội đồng Nhà thờ thế giới (1958) Năm 1960, Liên Hợp Quốc cũng khuyến nghị tỷ lệ ODA/GNP là 1% như trên và về sau mục tiêu này cũng được OEACD/DAC và UNCTAD chấp nhận Đây chính là thời điểm mà nguồn tài chính cho các nước đang phát triển vượt quá 1%

Năm 1969, để làm rõ các khoản tài chính này, Hội đồng Pearson đề nghị mục tiêu 1% GNP cho mọi nguồn vốn và trong đó 0,7% GNP cho hỗ trợ phát triển chính thức Tỷ lệ ODA/GNP năm 1961 là 0,54% và hiện nay nó giữ

ở mức hợp lý khoảng 0,32-0,33% Mục tiêu 0,7% đang đặt ra thách thức lớn

và rất khó để đạt tới Tuy nhiên đã diễn ra sự chuyển dịch đáng kể tỷ lệ này ở từng nước thành viên DAC Trong khi tỷ lệ này tiếp tục giảm đáng kể ở Mỹ

Trang 14

và Anh, thì các nước Bắc Âu và Hà Lan lại duy trì được ở mức gần 1% Trong những năm 80 các nước Phần Lan, Ý, Thuỵ Sỹ cũng gia tăng đáng kể các khoản viện trợ.

Nói đến sự phân bố ODA trên thế giới, ta thấy kể từ thập kỷ 70, việc phân phối các khoản viện trợ chủ yếu hướng vào vùng Sahara của Châu phi

và Trung Đông, bao gồm cả Ai Cập Bên cạnh khu vực Trung Mỹ, nơi nhận được không đáng kể các khoản viện trợ, tỷ trọng này đã thực sự bị giảm mạnh đối với các vùng Nam Á (đặc biệt là Ấn Độ) và Địa Trung Hải

Liên minh Châu Âu, các nước Bắc Âu, và Canada tập trung viện trợ rất nhiều cho miền Sahara Châu Phi, và khu vực Trung Mỹ Nhật Bản tập trung vào Châu Á, nhưng cũng tăng viện trợ cho khu vực Sahara Ôxtraylia và Niuzilan chủ yếu viện trợ cho châu Đại dương và miền Viễn đông

Trên 50% viện trợ của DAC được dành cho các nước có thu nhập thấp (LICs) Những nước chậm phát triển nhất (LDCs) nhận được rất Nhiều viện trợ trong những năm của thập kỷ 70 Nhật Bản, Anh, Thuỵ Sĩ và các nhà tài trợ khu vực Bắc Âu quan tâm nhiều tới các nước có thu nhập thấp

Khoảng 15% lượng ODA của DAC đi vào các nước có thu nhập trên trung bình (UMICs) gồm tài trợ của Mỹ cho Israel, và tài trợ của Pháp cho lãnh thổ của mình ở hải ngoại Khi những quốc gia và lãnh thổ có số dân ít hơn 1 triệu người, thì việc phân phối viện trợ thường dành cho những người

có thu nhập thấp hơn là những người có thu nhập trên trung bình

Sự phân phối ODA theo khu vực nghèo của thế giới vốn đã không đồng đều nhưng phân phối ODA theo các nước nhận tài trợ lại có nhiều sự chênh lệch hơn nữa

1.1.1.5.2 Xu hướng phát triển ODA trên thế giới

Quá trình phát triển ODA trên thế giới hiện có các xu hướng chủ yếu sau đây:

Trang 15

Một là, trong tổng cơ cấu tổng ODA của thế giới tỷ trọng ODA song

phương có xu hướng tăng lên, ODA đa phương có xu hướng giảm đi Xu hướng này hình thành dưới tác động của 2 nhân tố chủ yếu sau đây:

- Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế hội nhập đã tạo điều kiện cho quan hệ ODA trực tiếp giữa các quốc gia

- Hiệu quả hoạt động của một số tổ chức đa phương tỏ ra kém hiệu quả làm cho một só nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức này Trong tổng số ODA của thế giới thỉ tỷ trọng viện trợ song phương đã tăng rất đáng

kể trong khi đó tỷ trọng viện trợ đa phương giảm đi

Hai là, Mức độ cạnh tranh thu hút ODA đang tăng lên giữa các nước

đang phát triển Trên thế giới số nước giành được độc lập, bắt đầu xây dựng kinh tế phát triển xã hội tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA Sự tan

rã của Liên Xô và Đông Âu đã hình thành một loạt nước mới, các nước Cộng hoà thuộc Nam Tư cũ bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh sắc tộc đòi hỏi sự

hỗ trợ quốc tế Ở Châu Á, Trung Quốc cũng đang cần đến nguồn vốn ODA lớn để xây dựng kinh tế Ở Đông Nam Á, mặc dù một số nước như Singapore, Malaisia, Thái Lan đã giảm dần nguồn tiếp nhận ODA, song bên cạnh đó lại nổi lên các quốc gia khác với yêu cầu ODA lớn hơn như các nước Đông Dương, Myanma Theo Ngân hàng thế giới thì trong giai đoạn 1995-2004, các nước đang phát triển ở Châu Á sẽ cần tới 1400 tỉ đôla cho xây dựng cơ sở hạ tầng để có thể duy trì được tốc độ phát triển như hiện nay Trong khi đó thị trường vốn vay dài hạn từ 20-30 năm cho cơ sở hạ tầng ở Châu Á vẫn chưa hình thành Đây sẽ là một trong những yếu tố cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển trong việc thu hút vốn ODA

Ba là, Triển vọng gia tăng nguồn vốn ODA ít lạc quan Mặc dù Đại hội

đồng liên hợp quốc đã khuyến nghị dành 0,7% của các nước phát triển để cung cấp cho các nước đang phát triển Song khả năng này ít hiện thực Thực

Trang 16

tế cho thấy các nước có khối lượng ODA lớn nhất như Nhật Bản, Mỹ… thì tỷ

lệ này mới chỉ đạt ở mức trên dưới 0,3% trong nhiều năm qua Tuy có một số nước như Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch…đã có tỷ lệ ODA chiếm hơn 1% GNP song khối lượng ODA tuyệt đối của các nước này không lớn nhất là trong giai đoạn này, khi mà cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới các nước khu vực châu Á như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Hồng Kông, Hà Quốc và nhất là tới Nhật Bản, một trong những nhà cung cấp ODA lớn nhất hiện nay Nền kinh tế các nước ở những Châu lục khác cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi cuộc khủng hoảng này như các nước ở Châu Âu, kinh tế Mỹ và các nước khu vực Nam Mỹ… Chắc chắn trước tình hình suy thoái kinh tế nghiêm trọng này trên thế giới, nguồn ODA cung cấp sẽ bị cắt giảm đi rất nhiều các nước sẽ phải tập trung nguồn lực tài chính của mình để phục hồi nền kinh tế trong nước đang xuống dốc

Để giảm bớt thiệt hại từ cuộc khủng hoảng, các nước như Nhật Bản, Mỹ, các nước Châu Âu và các tổ chức tài chính quốc tế đang có chính sách cung cấp vốn ra bên ngoài nhưng chủ yếu tập trung vào các nước bị ảnh hưởng nặng nề

từ cuộc khủng hoảng

1.1.2 Các tổ chức tài trợ ODA

1.1.2.1 Các nhà tài trợ ODA chủ yếu trên thế giới

Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được cung cấp bới các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế

Vào đầu thập kỷ 60, Mỹ là nước cấp viện trợ lớn nhất thế giới Pháp, Đức và Anh cũng là những nước tài trợ chính Đến năm 70, Nhật Bản mới trở thành một trong các nhà tài trợ lớn cùng với Canada và Hà Lan

Những thập kỷ sau, số lượng các nhà tài trợ ODA trên thế giới tăng lên rõ rệt Có thể chia các nhà tài trợ thành các nhóm cung cấp ODA chủ yếu như sau:

Trang 17

a Các nước thành viên của Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC), trên 20

nước gồm một số nước thành viên của Cộng đồng Châu Âu, các nước Bắc

Âu, và các nước khác ODA của Uỷ ban này dành chủ yếu cho các nước vùng Sahara, Nam và Trung Á, các nước Trung Đông, Bắc phi, các nước Mỹ La tinh và vùng Caribe, một số nước Ả Rập, các nước thuộc Liên Xô cũ và các nước Đông Âu

b Các tổ chức đa phương

Các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc như chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP), Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), chương trình lương thực thế giới (WFB), Quỹ dân số Liên Hợp Quốc(UNFTA), tổ chức y

tế thế giới (WHO), Tổ chức nông nghiệp và lương thực (FAO), Tổ chức phát triển công nghiệp thế giới (UNIDO)…

Hầu hết viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc đều thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại, ưu tiên cho các nước đang phát triển có thu nhập thấp và không ràng buộc điều kiện chính trị một cách lộ liễu Viện trợ thường tập trung cho các như cầu có tính chất xã hội như văn hoá, giáo dục, sức khoẻ, dân số, xoá đói giảm nghèo…

Liên minh Châu Âu (EU) là tổ chức có tính chất kinh tế - xã hội của 15 nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu (chủ yếu là Tây - Bắc Âu) có quỹ lớn song chủ yếu dành ưu tiên cho các thuộc điạ cũ ở Châu Phi, Caribe, Nam Thái Bình Dương, nay bắt đầu chú ý đến Đông Âu

c Các tổ chức phi Chính phủ (NGOs): Trên thế giới có hàng trăm tổ

chức phi Chính phủ hoạt động theo các mục đích, tôn chỉ khác nhau (từ thiện, nhân đạo, y tế, thể thao, tôn giáo…) Vốn của các tổ chức này thường nhỏ, chủ yếu dựa vào quyên góp hoặc nhờ sự tài trợ của các Chính phủ Do vậy, viện trợ của các NGOs thường có đặc điểm:

- Đa dạng: có thể là vật tư thiết bị hoặc lương thực, thực phẩm, thuốc

Trang 18

men, cũng có thể là tiền mặt, quần áo, đồ dùng.

- Quy mô nhỏ: từ vài ngàn đến vài chục trăm ngàn đôla, nhưng thủ tục đơn giản thực hiện nhanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu khẩn cấp (khắc phục thiên tai, dịch bệnh…)

Khả năng cung cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thất thường và nhất thời (do phụ thuộc vào kết quả quyên góp) Ngoài mục đích nhân đạo trong một số trường hợp viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ còn mang mầu sắc tôn giáo, chính trị khác nhau

d Các tổ chức tài chính quốc tế: Các tổ chức tài chính quốc tế thường

cung cấp các khoản ODA lớn là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Quỹ Co-Oet…

1.1.2.2 Khối lượng ODA trên thế giới

Trong các nguồn cung cấp ODA nói ở trên, ODA từ các nước thành viên của DAC là lớn nhất Năm 2003, DAC cung cấp 62,711 tỷ đola chiếm 0,34% tổng GNP của các nước này Năm 2006, DAC cung cấp 48,324 tỷ đôla bằng 0,22% tổng GNP

Trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2006, tất cả các nhà tài trợ đều giảm tỷ lệ ODA/GNP Mỹ là nước giảm viện trợ mạnh nhất, vào năm 2006 viện trợ của nước này chỉ còn chiếm 0.08% GNP Thuỵ Điển và các nước Bắc

Âu khác vốn vẫn được coi là hào phóng cũng chỉ dành cho viện trợ 1% GNP của mình Nhưng trong số các nước lớn thì Pháp là nước duy nhất đóng góp hơn 0,45% GNP Tóm lại, năm 2006 các nước OECD chỉ đóng góp được 0,22% GNP Tuy vậy, phải ghi nhận rằng xu thế chung của DAC là liên tục tăng khối lượng ODA của các nước thành viên trong suốt 30 năm qua Nỗ lực viện trợ không đồng đều cũng làm cho tổng khối lượng ODA nhìn chung tăng

Trang 19

lên chậm chạp Trong khi một số nước tăng viện trợ thì một số nước khác lại giảm, vì vậy mà ảnh hưởng đến tình hình chung.

Bảng 1.2: ODA và tỷ lệ ODA/ vốn góp của các nước DAC

Các nước

DAC

2003 ( Triệu USD)

2004 (Triệu USD)

2005 (Triệu USD)

2006 (Triệu USD)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 351- tháng 9/2006

Trong những năm tiếp theo của năm 1997, nguồn vốn ODA tiếp tục được mở rộng từ các tổ chức đa phương do phải trợ giúp các nước đang khó khăn và ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Nam Á Ngân hàng Thế giới thông báo rằng, năm 1998, WB tiếp tục mở rộng các khoản vay tín dụng, vay ưu đãi và nhanh chóng giải ngân các khoản vay này cho

Trang 20

các nước nằm trong khu vực ảnh hưởng bất lợi của cuộc khủng hoảng, trong

đó có Lào Đến tháng 6/1998, WB cam kết cung cấp khoản vay lên tới 28,6

tỷ đôla và số vốn giải ngân lên tới 25,5 tỷ đôla cho các nước châu Á, và cho vay hỗ trợ phát triển cho các nước nghèo lên tới 7,5 tỷ đôla

Trong khi đó lượng ODA lại giảm từ phía các nhà tài trợ song phượng lớn trên thế giới Được biết, vốn ODA của Nhật Bản đã giảm 34,8% trong năm 1996 từ mức 9,61% tỷ đôla trong năm 1995 Các năm tiếp theo, lượng ODA của Nhật Bản vẫn giảm mạnh vì tình hình tài chính của Nhật gặp rất nhiều khó khăn và sự xuống giá của đồng Yên so với đồng đôla Mỹ Trong suốt 5 năm liền ( 1990-1995), Nhật đứng đầu thế giới trong viện trợ kinh tế cho nước ngoài, tuy nhiên vị trí này của Nhật Bản hiện nay không còn nữa

* Phân phối ODA theo vùng

Kể từ năm 1970, ODA chủ yếu hướng vào tiểu vùng Sahara, riêng Nhật Bản lại ưu tiên cho Châu Á Sau đây là phân bổ ODA theo vùng của 10 nhà tài trợ lớn ( giữ vị trí từ 1 đến 10 trong số các thành viên OECD, theo thứ tự từ trái qua phải)

Bảng 1.3: Phân bổ ODA theo vùng của 10 nhà tài trợ lớn nhất (ĐV %)

Vùng Nhật Mỹ Đức Pháp Lan Hà Anh Italia Thuỵ Điển Canada Mạch Đan

Viễn Đông Châu Á 48,4 5,5 22,9 7,3 5 10,2 8,7 10,2 18,8 11,9

Bắc và Trung Mỹ 5,0 15,1 5,0 1,9 13,9 5,8 7,9 8,3 10,2 5,9 Nam Sahara Châu Phi 11,6 21,6 25,4 53,4 28,2 45,8 34,8 4,9 34,7 55,2 Bắc Sahara Châu Phi 2,5 12 8,3 15,7 1,8 1,2 30,2 30,2 7,7 8,0

( Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 351 – tháng 9/2006)

* Phân phối ODA theo nhóm nước

Trang 21

Viện trợ từ các nước DAC tập trung rót vào các nước có thu nhập thấp (LICs) Các nước chậm phát triển nhất (LDCs) cũng được viện trợ ngày càng tăng kể từ những năm 70 Nhật Bản, Anh, Thuỵ Sĩ và các nước Bắc Âu tập trung viện trợ chủ yếu cho các nước LICs, trong đó các nước Bắc Âu tập trung vào các nước LDCs

* Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực

Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực của từng nước tài trợ có khác nhau song nhìn chung các nhà tài trợ đều quan tâm tới giáo dục, y tế, vận tải, viễn thông, hỗ trợ chương trình…Các nhà tài trợ cũng không quên dành một phần đáng kể trong ODA để xoá nợ

Mặc dù có sự nhất trí về tầm quan trọng của đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, ODA dành cho lĩnh vực này dù đánh giá bằng tiều chí nào cũng còn nhiều hạn chế Tính từ năm 1993 đến năm 1996, hàng năm, chỉ có

Na Uy và Thuỵ Điển là hai nước có tỷ lệ viện trợ dành cho giáo dục phố cập trong tổng chi phí dành cho giáo dục lớn hơn 30%, và Hà Lan cũng đã giữ được mức bình quân là 23%, còn DAC trong cùng thời gian này chỉ đạt bình quân là 13%

Bảng 1.4: Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực của 10 nhà tài trợ lớn

Ngành

và lĩnh vực Nhật Mỹ Đức Pháp Lan Hà Anh Italia Thuỵ Điển Canada Mạch Đan

Giáo dục, y tế và dân số 10,7 17,4 20,9 24,0 9,9 15,9 4,4 15,3 13,9 8,8 Nước và vệ sinh 0,7 1,0 7,5 3,2 2,7 2,4 0,7 4,4 0,9 2,2 Vận tải, thông tin và năng

Nông nghiệp 9,8 5,7 5,8 5,1 12,5 8,0 1,6 10,5 3,6 8,4 Viện trợ chương trình 4,4 2,4 2,4 9,3 1,8 11,9 9,4 6,2 1,5 1,3

Cứu trợ khẩn cấp và viện

trợ lương thực 0,6 16,9 8,1 0,8 8,4 19,3 11,1 24,6 24,5 8,6Các lĩnh vực khác 28,4 52,7 23,1 21,6 54,2 28,9 8,4 26,8 45,9 43,7

(Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 351-Tháng9/2006)

Trang 22

1.2 VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Vì các nước đang phát triển là khu vực tập trung tỷ lệ dân số cao của thế giới (130 nước – 77% toàn bộ dân số thế giới) nhưng lại chiếm một phần thu nhập ít ỏi (GNP chưa đầy 14% trong tổng số trên 20.000 tỷ/năm của thế giới) Những vấn đề nảy sinh trong những nước đang phát triển không chỉ thuần tuý liên quan đến vấn đề kinh tế Những vấn đề xã hội là hậu quả của một nền kinh tế yếu kém và đồng thời cũng là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển như tỷ lệ phát triển dân số cao, đói ăn và suy dinh dưỡng, những vấn đề

về môi trường…Tỷ lệ dân số cao đã khiến cho mức phát triển thực tế tính theo đầu người giảm 0,2% Nghèo đói, tích luỹ thấp đã làm các nước đang phát triển rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” của sự nghèo đói Theo lý thuyết của nhiều nhà kinh tế học trong đó P.Samuelson đưa ra là để tăng trưởng kinh tế nói chung cần đảm bảo 4 nhân tố là: nhân lực, tài nguyên, thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật, mà ở các nước đang phát triển nhìn chung 4 nhân tố trên là khan hiếm, chưa thoả mãn Hơn nữa, trong “cái vòng luẩn quẩn”, việc kết hợp chúng càng gặp trở ngại lớn Để có được sự phát triển, ngoài những

nỗ lực của bản thân, các nước đang phát triển cần có đầu tư và hỗ trợ của nước ngoài Đối với các nước đang phát triển, FDI và ODA là hai nguồn vốn quan trọng nhất, các nguồn vốn còn lại nhỏ và thất thường Mặc dù có tỷ trọng nhỏ hơn FDI trong tổng nguồn vốn ngoài nước nhưng ODA lại có những ưu điểm riêng Trái với FDI là nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thường lựa chọn các dự án kinh doanh nhanh chóng mang lại lợi nhuận, do tính ưu đãi, vốn ODA thường được các nước sử dụng để nâng cấp

và cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, như đầu tư vào đường sá, cầu cống, công trình điện, cấp thoát nước và lĩnh vực giáo dục, y tế ,văn hoá phát triển nguồn nhân lực…Đây là những ngành nền tảng cho sự tăng trưởng vì có giải

Trang 23

quyết tồn tại về cơ sở hạ tầng thì mới có khả năng thu hút mạnh nguồn vốn FDI cũng như có thể sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn này.

Vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển

* Bổ sung cho nguồn vốn trong nước:

Đối với các nước đang phát triển, các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho quá trình phát triển Chẳng hạn, trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá ở các nước NICs và ASEAN viện trợ nước ngoài đã có một tầm quan trọng đáng kể

Đài Loan, trong thời kỳ của quá trình công nghiệp hoá đã dung viện trợ và nguồn vốn nước ngoài để thoả mãn gần 50% tổng khối lượng vốn đầu

tư trong nước Sau khi nguồn tiết kiệm trong nước tăng lên, Đài Loan mới giảm dần sự lệ thuộc vào viện trợ Đối với Hàn Quốc, nhờ có mối quan hệ đặc biệt với Mỹ nên có được nguồn viện trợ rất lớn, chiếm 81,2% tổng số viện trợ của nước này trong những năm 1970-1972 Nhờ đó mà giảm được

sự căng thẳng về nhu cầu đầu tư và có điều kiện thuận lợi để thực hiện được các mục tiêu kinh tế Còn ở hầu hết các nước Đông Nam Á, sau khi giành được độc lập đất nước ở trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu Để phát triển

cơ sở hạ tầng- một lĩnh vực đảm bảo tiền đề vật chất ban đầu cho phát triển kinh tế, song lại đòi hởi phải có Nhiều vốn và khả năng thu hồi vốn chậm Giải quyết vấn đề này các nước đang phát triển nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng đã sử dụng nguồn vốn ODA

* ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợ tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực.

Dù cho các nước tài trợ thường không muốn chuyển giao những công

Trang 24

nghệ cao nhưng trên thực tế cũng có công nghệ tương đối cao được chuyển giao làm tăng thêm tiềm lực khoa học công nghệ của nước tiếp nhận Khả năng này thường được chuyển giao qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật Khả năng này thường được chuyển giao qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật Chúng ta có thể thấy rõ vai trò này của ODA thông qua loại hình hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản - nước đứng đầu thế giới về cung cấp ODA Hợp tác kỹ thuật là một bộ phận lớn trong hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản-nó bao gồm Nhiều loại hình khác nhau và gắn với các dự án khác nhau, như các dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chương trình về tuyển cử quốc gia, các dự án

về cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập; các chương trình cử các đoàn khảo sát

về phát triển…Chẳng hạn, với các dự án cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập kết hợp với việc cử chuyên gia và đào tạo kỹ thuật tại Nhật đã nâng cao hiệu quả của việc hợp tác Chỉ tính trong thời gian từ 1964-1978 đã có 910 trường hợp Nhật Bản cung cấp vốn ODA theo dạng này, có trị giá tổng cộng khoảng 15,7 tỷ yên, trong đó Châu Á và Châu Đại Dương chiếm 43%; Trung Cận Đông 28%; Mỹ La Tinh 25% và 4% cho các khu vực khác

Vai trò phát triển nguồn nhân lực của ODA được thể hiện qua các chương trình đào tạo, cấp học bổng, gửi chuyên gia Ngoài ra, khả năng này cũng thể hiện khá rõ khi có các công trình dung vốn nước ngoài, có đào tạo cho một số công nhân và cán bộ kỹ thuật của nước tiếp nhận có khả năng tiếp thu các công nghệ mới và làm quen với các quy trình khoa học hiện đại Điều đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

* Giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế

Đối với các nước đang phát triển, khó khăn kinh tế là điều không thể tránh khỏi, trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một gia tăng là tình trạng phổ biến Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đều phải cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với Ngân hang Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế và các tổ chức quốc tế khác tiến hành điều

Trang 25

chỉnh cơ cấu Chính sách này dự định việc chuyển chính sách kinh tế nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân Nhưng muốn thực hiện được việc điều chỉnh này cần phải có một lượng vốn lớn, do vậy mà các chính phủ lại dựa vào nguồn hỗ trợ ODA Trong giai đoạn 3 năm từ 1993-1995 Nhật đã dành một khoản viện trợ tổng cộng khoảng gần 700 triệu USD để hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu kinh tế các nước đang phát triển.

Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát triển

Như chúng ta đã biết, để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, thì tại các quốc gia đó phải đảm bảo cho họ có một môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn định…), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao Muốn vậy, đầu tư của nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp cải thiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, Ngân hàng…Nguồn vốn để nhà nước có thể giải quyết những đầu tư này là phải dựa vào nguồn vốn ODA giúp bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách của nhà nước Môi trường đầu tư hạn hẹp một khi được cải thiện sẽ tăng sức hút đồng vốn trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy đầu tư trong nước tăng dẫn đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận

Tuy nhiên, ngoài những tác dụng tích cực, việc sử dụng ODA còn có những mặt tiêu cực mà nếu không lưu tâm giải quyết, các nước nhận viện trợ gặp nhiều khó khăn

Thứ nhất là tính ưu đãi của loại vốn này thường đi kèm các điều kiện ràng buộc về chính trị - xã hội mà với những điều kiện đó không phải nước

Trang 26

nào cũng có thể nhận viện trợ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này trong hoàn cảnh riêng của mình.

Thứ hai là như một nhà kinh tế học đã nói “ vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế của một nước giống như bột nở đối với chiếc bánh mì chứ không phải là bột để tạo thành chiếc bánh đó” Bởi vì khi tiếp nhận nguồn vốn này sẽ nảy sinh các khoản nợ Nhiều nước sự dụng nguồn vốn này không hiệu quả dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài chồng chất và ngày càng mất khả năng thanh toán

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THU HÚT VỐN ODA

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn oda, chẳng hạn như việc giải ngân vốn, việc sử dụng vốn như thế nào? hiệu quả sử dụng vốn

ra sao? Tình hinh kinh tế chính trị của quốc gia…

Các nhân tố thuộc bên nhận tài trợ cũng rất đa dạng Trước hết là sự ổn định của thể chế chính trị Thực tế đã chỉ ra rằng, nếu thể chế chính trị ổn định

sẽ tạo điều kiện cho việc thu hút và quản lý tốt nguồn vốn ODA

Thứ hai là mức ổn định kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn phát triển kinh tế, đặc biệt là chính sách tài chính, thuế, mức độ mở cửa của nền kinh tế cũng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý Nếu các chính sách này

ổn định trong thời gian dài và hợp lý sẽ góp phần cho quản lý nguồn vốn ODA tốt và ngược lại, sẽ gây ảnh hưởng đến việc quản lý nguồn vốn này

Một nhân tố không thể thiếu được đó là, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA Nếu các văn bản này ổn định và phù hợp sẽ góp phần cho công tác quản lý tốt nguồn vốn ODA và ngược lại, sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản

lý nguồn vốn này theo chiều hướng không tốt

Các nhân tố như, trình độ phát triển kinh tế nói chung, đặc biệt là trình

độ phát triển hệ thống thể chế kinh tế, các điều kiện có liên quan đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ hay tốc độ tăng trưởng kinh tế qua từng thời kỳ

Trang 27

Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và cả người dân về nguồn vốn ODA mà trước hết là các ngành, các cấp, các địa phương, các cơ sở thụ hưởng trực tiếp cũng đóng vai trò là các nhân tố có ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý nguồn vốn ODA này của bên nhận tài trợ.

Ngoài ra còn có các nhân tố đặc thù liên quan đến lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng Các nhân tố đặc thù này thể hiện ở điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội Hiện trạng kết cấu hạ tầng đô thị Viên chăn, cũng có các nhân tố đặc thù khi triển khai các dự án ODA về xây dựng kết cấu hạ tầng theo từng giai đoạn phát triển

Về mặt lý luận, cần lưu ý một số khía cạnh liên quan đến việc quản lý các dự án ODA về xây dựng kết cấu hạ tầng Đó là, kết cấu hạ tầng thường là các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, gắn với một địa bàn rộng lớn Khi triển khai dự án thường đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư phải đi trước một bước, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng thường có yêu cầu về kỹ thuật, kinh tế nên phải tổ chức theo quy trình quản lý dự án xây dựng cơ bản với các yêu cầu về đấu thầu, về giải ngân, về giám sát kỹ thuật những nét đặc thù này cùng với các nhân tố thuộc bên tài trợ, bên nhận tài trợ

sẽ góp phần nghiên cứu thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn ODA ở Lào nói chung và Viên chăn nói riêng

Mặc dù Chính phủ và các bộ, ngành chức năng đã cố gắng đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA song tình trạng thiếu vốn đối ứng vẫn diễn ra ở một số bộ, ngành và địa phương như Bộ Giao thông vận tải,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việc thiếu vốn đối ứng chủ yếu do giá đền bù giải phóng mặt bằng (GPMB) tăng lên, cơ chế ghi thu ghi chi bị bãi bỏ nên chủ dự án phải xuất ngân sách trả thuế, cơ quan chủ quản bị khấu trừ kế hoạch của năm 2005 để trả nợ tạm ứng kế hoạch năm 2004…

- Do đơn giá xây dựng cơ bản (XDCB) không được cập nhật thường xuyên, không theo sát giá thị trường nên tổng dự toán thường thấp hơn so với

Trang 28

giá thị trường Điều này dẫn đến tình trạng giá đấu thầu ở một số dự án có cao hơn tổng dự toán, do đó phải tiến hành điều chỉnh và hậu quả là thời gian đấu thầu bị kéo dài và chậm đưa dự án vào thực hiện Thêm vào đó, thủ tục và thời gian thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán theo quy định của Bộ Xây dựng còn phức tạp và kéo dài.

- Mặc dù môi trường pháp lý về đất đai đã được cải thiện song công tác GPMB và tái định cư vẫn còn là một trở ngại lớn đối với nhiều dự án ODA có XDCB do chính sách GPMB và tái định cư còn thiếu đồng bộ, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ dự án và chính quyền địa phương, nhận thức của người dân về GPMB chưa cao và thiếu vốn đối ứng để đền bù Tiến độ xây dựng các khu nhà tái định cư còn chậm, chất lượng chưa cao cũng đã ảnh hưởng đến tâm lý của các hộ dân phải di dời

- Nhiều dự án ODA bị chậm tiến độ do quá trình đấu thầu bị kéo dài Nguyên nhân chủ yếu là do yếu kém trong khâu lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án, lập tổng dự toán, thiết kế kỹ thuật… dẫn đến phải có những điều chỉnh làm kéo dài thời gian đấu thầu Ngoài ra còn có sự khác biệt giữa ta và nhà tài trợ về quy định đấu thầu, chẳng hạn khái niệm về “tổng dự toán” và

“giá trần” của gói thầu giữa Lào và Nhật Bản, cũng làm mất nhiều thời gian

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ODA TẠI CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

2.1 GIỚI THIỆU VỀ ODA Ở LÀO

2.1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế và lịch sử của CHDCND Lào

Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) có diện tích tự nhiên

là 236.800 km2, là một nước có diện tích tương đối rộng, nằm sâu trong nội địa Đông Nam Á; ở vị trí không thuận lợi cho giao lưu quốc tế; có biên giới chung với 05 nước láng giềng Phía bắc giáp với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (có chung biên giới 505km); Đường biên giới phía nam dài 435km giáp với Vương quốc Campuchia; phía Đông là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Lào, với biên giới dài nhất 2069km; phía Tây là Vương quốc Thái Lan, với đường biên giới là 1835km; và phía tây bắc có đường biên giới dài 236km với nước Mianma Lào không có đường biển và đây là một khó khăn rất lớn trong giao lưu kinh tế quốc tế

Đất đai Lào phần lớn diện tích là núi đồi- hiểm trở và rừng rậm; song cũng có một số đồng bằng và cao nguyên quan trọng, tạo ra một địa hình đa dạng (xem phụ lục 2) Về mặt địa lý kinh tế, đất Lào được phân chia thành 03 vùng: Vùng kinh tế Luông Pha Bang, vùng kinh tế Viêng chăn và Vùng kinh

tế Xa Vẳn Na Khẹt Về địa hình, nước Lào có thể phân chia thành hai vùng lớn như: vùng Thượng Lào và vùng Trung và Hạ Lào

Vùng Thượng Lào là vùng có địa hình trắc trở bởi núi đồi trùng điệp,

có độ cao trung bình và tương đối cao (cao từ1500-2800m) và là vùng có nhiều thung lũng nhỏ sâu và hẹp, nằm dọc theo những con sông; ở phía Đông của vùng là cao nguyên thông với đồng bằng Viêng Chăn Vùng Thượng Lào còn là vùng có diện tích tự nhiên rộng, là vùng đi lại rất khó khăn, dân cư

Trang 30

sống phân tán trong những thung lũng nhỏ dọc ven các con sông.

Vùng Trung và Hạ Lào là vùng ít núi hơn; núi tương đối thấp (cao từ 1000-1500m ); so với Thượng Lào, có cao nguyên và thung lũng rộng hơn Là vùng đồng bằng dọc ven sông Mê kông; cũng là vùng giao lưu đi lại thuận lợi hơn Phía Đông giáp dãy Trường Sơn, là một vùng núi nối tiếp nhau về phía Nam đất nước; được phân cách bằng những thung lũng khá rộng của các con sông, và đất đai rất phì nhiêu Điều đó đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho chăn nuôi cũng như trồng trọt Vùng này có địa hình bằng, và nghiêng thoai thoải

về lưu vực sông Mê kông; biến Mê kông thành lòng máng Vùng này có cao nguyên Khăm Muồn và cao Nguyên Sa Vẳn Na Khẹt, cao nguyên Bo La Ven

và đồng bằng ven sông Mê Kông Đây cũng là đồng bằng quan trọng nhất của đất nước Lào Dân Lào ví vùng này như vựa thóc, ao cá của cả nước

Sông Mê Kông và các phụ lưu, chi lưu nối những con sông ở trung và

Hạ Lào tạo nên con đường giao lưu từ Động sang Tây, từ biển Đông Lào và nội địa; Đất nước Lào có nhiều sông ngòi; tạo nên tài nguyên nước vô cùng quan trọng cho đời sống người dân và sự phát triển nền kinh tế Lào Nhờ có

hệ thống sông ngò mà Mê Kông là sông mẹ Sông Mê Kông được dân Lào gọi

là Mè Nặm Khoong Mè nặm Khoong chạy qua Lào 1865km, trong đó chạy qua Lào-Thái 1500km Điểm tận cùng của Mè Năm Khoong chạy qua Lào là thác Khoon Pha Pheng Khoon Pha Pheng là thác lớn nhất và là một trong những cảnh quan du lịch sinh thái kỳ thú ở Lào; Nó cũng có thể trở thành nguồn điện năng lớn trong tương lai

Đối với dân Lào các con sông vừa là tiềm năng kinh tế như nguồn thuỷ điện, giao lưu giữa các vùng, nguồn tưới cho đồng ruộng, vừa có vai trò rất quan trọng đối với đời sống nhân dân của các bộ tộc Lào cả về vật chất lẫn tinh thần Đặc trưng các con sông ở Lào là sông ngòi miền núi có độ dốc lớn, nước lũ chạy xiết, Nhiều thác, lượng nước lưu thông chênh lệch nhau rất lớn

Trang 31

giữa mùa mưa và mùa khô.

Do ảnh hưởng của vị trí địa lý nằm sâu trong nội địa, trong khu vực hoạt động của gió mùa Đông Nam Á, nên đất nước Lào có khí hậu nhiệt đới gió mùa; nhưng do địa hình có núi đồi trùng điệp và ảnh hưởng của hai luồng gió: gió Bắc lạnh và khô, và gió Tây Nam nóng và ẩm, nên khí hậu ở Lào được chia làm hai mùa rõ rệt như: mùa mưa và mùa khô Nhờ có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, phần lớn đất đai là đất núi đồi, rùng mọc tự nhiên và phát triển mạnh

Rừng chiếm hớn một nửa diện tích tự nhiên của đất nước và có tổng trữ lượng gỗ rất lớn Diện tích rừng chiếm khoảng 11 triện ha hay bằng 46,4% diện tích tự nhiên (1995 ) và 40% (1997); vì rừng ở Lào thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới nên nó có nhiều loại cây cỏ phát triển, trong đó gồm có các loại

gỗ quý hiếm và có giá trị cao như: gỗ cẩm lai, gỗ trắc, gỗ pơ mu, gỗ tếch, gỗ hương v.v…Song, rừng ở Lào đang có chiều hướng giảm sút cả số lượng và chất lượng, công tác trồng lại rừng chưa thực hiện một cách đồng bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái, và nhất là ảnh hưởng đến nguồn nước tự nhiên Rừng ở Lào, tuy có diện tích, trữ lượng lớn nhưng đại bộ phận mọc ở vùng núi cao, hiểm trở, khó khai thác

Lào có 3 đồng bằng lớn như: đồng bằng Viêng chăn, đồng bằng Sa vẳn

Na Khẹt và đông bằng Chăm Pha Sắc Ba đồng bằng này có tiềm năng kinh tế rất lớn Nhưng những nơi có Nhiều ruộng nước, thậm chí trong vùng kinh tế hàng hoá tương đối phát triển như ở Trung và Hạ Lào, nông dân vẫn còn phát rừng làm nương rẫy

CHDCND Lào có hơn 5,2 triệu dân ( năm 2000 ) Một đặc điểm rất quan trọng của cư dân ở Lào là bao gồm 03 khối dân tộc lớn ( Ba Xôn Xát )

có 68 bộ tộc ( 68 Xôn Phầu ) ; giữa các bộ tộc trình độ phát triển kinh tế, văn

Trang 32

hoá còn chênh lệch nhau - nhất là các bản làng xa thuộc các tỉnh Trong ba khối dân tộc gồm có:

Một là, Lào Lùm; dân tộc này là tộc lớn hơn cả, chiếm hơn 2/3 dân số

cả nước Những cư dân khối này, phần lớn sống tập trung ở vùng thấp- vùng đồng bằng và các thung lũng dọc ven sông cũng như dọc theo tuyến đường giao thông Đa số người dân Lào Lùm sống và hoạt động sản xuất nông nghiệp lúa nước là chủ yếu; tuy nhiên trong điều kiện đời sống còn gặp Nhiều khó khăn, chăn nuôi gia súc cũng là một nhân tố đóng vai trò tích cực trong đời sống của dân cưa khối này

Hài là, Lào Thơng; khối tộc này là khối tộc lớn thứ hai, sau khối tộc Lào Lùm, chiếm khoảng 23% dân số Lào Cư dân này sính sống ở các thung lũng và dưới chân đồi núi Theo truyền thuyết Xôn Xát Lào Thơng, phần lớn dân tộc này gồm những dân cư sống lâu đời ở đất nước Lào, và có Nhiều bộ tộc Họ sống rải rác từ thượng Lào đến Trung và Hạ Lào, trịnh độ phát triển kinh tế còn thấp, phong tục tập quán còn mang Nhiều tàn tích của xã hội thị tộc Phương thức sản xuất canh tác của cư dân này sống phân tán, phát đốt rừng làm nương rẫy là điều kiện sống của họ

Ba là, Lào Sủng; so với hai khối Lào Lùm và Lào Thơng, dân tộc này ít người hơn, chiếm khoảng 10% dân số cả nước Cư dân Xôn Xát này đa số còn sống du canh du cư, phá đốt rừng làm nương rẫy Nhưng có một đặc điểm nổi bật hơn là, họ có kinh nghiệm trong chăn nuôi gia súc, biết chế biến thuốc bắc

cổ truyền để chữa trị bệnh

Trong điều kiện đất nước đang đi vào con đường xây dựng va phát triển , nền kinh tế-xã hội còn Nhiều mặt yếu kém và mất cân đối, chính phủ Lào đã lựa chọn hướng ưu tiên về chính sách xã hội Trước hết coi trọng vấn đề phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng vấn đề giáo dục, chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khoả nhân dân Đầu tư phát triển tài nguyên con người là đầu tư

Trang 33

cho tương lai Sự tăng dân số có ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động sản xuất và sự phát triển kinh tế xã hội Chính của cải xã hội là do con người tạo

ra cả trong nền kinh tế hiện đại cũng như trong nền kinh tế chậm phát triển của Lào Chất lượng nguồn nhân lực là một yếu tố quyết định sản lượng và năng suất lao động Do vậy, xét quy mô và chất lượng nguồn nhân lực với điều kiện phát triển đất nước hiện nay, Đảng và Chính phủ Lào xác định nhân

tố số một quyết định sự tồn tại và phát triển là nhân tố con người Trong điều kiện tiềm lực tài nguyên con người của đất nước còn nghèo và chưa được khai thác, trình độ văn hóa cũng như tay nghề, và sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật còn thấp; đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật, công nhân lành nghề còn thiếu

và yếu; thiếu cán bộ quản lý nghiệp vụ; Đó là trở ngại lớn trên con đường xây dựng và phát triển đất nước

So với các nước láng giềng, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào còn thiếu lao động có trình độ và lành nghề Đa số lao động là nông dân, tay nghề, trình

độ thấp, năng suất và chất lượng lao động cũng thấp Số công nhân chỉ có 80.000 người (Năm 1995) so với dân số cả nước còn chiếm tỷ trọng rất ít 80% lao động tập trung ở ngành nông nghiệp, khoảng 1,4-1,6% trong ngành công nghiệp- thủ công nghiệp, 2,5% ở ngành thương mại-du lịch Nhưng theo điều tra của Trung tâm thống kê Quốc gia Lào mới đây cho thấy, số lượng lao động vẫn phân tán; 85% dân số sống ở vùng nông thôn, tỷ lệ nữ cao hơn nam khoảng 60.000 người; Công việc chính của số lao động Lào có độ tuổi từ 10 tuổi trở lên: Khoảng hơn 70% làm kinh tế, không làm kinh tế khoảng 28,18%,

tỷ lệ thất nghiệp khoảng 1,72%

Ngoài các tài nguyên đã nêu trên, Lào còn có tài nguyên khoáng sản rất

đa dạng Hiện nay mới có một số khoáng sản được khai thác và sử dụng trong sản xuất công nghiệp luyện kim và hoá chất như: thiếc, thạch cao, than đá thuỷ tinh…Theo kết quả khảo sát gần đây, đất nước Lào có trên 150 điểm

Trang 34

quặng, bao gồm hơn 20 loại khoáng sản Công tác khai thác và sản xuất chế biến của ngành này còn Nhiều khó khăn và hạn chế Nhưng đó là tiềm lực tiềm ẩn của Lào cho sự phát triển trong tương lai.

Công nghiệp khai thác mỏ địa chất đã và đang từng bước được củng cố

và tiến triển dần trong công tác khai thác và chế biến thành phẩm, nhất là ngành khai khoáng Các mỏ thiếc, thành đá, thạch cao, được tăng dần giá trị khai thác

Nhờ đầu tư phục hồi và mở rộng năng lực sản xuất, sản lượng ngành khai thác mỏ tiếp tục tăng, một số mở mới được đưa vào khai thác Tổng sản lượng thiếc được khai thác chiếm tỷ trọng tương đối cao trong xuất khẩu Xuất khẩu thiếc từ 512 tấn năm 1995 lên tới 2592 tấn trong năm 1997 Sản lượng thạch cao tăng lên từ 124 tấn vào năm 1995 và tăng lên 151 tấn vào năm 1997 Nhìn tổng quan ngành khai thác khoáng sản đang có chiều hướng phát triển và có sự tiến bộ trong việc áp dụng khoa học và kỹ thuật tiên tiến vào trong khai thác và chế biến; góp phần tích cực và thúc đẩy các ngành khác phát triển

Trong xu thế phát triển công nghiệp thời kỳ đổi mới, công nghiệp điện

là một lĩnh vực kinh tế quan trọng của Lào Nhờ có hệ thống sông suối, Lào

có tiềm năng rất lớn về nguồn năng lượng Dòng sông ở Lào không chỉ có vai trò quan trong đối với đời sống của nhân dân các bộ tộc Lào cả về vật chất và tình thần, mà còn là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội Theo số liệu của chính phủ Lào và quốc tế, hệ thống nguồn thuỷ điện ở Lào tạo ra nguồn điện năng hơn 20.000 MW; ngoài ra tạo nên những cảnh quan du lịch thiên nhiên kỳ thú

Những vấn đề nêu trên: lao động, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế CHDCND Lào trong giai đoạn mới, nhất là trong xu thế hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực Từ

Trang 35

khi đổi mới, các điều kiện tiền để cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-

xã hội đã và đang được tạo lập

Lịch sử văn hoá Lào được hình thành tử rất lâu đời và đạo phật là quốc đạo Đạo phật có ảnh hưởng lớn nhất đối với nền văn hoá của Lào; có hơn 80% cư dân Lào theo đạo phật Đạo phật đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội ở đất nước Lào; và có ảnh hưởng lớn đến tình cảm và hành vi của con người Lào Người Lào rất chân thành và cởi mở, đồng thời rất khiêm tốn và mến khách

Điểm xuất phát của CHDCND Lào là từ một xã hội thuộc địa, nền kinh

tế về cơ bản là sản xuất nhỏ, còn mang nặng tính chất tự nhiên, tự cấp tự túc CHDCND Lào từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Số dân của Lào không đông, phân bố không đều, một số dân sống bằng phá rừng làm rẫy trên mọi miền đất nước Họ có đời sống không ổn định, hoạt động nông nghiệp chủ yếu dựa vào tự nhiên

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển ODA ở Lào

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước đều bị tàn phá nặng

nề, chỉ có Mỹ không bị thiệt hại gì mà lại còn giàu nhanh chóng nhờ chiến tranh Trước tình hình đó, để cứu vớt các đồng minh Châu Âu, đồng thời nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa mới hình thành, Mỹ đã triển khai kế hoạch Marshall thông qua Ngân hàng thế giới

mà chủ yếu là Ngân hàng Tái thiết phát triển quốc tế thực hiện viện trợ cho Tây Âu với tên gọi là “Hỗ trợ phát triển chính thức” (ODA)

Tiếp theo đó, tại hội nghị Côlômbô năm 1955 đã hình thành ý tưởng và nguyên tắc đầu tiên cho Hợp tác phát triển Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước Tây Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh

tế có sự phối hợp giữa các nước và năm 1961 đã thành lập Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) và Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC)

Trang 36

Uỷ ban hỗ trợ phát triển là một trong những uỷ ban chuyên môn của OECD Uỷ ban này gồm 20 nước thành viên, là diễn đàn để các nước phát triển đưa ra các chủ trương, chính sách cung cấp ODA để định hướng cho OECD Như vậy, các nhà tài trợ đã tập hợp lại thành một cộng đồng nhằm phối hợp các hoạt động chung về hỗ trợ phát triển

Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đòi hỏi các nước phải có

sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ với nhau Trong hơn nửa thế kỷ qua, ODA là cầu nối giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.Viện trợ phát triển kinh tế nảy sinh khi những nước đang phát triển cần nâng cấp cơ sở hạ tầng, phục hồi vết thương chiến tranh để phát triển kinh tế và những nước phát triển có nhu cầu cung cấp viện trợ vì những lợi ích về chính trị, kinh tế

và những vấn đề mang tính toàn cầu khác Bản thân các nước Tây Âu thời kỳ đầu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là những nước nhận viện trợ, sau một thời gian phục hồi, đã trở thành những nước cung cấp viện trợ cho những nước đang phát triển Các nước đang phát triển hầu hết còn rất nghèo và rất cần vốn để phục hồi cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, phát triển kinh tế Chính vì vậy, các nước phát triển đã sử dụng ODA là một trong những công cụ để xác định vị trí ảnh hưởng tại các nước tiếp nhận, đồng thời, để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư

Ngoài ra, ngày nay một số vấn đề quốc tế đang nổi lên như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trường, phòng chống những căn bệnh thế kỷ, giải quyết những xung đột sắc tộc, tôn giáo điều đó đòi hỏi sự nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế cùng chung sức giải quyết, không phân biệt nước giàu hay nước nghèo Lợi ích trong việc giải quyết những vấn đề này là lợi ích chung của cả nhân loại Chinh vì vậy, những nước phát triển, đặc biệt là những nước có chế

độ phúc lợi xã hội cao rất quan tâm tới vấn đề này và dành một phần lớn ODA nhằm giải quyết những vấn đề toàn cầu nói trên

Trang 37

Ở Lào, khái niệm ODA đã trở lên quen thuộc kể từ tháng 11/1995 Với Hội nghị Tư vấn Nhóm các nhà tài trợ (CG Meeting) dành cho Lào lần đầu tiên nhóm họp tại Paris, đã là sự kiện đánh dấu việc thiết lập quan hệ đầy đủ

về hợp tác phát triển giữa Lào và Cộng đồng tài trợ quốc tế Cho đến tháng 12/2004, các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết cung cấp ODA cho Lào 28,87 tỉ USD, trong đó trên 15% là viện trợ không hoàn lại Năm 2006, cam kết ODA đạt mức kỷ lục là 3,44 tỉ USD Các Nhà tài trợ chính là Nhật Bản, WB, ADB chiếm hơn 70% tổng vốn cam kết Ý nghĩa quan trọng của mức cam kết tài trợ ngày càng lớn của cộng đồng các nhà tài trợ là sự khẳng định sự ủng hộ

và tin tưởng mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với những thành công trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở Lào, đặc biệt là những thành tựu trong công cuộc xoá đói giảm nghèo

2.1.3 Sự cần thiết của nguồn vốn ODA đối với Lào

Những đánh giá về thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của Lào trong những năm qua cùng với mục tiêu phát triển kinh tế Lào đến năm 2002 một lần nữa đã khẳng định sự cần thiết của nguồn vốn ODA đối với quá trình phát triển kinh tế ở Lào và những đóng góp tích cực của nó cho nền kinh tế Điều này được thể hiện ở các mặt sau đây:

Thứ nhất, ODA là một nguồn vốn không nhỏ bổ sung cho nền kinh tế

Kể từ năm 1999 đến tháng 8/2006, khối lượng ODA giải ngân đưa vào sử dụng đã lên tới 4,536 tỷ đôla Bên cạnh vai trò là nguồn vốn phát triển, ODA còn giúp trả nợ cũ cân đối ngân sách và đáp ứng nhu cầu đột xuất Chỉ tính riêng số ODA vào qua Ngân sách Nhà nước, tỷ trọng của thu viện trợ không hoàn lại và vay nước ngoài trong tổng chi của Ngân sách Nhà nước các năm như sau: năm 1992: 9,8%, năm 1993 11,3%, năm 1994 5,6% , năm 1995 7%

Từ năm 2002-2004, nhu cầu về vốn ODA là rất lớn để đảm bảo cho mục tiêu phát triển kinh tế của Lào ở mức 5,6% Ta có thể thấy nguồn vốn

Trang 38

ODA đóng vai trò rất quan trọng cho nhu cầu đầu tư và bảo đảm một nhịp

độ tăng trưởng ổn định và bền vững trong tương lai

Thứ hai, ODA sẽ giúp Lào có một cơ sở hạ tầng vững chắc đảm bảo

quá trình phát triển kinh tế

Các vấn đề bức xúc nhất của xã hội như tình trạng nghèo đói, sinh hoạt môi trường sống, các vấn đề về văn hoá xã hội, vần đề sinh đẻ có kế hoạch, bảo vệ môi trường môi sinh, bảo vệ rừng, giải quyết nạn thất nghiệp sẽ được cải thiển rõ rệt khi có sự giúp đỡ, trợ giúp từ bên ngoài không những về nguồn vốn và cả kỹ thuật

Sự cần thiết của nguồn vốn ODA cũng bắt nguồn từ chính mục đích

hỗ trợ của các nước tài trợ đó là giúp đỡ các nước nghèo, các nước chậm phát triển cải thiện được tình trạng kinh tế-xã hội của mình và phát triển kinh tế

Thứ ba, ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công

nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế Lào đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao động Thông qua các dự

án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Lào nâng cao trình

độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nước ngoài, cử các cán bộ đi học ở nước ngoài trong đó có Lào là nước

mà có số lưu học sinh Lào rất lớn, tổ chức các chương trình tham quan học tập kinh nghiệm ở những nước phát triển, cử trực tiếp chuyên gia sang Lào

hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp những thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình, dự án Thông qua những hoạt động này

Trang 39

các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ khoa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Lào và đây mới chính là lợi ích căn bản, lâu dài đối với Lào.

học-Thứ tư, ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Lào thường ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Lào thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước Tất cả những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Lào

Thứ năm, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện

để mở rộng đầu tư phát triển

Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước

đó Do đó, một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng không đủ nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao Một

hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thống các dịch

vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút

Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn và nếu chỉ dựa vào vốn đầu từ

Trang 40

trong nước thì không thể tiến hành được do đó ODA sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng cho ngân sách nhà nước Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu

tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận

Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển, nó còn có tác dụng nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn FDI góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công sự nghiệp phát triển đất nước Lào

Bước vào thời kỳ 5 năm (2001-2005 ), do nhiều yếu tố biến động ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, nguồn vốn ODA của thế giới có xu hướng giảm đáng kể Nhưng trong bối cảnh đó, nguồn ODA mà các nhà tài trợ cam kết dành cho Lào trong 5 năm qua vẫn tăng lên, năm 2004 đạt 396 triệu USD và năm 2005 ước đạt 436 triệu USD Tính chung 5 năm, vốn cam kết đạt 1964 triệu USD

Bảng 2.1 Khối lượng so sánh vốn ODA giải ngân

Đơn vị tính: triệu USD

Ngày đăng: 19/12/2012, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Dowling, J.M. và Hiemenz, U. (2005), “Aid, savings, and growth in the Asian region”, Developing Economies 21(1), 3-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aid, savings, and growth in the Asian region
Tác giả: Dowling, J.M. và Hiemenz, U
Năm: 2005
10.Edwards, S. (2005), “Openness, trade liberalisation, and growth in developing countries”, Journal of Economic Literature 31(3), 1358-1393 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Openness, trade liberalisation, and growth in developing countries
Tác giả: Edwards, S
Năm: 2005
1. Ba năm thu hút và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội (2001 – 2005) / Thông tin tư liệu .- 2003 .- Số 99 .- Tr. 1, 5 Khác
2. Báo cáo tình hình ODA các năm 1999- 2006 của Vụ kinh tế Đối ngoại - Bộ Kế hoạch &amp; Đầu tư Khác
3. Báo cáo tình hình thực hiện dự án ODA năm 2005, ngày 4 tháng 4 năm 2006 Khác
4. Báo cáo tóm tắt kế hoạch sử dụng nguồn vốn ODA thời kỳ 2001 - 2006 của Vụ Kinh tế Đối ngoại - Bộ Kế hoạch và Đầu tư Khác
6. Đánh giá viện trợ khi nào có tác dụng - khi nào không và tại sao - Báo cáo của Ngân hàng Thế giới ngày 18/05/2006 Khác
7. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2000 - 2005 và kế hoạch năm 2005, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước , tháng 12 năm 2005 Khác
9. Dự thảo: Quy hoạch thu hút và sử dụng ODA giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn 2020 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư - 3/2005) Khác
11. Giáo trình Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế quốc dân- Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, 2002) Khác
12.Kinh tế đối ngoại –xu hướng điều chỉnh chính sách ở một số nước châu Á trong bối cảnh toàn cầu hoá và tự do hoá PGS.TS Đỗ Đức Thịnh NXB Thế giới- Hà nội 2003 Khác
13.McCarty, A. (2006), Chief Economist, Mekong Economics, Personal Communication - Conversation, Hanoi, April 23 Khác
14.Nghị định 17/2001/NĐ - CP của Chính phủ về việc ban hành Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức Khác
15. Những điều cần thiết về viện trợ phát triển chính thức (ODA) (Trần Đình Tuấn và Đặng Văn Nhiên - Nhà xuất bản Xây dựng, 1993) Khác
16.Tổng quan Viện trợ phát triển chính thức Lào - Ernst van Koesveld Chuyên viên Kinh tế của Văn phòng UNDP Khác
17.Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa vấn đề &amp; giải pháp. Bộ ngoại giao – vụ hợp tác đa phương NXB Chính trị quốc gia- 2004 Khác
18. World Bank (2005), Viet Nam: Population, Health and Nutrition Sector Review, Report No. 132849-VN, East Asia and Pacific RegionalOffice, Washington, D.C., September Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Yếu tố cho không trong ODA Thời gian - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 1.1 Yếu tố cho không trong ODA Thời gian (Trang 9)
Bảng 1.2: ODA và tỷ lệ ODA/ vốn góp của các nước DAC Các nước - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 1.2 ODA và tỷ lệ ODA/ vốn góp của các nước DAC Các nước (Trang 19)
Bảng 1.3: Phân bổ ODA theo vùng của 10 nhà tài trợ lớn nhất (ĐV %) Vùng Nhật Mỹ Đức Pháp Hà - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 1.3 Phân bổ ODA theo vùng của 10 nhà tài trợ lớn nhất (ĐV %) Vùng Nhật Mỹ Đức Pháp Hà (Trang 20)
Bảng 1.4: Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực của 10 nhà tài trợ lớn - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 1.4 Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực của 10 nhà tài trợ lớn (Trang 21)
Bảng 2.1  Khối lượng so sánh vốn ODA giải ngân - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 2.1 Khối lượng so sánh vốn ODA giải ngân (Trang 40)
Bảng 2.3: Vốn ODA cam kết và giải ngân của Lào giai đoạn 1999-2006 - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 2.3 Vốn ODA cam kết và giải ngân của Lào giai đoạn 1999-2006 (Trang 48)
Bảng 2.4: Cơ cấu theo ngành giá trị các hiệp định ODA ký kết  giai đoạn 1999-2006 - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 2.4 Cơ cấu theo ngành giá trị các hiệp định ODA ký kết giai đoạn 1999-2006 (Trang 49)
Bảng 3.1: Khả năng cam kết của các nhà tài trợ cho GĐ 2006-2010 - Tổng quan về vốn oda đối với các nước đang phát triển
Bảng 3.1 Khả năng cam kết của các nhà tài trợ cho GĐ 2006-2010 (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w