0 MỤC LỤC SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT LÊ XOAY =====***===== BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến “SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DỰA TRÊN NGHIÊN CỨU TR[.]
Trang 10
MỤC LỤC
SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT LÊ XOAY
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
“SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DỰA TRÊN NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH TRONG GIẢNG DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12”
Tác giả sáng kiến: Hà Thị Nam
Mã sáng kiến: 21.53
Vĩnh Phúc, năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
1 Lời giới thiệu 3
2 Tên sáng kiến: 5
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: 5
5 Mô tả bản chất sáng kiến 5
5.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của sáng kiến 5
5.1.1 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề 5
5.1.2 Dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề dựa trên NCTHĐH trong môn GDCD lớp 12 8
5.2 Vận dụng PPDH nêu và giải quyết vấn đề dựa trên nghiên cứu trường hợp điển hình trong giảng dạy giáo dục công dân lớp 12 11
5.2.1 Xây dựng nội dung trong chương trình GDCD lớp 12 áp dụng PPDH nêu và giải quyết vấn đề dựa trên nghiên cứu trường hợp điển hình 11
5.2.2 Minh họa giáo án thực nghiệm một số nội dung sử dụng PPDH nêu và giải quyết vấn đề dựa trên nghiên cứu trường hợp điển hình trong giảng dạy GDCD lớp 12 20
5.3 Khả năng áp dụng của sáng kiến: 41
6 Những thông tin cần được bảo mật: Không 41
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 41
8 Đánh giá lợi ích thu được khi áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 42
9 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: 48
10 Danh sách các nhân áp dụng thử sáng kiến kinh nghiệm lần đầu: 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3MỘT SỐ TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
- ĐC: Đối chứng
- GDCD: Giáo dục công dân
- GV: Giáo viên
- HS: Học sinh
- NCTHĐH: Nghiên cứu trường hợp điển hình
- PPDH: phương pháp dạy học
- SL: Số lượng
- TL: Tỉ lệ
- TN: Thực nghiệm
- THCVĐ: Tình huống có vấn đề
- THPT: Trung học phổ thông
- THPTQG: Trung học phổ thông quốc gia
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Trong nhà trường trung học phổ thông (THPT), môn Giáo dục công dân (GDCD) là một trong những môn học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Mục tiêu của môn học không chỉ cung cấp những kiến thức về thế giới quan, phương pháp luận; vấn đề đạo đức; kinh tế - chính trị - xã hội và pháp luật mà còn hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống, có cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội và pháp luật của nhà nước Từ đó xây dựng thái độ ủng hộ cái đẹp, cái tiến bộ đồng thời lên
án cái xấu, cái lạc hậu; tin tưởng vào chủ trương đường lối của Đảng, tôn trọng pháp luật của nhà nước… Môn GDCD lớp 12 là một phần trong chương trình đó với nội dung chủ yếu là giáo dục, phổ biến kiến thức về pháp luật Có thể nói, đây là vấn đề hết sức quan trọng và rất thiết thực cần được giáo dục cho học sinh đặc biệt trong bối cảnh xã hội đang phát triển về mọi mặt, trong xu thế toàn cầu hóa và thời đại cách mạng 4.0 Bởi trong bối cảnh hiện nay, thiếu hiểu biết về pháp luật sẽ là trở ngại lớn trong công việc cũng như trong cuộc sống của mỗi người đặc biệt là học sinh - thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước
Nhận thức rõ điều này, từ nhiều năm nay trong công tác giáo dục luôn đề cao vai trò của việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua dạy học tích hợp liên môn, qua các buổi ngoại khóa về pháp luật do đó việc tìm hiểu về pháp luật còn có nhiều hạn chế Qua các hoạt động này học sinh chỉ nắm được vấn đề một cách chung chung, thiếu hiểu biết rõ ràng dẫn đến hành vi ứng xử đôi khi thiếu phù hợp, có hành vi phạm pháp luật và thậm chí trở thành tội phạm Hạn chế này sẽ được khắc phục phần nào khi các em được tiếp cận với chương trình GDCD lớp 12 với toàn bộ nội dung chương trình là các vấn đề pháp luật Những kiến thức pháp luật ở lớp 12, sẽ giúp các em có những hiểu biết cụ thể và sâu sắc hơn về một số vấn đề pháp luật cũng như một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong một số lĩnh vực; vai trò của pháp luật trong quản lí xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân và đất nước… Tuy nhiên, khi học tập về pháp luật học sinh thường có cảm thấy khô khan, cứng nhắc, giáo điều; nhiều bài học trong chương trình với nội dung luật cụ thể tương đối khó, phức tạp và khá dài Đồng thời, đa số học sinh vẫn luôn quan niệm môn GDCD là
“môn phụ” do không thi đại học, tốt nghiệp (đối với tất cả học sinh trước năm
2017 và đối với học sinh thi ban Khoa học tự nhiên sau năm 2017) nên có phần thờ ơ, thiếu quan tâm đến bài học dù những kiến thức bài học cung cấp rất thiết thực và bổ ích cho các em Tất cả những điều này khiến học sinh không hứng thú với bài học dẫn đến chất lượng và hiệu quả học tập bộ môn còn chưa cao, chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu môn học đề ra.Với tư cách là một người giảng dạy bộ môn, bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra giải pháp khắc phục những mặt hạn chế trên nhằm đem đến thái độ tích cực cũng như nâng cao chất
Trang 5lượng, hiệu quả học tập bộ môn Năm 2017, môn GDCD được quy định là môn thi xét tốt nghiệp trong kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia (THPTQG) đối với các học sinh thi Tổ hợp khoa học xã hội do đó việc xây dựng hứng thú học tập, khắc sâu kiến thức và nâng cao kết quả học tập cũng như kết quả thi THPTQG cho học sinh là việc làm hết sức cần thiết Vì vậy, việc tìm tòi một giải pháp dạy học đáp ứng yêu cầu trên luôn làm tôi quan tâm, trăn trở trong suốt quá trình dạy học, giáo dục học sinh nói chung và khi giảng dạy GDCD lớp 12 cho học sinh nói riêng bởi nội dung pháp luật chiếm tỉ lệ lớn trong đề thi Trung học phổ thông quốc gia
Thực tế nhiều năm qua, tôi đã tiến hành dạy học với nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, tôi nhận thấy khi kết hợp phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề dựa trên nghiên cứu các trường hợp điển hình luôn gây được hứng thú học tập đối với học sinh đặc biệt khi giảng dạy về phần pháp luật ở lớp
12 Sở dĩ vậy là bởi đặc trưng của phương pháp nêu và giải quyết vấn đề đó là khơi dậy sự tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề từ những tình huống có vấn
đề trong khi các tình huống đó lại là các trường hợp điển hình (những tình huống có thật trong thực tế hoặc mô phỏng từ thực tế) thì sức hấp dẫn của vấn
đề với học sinh sẽ rất cao Các em sẽ cảm thấy bài học không còn quá khô khan, cứng nhắc mà trái lại rất gần gũi, sinh động và có ý nghĩa thiết thực cho bản thân Trong quá trình dạy học và tìm tòi các phương pháp dạy học bộ môn có khá nhiều đề tài khoa học, luận văn, sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học có chung quan điểm dạy học dựa trên nghiên cứu trường hợp điển hình, tiêu biểu như: Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12” của tác giả Phạm Thị Dinh trường Trung học phổ thông Sông Ray, tỉnh Đồng Nai; Luận văn thạc sĩ “ Vận dụng PP nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Lương Tài, Bắc Ninh ” của Nguyễn Thị Mai; Luận văn thạc sĩ “Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh
Hà Giang” của Hoàng Thị Thanh… Nhìn chung, các đề tài này đều có nội dung khẳng định vai trò tích cực của việc dạy học nghiên cứu trường hợp điển hình (NCTHĐH) trong môn GDCD đặc biệt với chương trình GDCD lớp 12 Các đề tài cũng chỉ rõ những ưu điểm nội trội của cách dạy học này thông qua các kết quả từ các nghiên cứu, thực nghiệm khi thực hiện đề tài Tuy nhiên, tôi nhận thấy các đề tài trên cũng có phần hạn chế như: hầu hết các đề tài chỉ đề cập đến dạy học NCTHĐH một cách đơn thuần hoặc gắn với PPDH vấn đáp hay những tình huống thông thường mà chưa có sự kết hợp hiệu quả với PPDH tích cực cụ thể Mặt khác, các đề tài này cũng chưa xây dựng được khung chương trình với các chủ đề hay các nội dung cụ thể trong bộ môn có thể áp dụng
Với mong muốn nâng cao hứng thú học tập, khắc sâu kiến thức và hiệu quả học tập đồng thời góp phần mở rộng, khắc phục phần nào những tồn tại của các
đề tài đã có tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sử dụng phương pháp dạy học nêu và
Trang 6giải quyết vấn đề dựa trên nghiên cứu trường hợp điển hình trong giảng dạy giáo dục công dân lớp 12”
2 Tên sáng kiến:
Sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề dựa trên nghiên cứu
trường hợp điển hình trong giảng dạy giáo dục công dân lớp 12
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Giảng dạy nâng cao hứng thú, hiệu quả học môn GDCD lớp 12 cho học sinh
4 Ngày sáng kiến được áp dụng thử: Tháng 9 năm 2018
5 Mô tả bản chất sáng kiến
5.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của sáng kiến
5.1.1 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
5.1.1.1 Khái niệm, đặc trưng và các mức độ của PPDH nêu và giải quyết vấn đề
* Khái niệm:
Phương pháp dạy học (PPDH) nêu và giải quyết vấn đề, là một trong những PPDH được nhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu quan tâm trong hoạt động dạy học vì vậy có khá nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học về PPDH này Theo V.O.Kôn: “Dạy học nêu vấn đề là toàn bộ các hoạt động như tính chất, tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ý giúp đỡ sinh viên những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết và cuối cùng là quá trình hệ thống hóa, củng cố các kiến thức tiếp thu”[3] Nhà giáo dục I.Ia.Lecce thì cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó sinh viên tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu trong chương trình”[5] Theo quan điểm của Nhà giáo Phùng Văn Bộ, ông cho rằng: “Phương pháp nêu vấn đề là phương pháp dạy học dựa trên sự điều khiển quá trình học tập, phát huy tính độc lập tư duy nhận thức của đối tượng người học.”[3] Từ những cách hiểu trên, ta có thể hiểu phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo
để giải quyết vấn đề, thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập Mục đích của PPDH nêu và giải quyết vấn đề hướng đến là người học tự tiếp cận và giải quyết các tình huống có vấn đề, rèn luyện cho học sinh kỹ năng biết tranh luận để hình thành tư duy linh hoạt và năng lực tự giải quyết vấn đề
* Đặc trưng của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề:
- Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề là "tình huống có vấn đề " được giáo viên sử dụng trong hoạt động dạy học thông qua đó học sinh có thể thực hiện được các nhiệm vụ học tập của bản thân một cách tích cực, chủ động và sáng tạo
Tình huống có vấn đề (THCVĐ) là một tình huống gợi ra cho học sinh những
khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không thể giải đáp ngay bằng một bước hay một cách thức nào đó mà phải trải
Trang 7qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có Tình huống có vấn đề là có vai trò đặc biệt quan trọng, là cốt lõi, trọng tâm trong phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề, vai trò này được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, tình huống có vấn đề có thể là một sự kiện, một tình huống trong bài học hay một hiện tượng đã và đang diễn ra trong thực tiễn cuộc sống chứa đựng mâu thuẫn cần lý giải THCVĐ là tình huống giáo viên đặt ra cho người học những vấn đề nhận thức chứa đựng mâu thuẫn giữa tri thức đã biết với tri thức phải tìm Đây là động lực, nhân tố kích thích xuất hiện ở người học nhu cầu tìm kiếm thông tin và sử dụng các thao tác của tư duy để tìm câu trả lời giải quyết mâu thuẫn Mâu thuẫn này chính là hạt nhân của các vấn đề nhận thức, khi mâu thuẫn được giải quyết người học sẽ lĩnh hội được nội dung tri thức một cách tự giác, tích cực và khơi nguồn cho sự nhận thức sáng tạo do đó THCVĐ
đề là yếu tố là hạt nhân và trọng tâm của PPDH nêu và giải quyết vấn đề
Thứ hai, khi tiếp cận với THCVĐ người học tự tìm kiếm thông tin để giải quyết vấn đề dưới sự dẫn dắt, định hướng của người thầy Nhiệm vụ giải quyết các THCVĐ không phải của người dạy mà là của người học Quá trình người học tự giải quyết THCVĐ được biểu hiện bằng các thao tác tìm kiếm mối quan
hệ giữa vấn đề được nêu ra với vốn tri thức đang sở hữu của bản thân Do đó, các THCVĐ cần xây dựng đảm bảo tính vừa sức với học sinh tránh những THCVĐ đang đặt ra quá khó hoặc quá dễ dàng Khi THCVĐ đưa ra khó quá sẽ vượt quá khả năng nhận thức của học sinh khiến các em rất khó khăn để giải quyết vấn đề Ngược lại, với THCVĐ quá dễ hoặc ngay từ đầu giáo viên đã đưa
ra những gợi mở hoặc can thiệp quá sâu vào THCVĐ sẽ không tạo nên mâu thuẫn đòi hỏi học sinh phải nỗ lực, tích cực và sáng tạo để giải quyết vấn đề làm triệt tiêu ý nghĩa và tính chất của tình huống đặt ra
* Các mức độ của PPDH nêu và giải quyết vấn đề:
Dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề có bốn mức độ khác nhau, tùy vào từng nội dung, mục đích cũng như điều kiện thức tế giáo viên có những lựa chọn mức độ phù hợp nhằm đem lại hiệu quả tối ưu khi áp dụng Các mức độ của dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề được thể hiện qua bốn mức độ:
- Mức độ 1: Giáo viên là người đặt vấn đề, đưa ra cách giải quyết; học sinh thực hiện giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên; giáo viên đánh giá, kết luận
- Mức độ 2: Giáo viên là người nêu vấn đề, gợi ý cách giải quyết; học sinh thực hiện giải quyết vấn đề giáo viên giúp đỡ khi cần; giáo viên và học sinh cùng đánh giá, kết luận
- Mức độ 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống; học sinh phát hiện, nhận dạng, phát biểu vấn đề nảy sinh cần giải quyết; học sinh tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn các giải pháp; học sinh thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề; giáo viên và học sinh cùng đánh giá, kết luận
Trang 8- Mức độ 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng; Học sinh lựa chọn vấn đề giải quyết; học sinh tự đề xuất ra giả thuyết, xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề; học sinh thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề; học sinh tự đánh giá chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết vấn đề
Trong thực tế giảng dạy học, giáo viên thường sử dụng PPDH nêu vấn đề ở mức độ 1 và 2 còn mức độ 3, 4 ít sử dụng bởi các mức độ này yêu cầu cao đối với học sinh ngay từ khâu đầu tiên Tuy nhiên, trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh nên khuyến khích giáo viên dạy học ở các mức
độ 3 và 4 nhằm phát huy được các năng lực, phẩm chất và kỹ năng cho học sinh một cách tốt nhất
5.1.1.2 Ưu điểm và quy trình dạy học theo phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề:
* Ưu điểm nổi bật của PPDH nêu và giải quyết vấn đề là:
- Góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho học sinh Phát huy được khả năng vận dụng kiến thức đã biết của học sinh trong việc giải quyết các vấn đề nhận thức Từ việc sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có học sinh sẽ xem xét, đánh giá, phát hiện và giải quyết vấn đề
- Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất
- Thông qua việc giải quyết vấn đề, học sinh được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức Lúc này "giải quyết vấn đề" không còn chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thành một mục tiêu là phát triển năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị trí hàng đầu của con người để thích ứng với sự phát triển của xã hội
Với những ưu điểm nổi trội trên, PPDH nêu và giải quyết vấn đề trong nhiều năm nay luôn được đánh giá là một phương pháp dạy học tích cực, được sử dụng khá phổ biến trong hoạt động dạy học Đặc biệt, trong quá trình đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học việc sử dụng phương pháp này là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, tính tích cực, sáng tạo và chủ động của học sinh
- Bước 1: Xây dựng tình huống có vấn đề
+ Đây là bước quan trọng quyết định toàn bộ quá trình tổ chức hoạt động dạy học Nhiệm vụ của giai đoạn này là kích thích não bộ người học hoạt động có mục đích, tạo cho người học trạng thái tâm lý hưng phấn, xuất hiện nhu cầu nhận thức và thái độ sẵn sàng khám phá tri thức mới Khi tạo ra được mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết, người thầy cần đưa mâu thuẫn này vào quá trình nhận thức của học sinh để họ thấy được sự tồn tại hiển nhiên của mâu thuẫn trong vấn đề nhận thức
Trang 9- Bước 2: Nêu vấn đề (còn gọi là phát hiện vấn đề)
+ Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề
+ Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó
- Bước 3: Tìm giải pháp
+ Học sinh căn cứ vào vấn đề được phát hiện từ tình huống với các dữ kiện có
trong tình huống cũng như kiến thức, kinh nghiệm đã có để tìm tòi, lựa chọn giải pháp hợp lí nhất nhằm giải quyết vấn đề đã đặt ra
- Bước 4: Trình bày và nghiên cứu sâu giải pháp
+ Học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp và hiện thực hóa việc giải quyết vấn đề bằng giải pháp mình đã đưa ra Tuy nhiên, nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phải phát biểu lại vấn đề + Sau khi học sinh trình bày và hiện thực hóa giải pháp giáo viên tiến hành hệ thống hóa và tổng hợp tri thức - đây là giai đoạn cuối của quy trình sử dụng PPDH nêu và giải quyết vấn đề Mục đích của giai đoạn này là củng cố, khắc sâu những tri thức khoa học mà người học đã chiếm lĩnh được Đồng thời, hướng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống, lý giải được các vấn đề xẩy ra trong thực tiễn; có thể, tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả và đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hoá, lật ngược vấn đề…
5.1.2 Dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề dựa trên NCTHĐH trong môn GDCD lớp 12
5.1.2.1 Đặc trưng và ưu điểm và quy trình của dạy học dựa trên NCTHĐH
* Đặc trưng của dạy học NCTHĐH:
Theo các nhà giáo dục học có thể hiểu dạy học NCTHĐH là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một
số vấn đề nào đó Đôi khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên văn bản viết Những tình huống đó chứa đựng vấn đề cần giải quyết và để giải quyết các vấn đề đó đòi hỏi có những quyết định dựa trên cơ sở lập luận Các trường hợp cần được
xử lý về mặt lý luận dạy học Bên cạnh việc mô tả trường hợp (mô tả sự kiện) cần có sự lý giải, phân tích về mặt lý luận dạy học, dưới dạng những định hướng, trợ giúp cho việc dạy và học phù hợp với mục đích đặt ra
Dạy học nghiên cứu trường hợp điển hình là cách làm xuất hiện khá sớm trong lịch sử giáo dục Dạy học nghiên cứu trường hợp điển hình (còn gọi là điển cứu) được sử dụng sớm nhất tại châu Âu, đặc biệt là tại Pháp Tại Mỹ, phương pháp này gắn với Bộ môn Xã hội học của Trường Đại học Chicago từ đầu thế kỷ 20 đến khoảng năm 1935 Dạy học theo cách này được sử dụng rất phổ biến trong các ngành giáo dục học, xã hội học, quản trị học, luật học, và y học Xét về góc độ cách thức, có thể coi dạy học NCTHĐH là một phương pháp dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh tự lực nghiên cứu một tình huốngthực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra, hình
Trang 10thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm Dạy học NCTHĐH có những đặc trưng sau:
- Trường hợp được sử dụng thường được rút ra từ thực tiễn dạy học hoặc phản ánh một tình huống thực tiễn dạy học
- Mục đích của dạy học NCTHĐH không chỉ là việc truyền thụ tri thức lý thuyết mà còn đề cao việc vận dụng tri thức vào việc giải quyết vấn đề trong những tình huống cụ thể
- Học sinh được đặt trước những tình huống cần quyết định, họ cần xây dựng các phương án giải quyết vấn đề cũng như đánh giá các phương án từ đó quyết định một phương án giải quyết vấn đề
- Học sinh cần xác định những phương hướng hành động có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra quyết định
* Ưu điểm của dạy học NCTHĐH:
- Một trong những ưu điểm nổi bật của dạy học NCTHĐH là tạo điều kiện phát triển các năng lực then chốt chung như năng lực quyết định, năng lực giải quyết vấn đề, tư duy hệ thống, tính sáng tạo, khả năng giao tiếp và cộng tác làm việc Cần phân biệt việc sử dụng các trường hợp làm ví dụ minh hoạ cho giờ học thuyết trình không phải là phương pháp NCTHĐH, mà chỉ là ví dụ minh hoạ Dạy học NCTHĐH cần bao gồm việc tự lực giải quyết vấn đề và góp phần phát triển tư duy tích cực - sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, cách dạy học này cũng không loại trừ những mặt hạn chế nhất định như: đòi hỏi nhiều thời gian, thích hợp cho việc vận dụng không thích hợp với việc truyền thụ tri thức mới một cách hệ thống Đòi hỏi cao đối với giáo viên, lúc này nhiệm vụ truyền thụ tri thức của giáo viên là thứ yếu mà nhiệm vụ chính của họ là điều phối và tổ chức quá trình học tập Đồng thời đòi hỏi cao đối người học cần biết vận dụng tri thức một cách tự lực trong việc giải quyết các vấn đề đặt ra
* Quy trình dạy học NCTHĐH:
Thông thường dạy học NCTHĐH dược tiến hành theo các bước sau:
- Nhận biết trường hợp (tiếp cận vấn đề): Học sinh có thể nghe, đọc, xem về trường hợp điển hình sau đó xác định vấn đề đặt ra của trường hợp (có sự dẫn dắt của giáo viên)
- Thu thập thông tin: Học sinh thu thập thông tin về các trường hợp từ các tài liệu có sẵn và tự tìm Học cách tự lực tìm kiếm thông tin, hệ thống hóa và đánh giá thông tin
- Nghiên cứu, tìm tòi và quyết định giải pháp:
+ Tìm các phương án giải quyết và thảo luận (tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát, điều tra) Đối chiếu và đánh giá các phương án giải quyết trên cơ sở các tiêu chuẩn đánh giá đã được lập luận từ đó quyết định phương án
- Trình bày giải pháp (bảo vệ) và mở rộng vấn đề (so sánh các giải pháp): + Các nhóm trình bày giải pháp của mình với những luận cứ rõ ràng dựa trên những tài liệu đã được thu thập và phân tích kĩ lưỡng Đồng thời so sánh các giải pháp của nhóm với các quyết định trong thực tế những mặt tích cực và hạn chế