Trêng THCS TrÇn Hµo S¸ng kiÕn kinh nghiÖm GV Vâ §×nh § i PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN PHÚ HOÀ TRƯỜNG THCS TRẦN HÀO TỔ NGỮ VĂN ��¯����¯�� ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGIỆMĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGIỆM TỔ CH[.]
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN PHÚ HOÀ
TRƯỜNG THCS TRẦN HÀO
TỔ NGỮ VĂN
-¯ -ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGIỆM
TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC VĂN
Họ và tên : VÕ ĐÌNH ĐÃI
Tæ chøc th¶o luËn nhãm vµ trß ch¬i trong d¹y häc 1
Trang 2MỤC LỤC
Nội dung Trang
Hoà Quang Nam, tháng 3 năm
2014
I- PHẦN MỞ ĐẦU :………
1 Lí do chọn dề tài ………
2 Mục đích nghiên cứu………
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu………
4 Nhiệm vụ nghiên cứu………
5 Phương pháp nghiên cứu………
6 Nội dung đề tài thực hiện………
II- NỘI DUNG ĐỀ TÀI : ………
Chương I: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu………
1 Cơ sở pháp lí………
2 Cơ sở lí luận………
3 Cơ sở thực tiễn………
Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu………
1 Khái quát phạm vi ………
2 Thực trạng của đề tài nghiên cứu………
3 Nguyên nhân của thực trạng………
Chương III: Biện pháp, giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài…….
1 Cơ sở đề xuất các giải pháp………
2 Các giải pháp chủ yếu………
3 Tổ chức, triển khai thực hiện………
Chương IV: Kết quả của đề tài nghiên cứu ………
III- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………
1 Kết luận………
2 Kiến nghị………
3
3
3
3
3 3 3 4 4 4 4 4 5 5 5 5 5 5 5 6 12
13 13 13
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU
1) Lí do chọn đề tài:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn đề được ngành giáo dục quan tâm Với bộ môn Ngữ văn, việc đổi mới phương pháp dạy học, tạo hứng thú cho học sinh (HS) học tập bộ môn cũng là một vấn đề quan tâm nhiều nhất đối với tất cả các giáo viên (GV) dạy văn Thế nhưng phần lớn HS chưa thực sự say mê, yêu thích học bộ môn này, chưa thực sự thấy hứng thú trong những tiết học văn Từ sự
trăn trở “Làm thế nào để HS hứng thú học môn Ngữ văn ?”, tôi nghiệm ra rằng tổ
chức cho HS thảo luận, cho HS tham gia những trò chơi phù hợp ngay trong những giờ học hoặc giờ ngoại khoá môn Văn sẽ tạo hứng thú, bồi dưỡng lòng say mê học
tập, rèn luyện kĩ năng sống và ý chí vươn lên của các em Do đó tôi chọn đề tài Tổ
chức thảo luận nhóm và trò chơi trong dạy học văn
2) Mục đích nghiên cứu:
a- Mục đích chung: Góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo hứng thú học tập
các bộ môn cho HS trong nhà trường nói chung Giúp HS nắm được những kiến thức chuẩn môn học một cách nhẹ nhàng thông qua những giờ thảo luận và những trò chơi phù hợp
b- Mục đích riêng: Góp phần giải quyết tình trạng lười học, chán học và không biết
cách học môn Ngữ văn của HS trong nhà trường hiện nay Từ đó tạo điều kiện cho
GV hứng khởi hơn trong những giờ dạy văn
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh bậc THCS: HS trường THCS Trần Hào.
b- Phạm vi nghiên cứu: Chương trình Ngữ văn lớp 8 và lớp 9.
4) Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu về phương pháp giảng dạy của các GV bộ môn khác và GV dạy văn trong nhà trường
- Nghiên cứu về tình hình học tập của HS đối với các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng về khả năng nắm bắt kiến thức, hứng thú trong học tập bộ môn
- Nghiên cứu về tâm tư, nguyện vọng và thái độ, sự ham thích của HS trong việc học môn Ngữ văn
- Nghiên cứu về chương trình nội dung kiến thức SGK môn Ngữ văn về chuẩn kiến thức kĩ năng và về các phương pháp giảng dạy HS phù hợp với lứa tuổi
5) Phương pháp nghiên cứu:
Tæ chøc th¶o luËn nhãm vµ trß ch¬i trong d¹y häc 3
Trang 4- Tham khảo tài liệu tham khảo và SGK để tìm ra những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc viết đề tài và áp dụng đề tài vào trong quá trình giảng dạy
- Điều tra khả năng và hứng thú học tập của HS, tìm hiểu kỹ về đối tượng HS
- Dùng phương pháp quan sát thực nghiệm và phân tích nội dung; phương pháp trắc nghiệm khách quan; phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
6) Nội dung đề tài thực hiện:
- Tổ chức cho HS thảo luận nhóm và tham gia các trò chơi trong dạy học văn
II NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1) Cơ sở pháp lí:
- Nghị quyết Hội nghị lần II BCH TW Đảng khoá VIII nêu rõ: Đổi mới phương
pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học; phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Do đó tạo hứng thú cho HS trong học tập là góp phần thực hiện thành
công nhiệm vụ trọng tâm này trong giáo dục
- Sử dụng những phương pháp mới, phương pháp đặc trưng trong hoạt động tự chủ của HS, tạo cho các em sự tự chủ, tích cực, tự giác trong học tập
- Dựa trên cơ sở các tài liệu, SGK, các văn bản của BGD về việc truyền thụ kiến thức chuẩn cho HS phổ thông
2) Cơ sở lý luận:
- Chúng ta đều biết, môn Ngữ văn là môn cơ bản góp phần hình thành nhân cách
HS, đặc biệt đối tượng của môn Văn là những tác phẩm văn thơ, là những kiến thức
về ngôn ngữ Chính vì vậy, để thực hiện một giờ học có hiệu quả, người GV cần phải sử dụng nhiều phương pháp như: phân tích, diễn giảng, vấn đáp, nêu vấn đề, gợi ý,… và đặc biệt, để tạo một giờ học phong phú, sinh động, thì việc sử dụng hình thức thảo luận nhóm sẽ giúp HS trao đổi ý kiến với nhau, bổ sung cho nhau các kiến thức còn thiếu sót, HS sẽ sôi nổi hơn trong học tập Việc lồng ghép một số trò chơi trong quá trình giảng dạy sẽ giúp HS cảm thấy hứng thú, tích cực, sôi nổi hơn, không gây sự nhàm chán trong một tiết học môn Ngữ văn
- Trong nhiều năm làm công tác giảng dạy, tôi nghiệm thấy rằng cái ước muốn
dạy văn sao cho hay, học văn sao cho giỏi, viết văn sao cho tốt là ước muốn của rất
nhiều GV và HS Muốn vậy, người GV chúng ta phải biết làm mới bài giảng của mình để kích thích sự hứng thú của HS trong học tập Với cách tổ chức cho HS thảo luận nhóm và tham gia các trò chơi trong dạy học văn sẽ góp phần tạo hứng thú cho
HS trong học tập, nâng cao chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn trong trường THCS
3) Cơ sở thực tiễn:
Trang 5- Thực tế những năm gần đây cho thấy HS ở vùng nông thôn nói chung và ở trường Trần Hào nói riêng rất yếu môn Ngữ văn, ít ham thích học văn
- Hiện nay, HS từ bậc Tiểu học lên bậc THCS còn có rất nhiều em chưa đọc thông viết thạo Đây là một trở ngại quá lớn khi các em lại phải tiếp tục tìm hiểu, khám phá những kiến thức cao hơn, rộng lớn hơn, trừu tượng hơn Từ đó dẫn đến việc mất dần kiến thức và kỹ năng cơ bản, dẫn đến chán học, không hứng thú học văn
- Hiện nay chương trình vẫn còn những bài dạy dài so với thời lượng từ 45 – 90 phút nghiên cứu trên lớp nên HS lại càng khó tiếp thu kiến thức Chính điều này mà
HS bị hạn chế rất nhiều trong việc tiếp thu và cảm thụ kiến thức Ngữ văn
- Một số GV còn lúng túng trong phương pháp giảng dạy, không biết làm thế nào
để tạo sự hứng thú cho HS trong học tập và nắm bắt được những kiến thức trọng tâm của bài học một cách nhẹ nhàng và sinh động nhất
- Theo điều tra trong từng năm học, số lượng HS ham thích học môn Ngữ văn còn rất ít, khoảng 300/0
- Trên cơ sở đó, việc giúp HS ham thích học môn Ngữ văn, nắm bắt được những kiến thức cơ bản của bài học là một yêu cầu cấp thiết mà mỗi GV trong tổ Ngữ văn chúng tôi cần phải nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo trong giảng dạy để đạt được hiệu quả cao Một trong những đề xuất của bản thân tôi để thực hiện tốt yêu cầu đó là tổ chức cho HS thảo luận nhóm và tham gia các trò chơi trong quá trình học văn
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1) Khái quát phạm vi:
- Các hình thức thảo luận được áp dụng ở HS khối 8, 9 trường THCS Trần Hào
- Phạm vi áp dụng các hình thức trên với phần văn bản, phần luyện tập, ôn tập…
2) Thực trạng của đề tài nghiên cứu:
- Tỉ lệ HS HS học yếu môn Ngữ văn còn nhiều, chậm tiến bộ
- HS lười học, không chịu đầu tư suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài trong giờ học, khâu chuẩn bị bài còn hời hợt
- HS đa phần tiếp thu bài chậm, mất căn bản về môn Ngữ văn, không yêu thích môn học
- Vận dụng kinh nghiệm vào những biện pháp tốt nhất để áp dụng vào đề tài nghiên cứu
- Giúp HS khắc phục được lối học thụ động, không hứng thú trong học tập môn Văn, từ đó dần dần củng cố được những kiến thức cũ và tiếp thu kiến thức mới một cách tự giác
3) Nguyên nhân của thực trạng:
- HS chưa có tính cầu tiến, lơ là trong học tập
- Cách thức giảng dạy của GV chưa thật sự lôi cuốn HS trong học văn
Chương III: BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1) Cơ sở đề xuất các giải pháp:
Tæ chøc th¶o luËn nhãm vµ trß ch¬i trong d¹y häc 5
Trang 6- Giảm tỉ lệ HS yếu kém bộ môn Ngữ văn trong nhà trường.
- Nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng văn hoá của nhà trường nói chung, góp phần nâng cao ý thức học tập của HS trong nhà trường
- Giúp HS có hứng thú, ham thích học môn Ngữ văn
- Tạo cho HS tâm lí thoải mái khi học, mạnh dạn trao đổi ý kiến với bạn bè, thầy
cô, hoà đồng với bạn bè, thầy cô; tạo môi trường thân thiện trong nhà trường
2) Các giải pháp chủ yếu:
- Phân loại đối tượng HS, khả năng tiếp thu kiến thức cũng như trình độ kiến thức của HS
- Gần gũi, quan tâm động viên, khích lệ HS trong học tập
- Nghiên cứu kỹ nội dung bài học để đề ra những tình huống thảo luận, những trò chơi phù hợp với từng bài học
- Dự giờ thăm lớp để nắm kỹ về đối tượng HS và học hỏi những kinh nghiệm về cách tạo hứng thú cho HS trong phương pháp giảng dạy
- Có kế hoạch trao đổi với tổ, với đồng nghiệp để tổ chức những giờ dạy thực nghiệm áp dụng những hình thức thảo luận nhóm và trò chơi trong giờ học hoặc giờ ngoại khoá
3) Tổ chức triển khai thực hiện:
3.1- Hình thức tổ chức thảo luận nhóm:
a) Cách thức tổ chức: Với hình thức thảo luận nhóm thì chúng ta có thể sử dụng
trong tất cảc các tiết dạy, trong tất cả các bài học Còn hình thức tổ chức trò chơi thì chỉ có thể áp dụng ở một số bài cho phù hợp, tuy nhiên để sử dụng trò chơi trong một tiết dạy thì bắt buộc trong đó sẽ có hình thức thảo luận nhóm Khi cho HS thảo luận nhóm thì có rất nhiều cách để chúng ta thực hiện:
+ Viết sẵn câu hỏi ra giấy rồi phát cho mỗi nhóm một tờ
+ Treo bảng phụ có ghi nội dung câu hỏi thảo luận
+ Chỉ cho HS câu hỏi trong sách GK và HS nhìn vào đó để thảo luận
+ Từ một ý kiến thắc mắc của HS về bài học, tổ chức cho các em thảo luận
b) Chuẩn bị của giáo viên:
+ Phiếu học tập, bảng phụ,…chuẩn bị nội dung câu hỏi thảo luận
+ Câu hỏi thảo luận nên chia nhỏ, câu hỏi khó phải có câu hỏi gợi mở
+ Nội dung câu hỏi phải rõ ràng, phù hợp với đối tượng HS
+ Câu hỏi phải phát huy khả năng tư duy, kích thích khả năng sáng tạo cho HS + Các câu hỏi thường chỉ nên xoay quanh nội dung chính của bài học
+ Thời gian thảo luận không quá ngắn HS không kịp định hình, cũng không quá dài ảnh hưởng tới thời gian tiết học
+ Phân nhóm cho HS thảo luận không nên quá ít mà cũng không quá đông
+ HS thảo luận xong, GV gọi ít nhất hai nhóm trả lời, còn lại thu bài về nhà chấm
và sửa hôm sau phát lại ( để tránh mất nhiều thời gian của tiết học )
Trang 7+ Phân công một HS nhanh nhẹn làm trưởng nhóm, một HS ghi nhanh làm thư ký + Việc sử dụng hình thức thảo luận nhóm thì có thể sắp xếp bất kì khoảng thời gian nào trong tiết dạy
c) Chuẩn bị của học sinh:
+ Đọc kĩ các câu hỏi trong phần bài học
+ Ghi ý kiến của bản thân về các câu hỏi cho là khó
+ Mạnh dạn trình bày ý kiến trước lớp
d) Một số ví dụ minh hoạ:
* Khi dạy văn bản Lão Hạc (tiết 14), GV cho HS thảo luận nhóm theo tổ thời gian
3 phút với nội dung: Hình ảnh người nông dân lao động trước Cách mạng tháng
Tám mà em đã học.
* Bài Nhớ rừng của Thế Lữ (tiết 74), GV cũng cho HS thảo luận nhóm theo tổ
khoảng 3 phút, với nội dung: Tại sao bài thơ Nhớ rừng vừa ra đời lại được đông
đảo công chúng say sưa đón nhận.
* Văn bản Hịch Tướng Sĩ của Trần Quốc Tuấn (tiết 94), GV cho HS thảo luận
nhóm theo tổ khoảng 3 phút với nôi dung: Đoạn cuối bài có giá trị động viên tới
mức cao nhất, ý chí quyết tâm chiến đấu của mọi người, em hãy xác định cách triển khai lập luận của tác giả.
* Khi dạy văn bản Chuyện người con gái Nam Xương (tiết 16,17), có thể dùng
một số câu hỏi thảo luận như sau:
- Lời trăn trối của bà mẹ chồng giúp ta hiểu thêm điều gì về nàng Vũ Nương ?
- Theo em, nguyên nhân dẫn đến nỗi oan của Vũ Nương là gì? Em hãy chỉ rõ và
phân tích những nguyên nhân đó ?
- Theo em, có cách nào để kết cục cuộc đời của những con người như Vũ Nương,
Thị Kính không rơi vào bi kịch mà không cần đến mạnh thần bí ?
* Văn bản Đồng chí của Chính Hữu (tiết 46), để thấy rõ nghệ thuật của bài thơ cũng
như sự chuyển ý thơ, ta có thể đặt câu hỏi:
- Câu thơ thứ 7 trong bài thơ có gì đặc biệt ?
* Đối với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt (tiết 56,57), có thể đặt câu hỏi:
- Tại sao tác giả lại viết “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” ? , sau đó dùng câu hỏi gợi mở: Từ “ấp iu” thể hiện hành động như thế nào ?Bếp lửa luôn gắn với hình ảnh
nào trong bài thơ ? Bếp lửa có thể hiện được sự ấp iu không ?
* Khi dạy bài Các phương châm hội thoại (tiết 3), sau khi đọc xong truyện cười
Quả bí khổng lồ, GV đưa ra những câu hỏi sau đây cho HS thảo luận nhóm 4 em:
- Trả lời quả bí to bằng cái nhà có đúng không? Nếu nói cho đúng về quả bí to thì
nên nói như thế nào ?
Tæ chøc th¶o luËn nhãm vµ trß ch¬i trong d¹y häc 7