TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN ĐỀ BÀI Câu 1 Chứng minh chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Mã sinh viên : 11193158
Hà Nội, tháng 10, 2019
Trang 2Lời nói đầu
Chủ nghĩa duy vật đưa ra khái niệm về vật chất trên các phạm trù vàquan điểm khác nhau qua từng giai đoạn phát triển của lịch sử Trên các cơ
sở đó ta tìm ra được định nghĩa đúng nhất về khái niệm ”vật chất là gì?”.Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một hạt nhân lý luận Triết học của Khoahọc Mac-Lenin đã làm rõ điều đó Nó là hình thức phát triển cao nhất củachủ nghĩa duy vật, là hệ thống quan điểm lý luận được xác lập dựa trên cơ
sở giải quyết theo quan điểm duy vật biện chứng với các vấn đề cơ bản củaTriết học Vì vậy, những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng
là điều kiện tiên quyết để nghiên cứu toàn bộ hệ thống khoa học của chủnghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa duy vật lịch sử dưới quan điểm khoa học của chủ nghĩaMác - Lênin đã chỉ ra những quy luật phản ánh hoạt động thực tiễn của conngười, động lực phát triển của xã hội Tìm hiểu để thấy rõ hơn mối quan hệgiữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, liên hệ đến cách mạng công
nghệ 4.0
Trang 3Mục lục
I Chứng minh chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển caonhất của chủ nghĩa duy vật 3
1 Sơ lược về chủ nghĩa duy vật 3
2 Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủnghĩa duy vật 6
II Mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong cách mạngcông nghiệp 4.0 13 1.Lý luận chung 13
2 Liên hệ mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trongcách mạng công nghiệp 4.0 17
Trang 4I Chứng minh chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật.
1 Sơ lược về chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật, bên cạnh chủ nghĩa duy tâm là một trong hai trườngphái lớn trong lịch sử Trong đó học thuyết của các nhà triết học theotrường phái này được xây dựng trên lập trường duy vật để giải quyết mặtthứ nhất vấn đề cơ bản của Triết học: "Giữa vật chất và ý thức thì cái nào cótrước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?" Theo đó, những nhàtriết học duy vật cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyếtđịnh ý thức của con người Họ giải thích mọi hiện tượng của thế giới nàybằng các nguyên nhân vật chất - nguyên nhân tận cùng của mọi vận độngtrên thế giới này là nguyên nhân vật chất
Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được thể hiện dưới ban hình thức cơbản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩaduy vật biện chứng
1.1 Chủ nghĩa duy vật chất phác
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết họcduy vật thời Cổ đại, đặc biệt là ở Hy Lạp - La Mã, Trung Quốc, Ấn Độ Chủnghĩa duy vật thời kì này thừa nhận tính thứ nhất của vật chất nhưng đồngnhất vật chất với một hay một số chất cụ thể của vật chất và xem chúng làkhởi nguyên của thế giới Các nhà triết học duy vật chất phác cho rằng, vậtchất là nguyên tử Nguyên tử theo họ là những hạt nhỏ nhất, không thểphân chia, không khác nhau về chất, tồn tại vĩnh viễn và sự phong phú củachúng về hình dạng, tư thế, trật tự sắp xếp quy định tính muôn vẻ của vạnvật Theo Thuyết nguyên tử thì vật chất theo nghĩa bao quát nhất, chungnhất không đồng nghĩa với những vật thể mà con người có thể cảm nhậnđược một cách trực tiếp, mà là một lớp các phân tử hữu hình rộng rãi nằmsâu trong mỗi sự vật, hiện tượng
Có thể thấy điểm tích cực của chủ nghĩa duy vật chất phác là đã lấy bảnthân giới tự nhiên để giải thích thế giới, không viện đến Thần linh, Thượng
đế hay các hiện tượng siêu nhiên Tuy nhiên hạn chế do trình độ nhận thứcthời đại về vật chất và cấu trúc vật chất, chủ nghĩa duy vật chất phác đãđưa ra những lí giải mang nặng tính trực quan dẫn đến những kết luận ngây
Trang 5thơ, chất phác về thế giới cơ bản Điển hình cho chủ nghĩa duy vật thời kì
Cổ đại là những quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit
1.2 Chủ nghĩa duy vật siêu hình
Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai trong lịch sửchủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỉ XV đến thế kỉXVIII và điển hình là vào thế kỉ thứ XVII, XVIII Đây là thời kì mà cơ học cổđiển đạt được những thành tựu rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triểnquan điểm của chủ nghĩa duy vật thời Cổ đại Chủ nghĩa duy vật giai đoạnnày chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, cơ giới -phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạonên thế giới đó về cơ bản là ở trong trạng thái biệt lập và tĩnh tại Thuyếtnguyên tử vẫn được các nhà triết học duy vật siêu hình tiếp tục nghiên cứu,khẳng định Việc khoa học vật lý chứng minh được sự tồn tại thực sự củanguyên tử làm cho thuyết nguyên tử càng được củng cố
Song do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên các nhàtriết học duy vật thời kì này đã không đưa ra được những khái niệm kháiquát triết học đúng đắn Họ thường đồng nhất vật chất với khối lượng, coinhững định luật cơ học như những chân lý không thể thêm bớt và giải thíchmọi hiện tượng thế giới theo những chuẩn mực thuần túy cơ học, xem vậtchất, vận động, không gian, thời gian như những thực thể khác nhau, không
có mối liên hệ nội tại với nhau,… Một số nhà triết học thời kì này cố gắngvạch ra những sai lầm của thuyết nguyên tử, nhưng không nhiều và khôngthể làm thay đổi căn bản cái nhìn cơ học về thế giới, không đủ đưa đến mộtđịnh nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù vật chất
Tuy không phản ánh đúng hiện thực trong toàn cục nhưng chủ nghĩaduy vật siêu hình đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy lùi thế giới quan duytâm và tôn giáo, đặc biệt là ở thời kì chuyển tiếp từ đêm trường Trung cổsang thời Phục hưng
1.3 Cuộc cách mạng khoa học tự nhiên cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX
Từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là liên tiếp những phát hiện vĩđại chứng tỏ rằng, nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất mà có thể bịphân chia, chuyển hóa thành trường, năng lượng, phi vật chất hay có thể
"biến mất"; thời gian, không gian, khối lượng luôn biến đổi cùng với sự vậnđộng của vật chất Thế giới vật chất không và không thể có những vật thể
Trang 6không có kết cấu, tức là không thể có đơn vị cuối cùng, tuyệt đối đơn giản
và bất biến để đặc trưng chung cho vật chất Điều này khẳng định dự đoánthiên tài của Lênin: "Điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử tự nhiên là
vô tận" là hoàn toàn đúng đắn
Đứng trước việc này, nhiều nhà khoa học, triết học duy vật siêu hình,
tự phát đã hoang mang, nghi ngờ tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật.E.Makhơ phủ nhận tính hiện thực khách quan của điện tử Ốtvan phủ nhận
sự tồn tại thực tế của nguyên tử và phân tử Piếcsơn định nghĩa: "Vật chất
là cái phi vật chất đang vận động" Không ít nhà khoa học tự nhiên trượt từchủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình sang chủ nghĩa tương đối, rồi rơi vàochủ nghĩa duy tâm Lênin gọi đây là "chủ nghĩa duy tâm vật lý học" và coi đónhư "một bước ngoặt nhất thời" Để khắc phục cuộc khủng hoảng này,Lênin cho rằng: “Tinh thần duy vật cơ bản của vật lý học, cũng như của tất
cả các khoa học tự nhiên hiện đại sẽ chiến thắng tất cả mọi thứ khủnghoảng nhưng điều kiện tất yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng phải thaythế chủ nghĩa duy vật siêu hình”
1.4 Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩaduy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỉXIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các họcthuyết triết học trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa họcđương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắcphục được tính chất trực quan, siêu hình của chủ nghĩa duy vật chất phácthời cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình
Đặc biệt, C.Mác và Ph Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩaduy tâm, thuyết bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình đã đưa
ra những tư tưởng hết sức quan trọng về vật chất Theo Ăngghen, để cóquan niệm đúng đắn về vật chất cần có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất
và tính cách là một phạm trù của Triết học, tức vật chất là tính cách của vậtchất không có sự tồn tại cảm tính Bên cạnh đó Ăngghen cũng khẳng địnhbản thân phạm trù vật chất cũng không phải sáng tạo tùy tiện của tư duycon người, mà ngược lại, là kết quả của “con đường trừu tượng hóa” của tưduy con người về các sự vật, hiện tượng "có thể cảm biết được bằng giácquan" Ông còn chỉ rõ các sự vật, hiện tượng trên thế giới vật chất dù
Trang 7phong phú, muôn vẻ nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất
đó là tính vật chất - tính tồn tại, độc lập không lệ thuộc vào ý thức
Kế thừa tư tưởng đó, V.I Lenin đã tiến hành tổng kết toàn diện nhữngthành thành tựu mới nhất của khoa học, đấu tranh chống biểu hiện của chủnghĩa hoài nghi, qua đó bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng
về phạm trù nền tảng này của chủ nghĩa duy vật Để đưa ra một quan niệmthực sự khoa học về vật chất, Lênin dùng một phương pháp đặc biệt - địnhnghĩa nó qua khái niệm đối lập với nó trên phương diện nhận thức luận cơbản, tức là định nghĩa vật chất thông qua ý thức, chỉ ra rõ ràng cái nào là cótrước
Trên phương diện đó, Lenin đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất
như sau: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác."
2 Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủnghĩa duy vật
2.1 Quan niệm về vật chất
Vật chất là một phạm trù nền tảng của chủ nghĩa duy vật triết học.Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, xung quanh vấn đề này luôn diễn ra cuộcđấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm Bản thân chủ nghĩa duy vật cũng trải qua lịch sử phát triển lâu dài gắnliền với những tiến bộ khoa học và thực tiễn
a Các hình thức tồn tại của vật chất
Vận động theo nghĩa chung nhất là mọi sự biến đổi nói chung.Ph.Ăngghen viết: “ Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là phương thứctồn tại của vật chất, thuộc tính cố hữu của vật chất, bao gồm tất cả mọi sựthay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể cả sự thay đổi vị trí đơngiản cho đến tư duy” Vận động theo Ăngghen đã chia thành năm hình thức
cơ bản: cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội
Các nhà triết học duy vật thế kỷ XVII, XVIII do quan niệm siêu hình nên
đã quy vận động thành một hình thức duy nhất là vận động cơ học, coi hoạtđộng của giới tự nhiên như một cỗ máy Quan niệm sai lầm chủ nghĩa cơgiới là nguyên nhân bế tắc trong việc lý giải những biến đổi của thế giới sinh
Trang 8vật và xã hội Còn các nhà triết học thế kỷ XIX lại quy vận động xã hội thànhvận động sinh học, coi con người là một sinh vật thuần túy và cho rằng sựtồn tại phát triển của xã hội là quá trình chọn lọc tự nhiên Rõ ràng khôngthể dán nhãn hiệu “sinh vật hóa” lên những hiện tượng xã hội như kinh tế,cách mạng xã hội, đấu tranh giai cấp…
Dựa trên nghiên cứu phương pháp luận quan trọng, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng có quan niệm đúng đắn về vận động Vận động có thể tồn tại ở
cả dạng đứng im, duy trì sự tồn tại ổn định của một sự vật hiện tượng.Ăngghen viết: “Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng,vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt” Quan niệm của chủnghĩa duy vật biện chứng về vận động đòi hỏi phải quán triệt quan điểmvận động vào nhận thức và thực tiễn, phải đòi hỏi xem xét, đánh giá sự vật,hiện tượng trong quá trình vận động, khi tiến hành cải tạo sự vật, hiệntượng phải thông qua những hình thức vận động vốn có, đặc trưng củachúng Nhận thức các hình thức vận động của vật chất thực chất là nhậnthức bản thân thế giới vật chất
b Quan niệm về không gian, thời gian
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định tính khách quan của khônggian và thời gian, xem không gian và thời gian như hình thức của vận độngvật chất Không gian là hình thức tồn tại vật chất xét về mặt quảng tính, sựcùng tồn tại, kết cấu và sự tác động lẫn nhau Thời gian là hình thức tồn tạivật chất xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của quá trình Sự phát triểncủa khoa học và định nghĩa duy vật biện chứng đã bác bỏ quan niệm sai lầmcủa Niutơn về một không gian, thời gian thuần túy, đồng nhất Đặc biệtthuyết tương đối của Anhxtanh đã chứng minh rằng không gian, thời gian
có tính khả biến, phụ thuộc vào tốc độ, khối lượng, trường hấp dẫn của đốitượng… Do vậy vật chất vận động không phải “thùng rỗng” bên trong chứavật chất như quan niệm máy móc của chủ nghĩa siêu hình
Trang 9khách quan; tự nhiên và xã hội, … Cũng theo đó mà hình thành các trườngphái đối lập trong việc giải quyết vấn đề này.
Các nhà triết học duy tâm tìm nguồn gốc, bản chất thế giới ở “ý niệmtuyệt đối” hoặc ở ý thức con người Ngược lại, các nhà chủ nghĩa duy vậttrước Mác lại có khuynh hướng chung tìm bản chất, nguồn gốc thế giớingay trong bản thân nó Nhưng do ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu hình, máymóc nên họ cho rằng mọi hiện tượng của thế giới được tạo thành từ nhữngvật thể ban đầu giống nhau, thống nhất và cùng bị chi phối bởi quy luậtnhất định Quan điểm ấy không phản ánh được tính muôn màu vạn trạngcũng như tính vô tận của thế giới
Bằng việc phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển củakhoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng bản chất của thếgiới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Điều đó được thể hiện ởnhững đặc điểm cơ bản sau:
- Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vậtchất Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thứccon người
- Hai là, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thốngnhất với nhau, biểu hiện chúng đều là các dạng cụ thể của vật chất, lànhững kết cấu của vật chất hoặc nguồn gốc của vật chất, do vật chất sinh ra
và chịu sự chi phối của quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất
- Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, khôngđược sinh ra và không bị mất đi Trong thế giới không có gì khác ngoàinhững quá trình vật chất đang biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc,nguyên nhân và kết quả của nhau
Qua đó có thể thấy, quan niệm trên của chủ nghĩa duy vật biện chứng
đã được cuộc sống hiện thực của con người và toàn bộ sự phát triển củakhoa học xác định Con người không thể bằng ý thức của mình sản sinh rađược các đối tượng vật chất mà chỉ có thể cải biến thế giới vật chất trên cơ
sở nắm vững những thuộc tính khách quan vốn có của các dạng vật chất vànhững quy luật vận động của thế giới vật chất
2.2 Quan niệm về ý thức
Trang 10Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản được các trường phái triết họcquan tâm nghiên cứu nhưng tùy theo cách lý giải khác nhau mà có nhữngquan niệm rất khác nhau, hai đường lối cơ bản đối lập là chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm Đứng vững nhất là trên lập trường của chủ nghĩa duyvật biện chứng, khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên
và bám sát thực tiễn xã hội, triết học Mác - Lênin đã góp phần làm sáng tỏvấn đề ý thức, mối quan hệ vật chất và ý thức
a Nguồn gốc ý thức
Quan điểm chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức là nguyên thể đầu tiên,tồn tại vĩnh viễn, nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi củatoàn bộ thế giới vật chất, khẳng định thế giới “ ý niệm” là bản thể sinh ratoàn bộ vật chất hoặc coi cảm giác là tồn tại duy nhất Ý thức con người docảm giác sinh ra và quyết định vật chất Đó là những quan niệm phiến diện,sai lầm, sử dụng cơ sở lý luận của tôn giáo dẫn đến sự hạn chế trong quanđiểm này
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình họ đã phủ định tất cả tínhchất siêu tự nhiên của ý thức, tinh thần Họ xuất phát từ thế giới hiện thực
để lý giải nguồn gốc của ý thức Tuy nhiên thấy được trình độ khoa học thời
kỳ đó còn nhiều hạn chết phương pháp siêu hình chi phối nên quan niệm về
ý thức còn nhiều sai lầm Các nhà duy vật thời kỳ này đồng nhất ý thức vớivật chất hoặc là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất… Những sai lầm,hạn chết trong quan niệm về ý thức đã được các giai cấp bóc lột, thống trịlợi dụng để làm cơ sở nô dịch áp bức nô lệ, quần chúng nhân dân
Từ đó quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng được nêu ra khi có
đủ cơ sở khoa học C.Mác đã khẳng định quan điểm về ý thức: ”Ý niệmchẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người vàđược cải biến đi ở trong đó” Dựa trên thành tựu khoa học nhất là sinh lýhọc - thần kinh hiện đại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đãkhẳng định rằng: “Xét về nguồn gốc tự nhiên, ý thức chỉ là thuộc tính củavật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà là thuộc tính của mộtdạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ óc con người Mối quan hệgiữa bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức là không thể tách rời…Sinh lý và ý thức là hai mặt của một quá trình sinh lý thần kinh trong bộ ócngười mang nội dung ý thức, cũng giống như tín hiện vật chất mang nộidung thông tin
Trang 11Như vậy, có thể rút ra:
- Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực bởi bộ óc con người, sựxuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phảnánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Sự ra đời của ý thức còn gắn liền với nguồn gốc xã hội do hoạt độngthực tiễn từ nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời của nó C.Mac vàĂngghen đã khẳng định: “Con người cũng có “ý thức” nữa nhưng khôngphải là một ý thức bẩm sinh mà là ý thức thuần túy” Ý thức không chỉ phảnánh sự tái tạo mà còn phản ánh sự sáng tạo của con người, cho ra đời nhiềusản phẩm chưa có trong tự nhiên vì vậy xứng đáng là phương thức tồn tại
cơ bản của con người, nguồn gốc của lao động và ngôn ngữ con người
b Bản chất của ý thức
Chủ nghĩa duy tâm,do không hiểu được nguồn gốc ra đời của ý thứcnên đã cường điệu vai trò của nó một cách thái quá, trừu tượng tới mứcthoát ly khỏi đời sống hiện thực, biến thành một thực thể tồn tại độc lập,thực tại duy nhất và nguồn gốc sinh ra thế giới vật chất
Chủ nghĩa duy vật siêu hình đã tầm thường hóa vai trò của ý thức Họcoi ý thức là một dạng vật chất, tách rời thực tiễn xã hội Những quan điểmsai lầm đó đã không cho phép con người hiểu được bản chất của ý thứccũng như biện chứng của quá trình phản ánh ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên cơ sở nhận thúc đúng đắn nguồngốc ra đời và thuyết phản ánh đã luận giải một cách khoa học bản chất của
ý thức Chủ nghĩa cho rằng vật chất và ý thức là hai hiện tượng chung nhấtcủa thế giới hiện thực, mặc dù khác nhau về bản chất, nhưng giữa chúngluôn có mối liên hệ biện chứng Do vậy để hiểu đúng bản chất ý thức cầnxem xét nó trong mối quan hệ qua lại với vật chất, chủ yếu là đời sống hiệnthực có tính thực tiễn của con người
Bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quátrình phản ánh tích cực, sáng tạo thực khách quan của óc người Như vậy, ýthức luôn tồn tại phi cảm tính, đối lập với các đối tượng vật chất mà nóphản ánh luôn tồn tại cảm tính Thế giới khách quan là nguyên bản, là tínhthứ nhất, còn ý thức chỉ là bản sao, "hình ảnh" của thế giới đó, là tính thứhai Đây là căn cứ quan trọng nhất để khẳng định thế giới quan duy vật biện
Trang 12chứng, phê phán chủ nghĩa duy tâm và duy vật siêu hình trong quan niệm
về bản chất của ý thức
2.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là tínhthứ nhất sinh ra tất cả, thê giới vật chất chỉ là thứ hai và do ý thức tinh thầnsinh ra Trên thực tế, chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của tôn giáo, chủnghĩa ngu dân Mọi con đường mở ra từ chủ nghĩa này đều dẫn con ngườiđến với thần học Trong thực tiễn, người duy tâm phủ nhận tính kháchquan, cường điệu nhân tố chủ quan, duy ý chí, hành động bất chấp điềukiện,quy định khách quan
Chủ nghĩa duy vật siêu hình, tuyệt đối hóa vật chất, chỉ nhấn mạnh mộtchiều vai trò của vật chất sinh ra, quyết định ý thức, phủ nhận tính độc lậptương đối của ý thức, không thấy được tính năng động sáng tạo,vai trò tolớn của ý thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan.Trong thực tiễn, người duy vật siêu hình đã phạm nhiều sai lầm có tínhnguyên tắc bởi thái độ "khách quan chủ nghĩa", thụ động, ỷ lại, trông chờkhông đem lại hiệu quả
Chủ nghĩa duy vật biện chứng sau những kiên trì, luôn theo sát nhữngthành tựu mới nhất khoa học tự nhiên đã khắc phục được những sai lầm,hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình và nêu lên những quan điểm,khái quát đúng đắn về mặt triết học hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới là vậtchất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vật chất và ý thức có mốiquan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tácđộng tích cực trở lại vật chất
+ Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức Vật chất sinh ra ýthức, vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người, mà conngười là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạpcủa tự nhiên, của thế giới vật chất Bộ não con người là một dạng vật chất
có tổ chức cao nhất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức phụthuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiệnthực khách quan
Trang 13Thứ hai, vật chất quyết định nội dung ý thức Ý thức mà trong nội dungcủa nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vàotrong đầu óc con người.
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức Phản ánh và sáng tạo
là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Nhưng phản ánhcủa con người không phải "soi gương", "chụp ảnh" hoặc là "phản ánh tâmlý" như con vật mà là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thựctiễn
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức Bởikhi các quy luật xã hội, môi trường sống thay đổi, tức sự biến đổi của vậtchất, thì sớm hay muộn ý thức cũng phải thay đổi theo
+ Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, ý thức có "đời sống" riêng, quy luật vận động và phát triểnriêng, không lệ thuộc máy móc vào vật chất.Ý thức biến đổi song hành vớihiện thực, nhưng thường chậm hơn thế giới vật chất
Thứ hai, sự tác động của ý thức thông qua những hoạt động thực tiễn
có thể làm biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo
ra "thiên nhiên thứ hai" phục vụ đời sông con người
Thứ ba, vai trò của ý thức được thể hiện khi nó chỉ đạo hoạt động,hành động của con người, quyết định sự thành bại, đúng sai
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn,nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp
→ Qua những thiếu sót, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm cũng như duy vậtsiêu hình, cùng với đó là sự đúng đắn trong đường lối của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng thông qua các phương diện, có thể khẳng định, chủ nghĩa duyvật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật