1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai Trò Của Tri Thức Đối Với Ý Thức Và Vai Trò Của Tri Thức Trong Hoạt Động Của Con Người Ở Việt Nam.docx

17 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Tri Thức Đối Với Ý Thức Và Vai Trò Của Tri Thức Trong Hoạt Động Của Con Người Ở Việt Nam
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tri Thức Và Ý Thức Trong Hoạt Động Của Con Người
Thể loại Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 37,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Ở thời đại nào cũng thế và ở đâu cũng vậy, tri thức trở thành một “tài nguyên” không thể thiếu của con người, như Franxi Bêcon đã khẳng định “Tri thức là sức mạnh” Trong xã hội hiện đại, th[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ở thời đại nào cũng thế và ở đâu cũng vậy, tri thức trở thành một “tài nguyên” không thể thiếu của con người, như Franxi Bêcon đã khẳng định: “Tri thức là sức mạnh” Trong xã hội hiện đại, thuật ngữ “tri thức” lại càng được nhắc đến nhiều hơn Chúng ta có nền kinh

tế tri thức, xã hội tri thức, giáo dục tri thức rồi quản trị tri thức, công nghệ tri thức… Có thể nói rằng, hàng loạt lĩnh vực đã được tri thức hoá Tri thức là công cụ, là điều kiện tiên quyết cho một xã hội văn minh, tiên tiến của loài người Trong bối cảnh hiện tại, sự bùng

nổ của công nghệ và khoa học mang lại một nguồn thông tin khổng lồ,đòi hỏi chúng ta phải biết chọn lọc, xử lý để biến nó thành tri thức cho riêng mình

Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế- kỹ thuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nước ta

có thể đạt đựoc những thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học- công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế trong một thời gian ngắn hay không? Chúng ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển khoa học- công nghệ trong quan hệ với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới Như vậy có nghĩa

là ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả.Chỉ chú trọng đến tri thức

mà bỏ qua công tác văn hoá- tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc Chức năng của các giá trị văn hoá đã đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức Không có tính đạo đức thì tất cả các dạng giá trị ( giá trị vật chất và tinh thần) sẽ mất

đi mọi ý nghĩa.Còn cách mạng tư tưởng góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần- xã hội, xây dựng mối quan hệ tư tưởng, tình cảm của con người với tư cách là chủ thể xây dựng

Trang 2

đời sống tinh thần và tạo ra được những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do của con người Mà có tự do thì con người mới có thể tham gia xây dựng đất nước

Như vậy, ý thức mà biểu hiện trong đời sống xã hội là các vấn đề khoa học- văn hoá- tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng Tìm hiểu về ý thức và tri thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện xã hội Trong bài tiểu luận này

em chọn đề tài: "Vai trò của tri thức đối với ý thức và vai trò của tri thức trong hoạt động của con người ở Việt Nam"

Bài viết sử dụng các tư liệu có sẵn dựa trên hiểu biết của bản thân, vì thế còn nhiều sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy, cô và các bạn trong lớp Em xin chân thành cảm ơn

I.Khái niệm và cấu trúc của tri thức

1 Khái niệm tri thức

Tri thức được hình thành nên từ những nhận thức, tư duy của con người về thế giới khách quan, về thực tiễn của cuộc sống Tuy khái niệm tri thức đã có từ lâu trong lịch sử loài người nhưng những nghiên cứu mang tính khoa học – tríêt học về tri thức chỉ thực sự bắt đầu từ phát biểu Platon – một triết gia Hy Lạp cổ đại sống vào khoảng 427-347 TCN Theo ông, tri thức là cái có trước các sự vật cảm biết mà không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận biết các sự vật đó Trên cơ sở lí luận nhận thức này, Platon phân loại tri thức thành tri thức hoàn toàn đúng đắn, tin cậy và tri thức mờ nhạt Tuy nhận thức của ông còn hạn chế và khuynh hướng duy tâm xong nó cũng đã khẳng định được sự tồn tại và vai trò của tri thức Những triết gia sau Platon đã tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu về khái niệm và bản chất của tri thức Những người có quan điểm tiến bộ hơn như Immanuel Kant đã trình bày quan điểm của ông về tri thức một cách chính xác hơn Lịch

sử hình thành khái niệm “tri thức” đã trải qua một quá trình lâu dài nhưng đến nay vẫn còn là một đề tài đang được nghiên cứu và gây nhiều tranh luận Xét trên phương tiện ngôn ngữ học, tri thức là một khái niệm rõ ràng, dễ hiểu: “Tri thức là những gì bạn đã đọc” Còn xét trên phương diện triết học, tri thức mang nghĩa phổ quát hơn, dùng dể diễn

Trang 3

tả nguồn gốc, sự phát triển và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng Ta có thể định nghĩa: “Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức, làm tái hiện tư tưởng con người, những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay

hệ thống kí hiệu khác.” Như vậy, tri thức bao gồm tất cả những thông tin,số liệu, khả năng, sức sáng tạo,kĩ năng, quan niệm về giá trị và những sản phẩm mang tính tương tự

xã hội khác Tri thức đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người

2 Cấu trúc của tri thức

Tri thức là lĩnh vực rất rộng, có thể xem xét ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau Tri thức là một tập hợp các kĩ năng và năng lực vì thế mỗi loại tri thức khác nhau lại có cách thức hình thành và những đặc trưng khác nhau Xét về cấp độ phức tạp của thông tin,cấu trúc của tri thức bao gồm: –

-Tri thức đời thường: được hình thành do hoạt động hàng ngày của các cá nhân và mang tính chất cảm tính, trực tiếp,bề ngoài và rời rạc Nêu đây là những tri thức đúng đắn, nó mang tính phổ biến và được xem gần giông như “thông tin” Loại tri thức này trả lời cho câu hỏi “biết – cái gì?” Những ví dụ cụ thể về dạng tri thức này như: “Dân số Việt Nam tính đến năm 2007 là bao nhiêu?”, “Ai là người đầu tiên lên mặt trăng?”, hay” Là sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân thì phải tuân theo nội quy, quy chế gì?” Những tri thức đời thường này dựa trên lẽ phải và ý thức thông thường, là cơ sở định hướng quan trọng cho các hành vi hàng ngày của con người

-Tri thức khoa học : Khi những tri thức đời thường rời rạc được liên kết nhau và có sự tư duy, tổng hợp của con người thi tri thức phát triển ở mức độ cao hơn,trở thành tri thức khoa học Tri thức khoa học trình bày nguyên lí và các quy luật vận động trong tự

nhiên,trong xã hội và trong tư duy của con người Nó bao gồm tri thức kinh nghiệm – thể hiện trình độ thấp và tri thức lí luận – thể hiện trình độ cao của tri thức khoa học Giữa hai trình độ tri thức này có mối liên hệ mật thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho nhau

Trang 4

cùng phát triển và từ đấy phản ánh một cách ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thế giớ vật chất đang vận động không ngừng

- Tri thức kinh nghiệm: chủ yếu thu nhận qua quan sát và thí nghiệm Từ những hiểu biết được tích lũy trong cuộc sống hàng ngày, con người so sanhd, đối chiếu, xem xét các sự vật và hiên tượng,từ đấy nhận thức và cải tạo thực tiễn, hình thành nên tri thức kinh nghiệm Đây là những hình dung thực tế về sự vật, hiện tượng, biết cách ứng xử trong các hiên tượng tự nhiên và trong các quan hệ xã hội Theo thời gian và bằng kinh nghiệm sống, số lượng và chất lượng tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, chứa đựng những mặt đúng đắn nhưng còn riêng biệt, chưa thể đi sâu vào bản chất Nó mới chỉ là một hình thức,một trình độ của nhận thức nên chưa nắm được một cách đầy

đủ, toàn diện cái tất yếu, cái bản chất bên trong của sự vật hịên tượng Như Ph.Ănghen trong cuốn biện chứng của tự nhiên đã nhận xét: “Sự quan sát theo kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” ( C.Mác và Ph.Ănghen, 1978-1995, tập 20, trang 718)

- Tri thức lí luận : Để nắm bắt được bản chất sâu xa của sự vật, hiên tượng thì nhận thức của con người tất yếu phải chuyển lên trình độ tri thức lí luận Nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, giả thuyết, lý thuyết, học thuyết khoa học Lí luận hình thành từ kinh nghiệm nhưng nó không xuất hiện một cách trực tiếp, tụ phát và không phải mọi lí luận đều xuất phat từ kinh nghiệm “Lí luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội, được tích lũy lại trong quá trình lịch sử” (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 8, trang 497) –

-Tri thức công nghệ: Khi đã có một vốn tri thức khoa học đầy đủ, tư duy con người phát triển cao hơn thì hình thành tri thức công nghệ Dạng tri thức này quan tâm đến các kĩ năng hay khả năng làm việc và cách xử lí tình huống một cách lin hoạt, nạy bén, trả lời cho câu hỏi “Biết – Như thế nào?” Đây cũng có thể coi la “bí quyết” của từng người cụ thể Nó đem đến một nhà lãnh đạo tài ba với những chiến lược sắc bén, một công ty phát

Trang 5

triển với những bí quyết riêng hay một nhà khoa học với những phát minh sáng chế nổi tiếng… –

-Tri thức chuyên gia ( tri thức kĩ năng xã hội ): khi sự phức tạp của tri thức công nghệ tăng lên, đòi hỏi một nền tri thức toàn diện- tổng hợp hơn thì xuất hiện tri thức chuyên gia Dạng tri thức này hình thành khi xã hội đã phát triển đến cao độ với một nền kinh tế hiện đại đạt đến sự phân công lao động rõ rệt Nó liên quan đến việc tổng hợp nhiều loại

kỹ năng khác nhau, bao gồm cả kĩ năng xã hội, trả lời câu hỏi “Biết – Ai?” Sự hình thành dạng tri thức chuyên gia làm tăng khả năng tiếp cận và sư dụng tri thức của con người, mang lại hiệu quả công việc cao hơn, gắn kết tri thức nhân loại Việc phân tích cấu trúc của tri thức ở trên cho phép chúng ta thấy được mức độ phát triển cũng như đặc trưng của từng cấp độ tri thức và sự đan xen, nối tiếp giữa chúng Từ đó, ta có thể xem xét vai trò to lớn của tri thức trên mọi lĩnh vực của đời sống một cách cụ thể, rõ ràng và toàn diện hơn

3 Vai trò của tri thức đối với ý thức

Khi xem xét ý thức với các yếu tố hợp thành các quá trình tâm lý tích cực đem lại sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan, ta có: tri thức, tình cảm, niểm tin, ý chí : trong đó tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất Muốn cải tạo được sự vật, trước hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc về sự vật đó Do đó, nội dung và phương thức tồn tại

cơ bản của ý thức là tri thức Ý thức mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì ý thức đó là một sự trừu tượng trống rỗng, không giúp ích gì cho con người trong hoạt động thực tiễn

Theo C.Mác, “phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì tồn tại đối với

ý thức là tri thức , cho nên một cái gì đó áy sinh ra đối với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó” Tích cực tìm hiểu, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh là yêu cầu thường xuyên của con người trên bước đường cải tạo thế giới Tuy nhiên, không thể đồng nhất ý thức với sự đồng nhất ý thức với sự hiểu biết, tri thức về sự vật

II Vai trò của tri thức trong hoạt động của con người ở Việt Nam.

Trang 6

1 Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt Nam

Trong công cuộc đổi mới, tri thức khoa học được xem là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nước Những cơ sở khoa học cùng những luận cứ khoa học đã giúp Đảng có một sự định hướng đúng đắn về đuường lối chính sách phát triển của đất nước; vạch ra kế hoạch phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể: công nghiệp, nông nghiệp, du lịch dịch vụ, khoa học công nghệ Nói đến vai trò nền tảng và động lực của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới là nối đến con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ, coi khoa học-công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và hàng đầu Quan điểm này cho tấy rõ sự quyết tâm và lựa chọn sáng suốt của Đảng ta trong đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm và đổi mới phương thức phát triển phù hợp với những đòi hởi phải tiến hành công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá với tốc độ nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững trong những thập niên đầu của thế kỷ 21

Nhìn lại thế kỷ 20 đã qua chúng ta thấy có những đổi thay to lớn do khoa học-công nghệ mang lại Trên thế giới sự xuất hiện các nhóm nước mới công nghiệp hoá (NIC) sau chiến tranh thế giới thứ 2 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng lan toả của các thành tựu khoa học

- công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ tiến bộ bằng các chính sách công nghiệp và nông nghiệp khôn ngoan, các nước NIC đã tận dụng được cơ hội tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới, thay đổi phương thức sản xuất cũ vốn dựa trên lao động thủ công và tài nguyên chủ yếu để chuyển sang áp dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra các giá trị gia tăng cao thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế Nhờ đi theo con đường công nghiệp hoá dựa hẳn vào khoa học-công nghệ mà một số nước đã rút ngắn được thời gian cần thiết để làm tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người Trước kia, nước Anh phải mất 58 năm, Mỹ mất 47 năm thì giờ đây Brazil chỉ mất

18 năm, Hàn Quốc 11 năm và Trung quốc chỉ trong vòng 10 năm Ta có thể so sánh Hàn Quốc và Gana vào những năm 60 và bây giờ Điểm xuất phát hai nước đều có mức thu nhập bình quân đầu người như nhau, đều là các quốc gia chậm phát triển

Trang 7

Vậy mà ngày nay, thu nhập đầu người của Hàn Quốc đã gấp 6 lần của Gana Vì sao có sự cách biệt lớn lao như vậy? Đó là do Hàn Quốc đã thu nhận và sử dụng trí thức khoa học sáng tạo và phù hợp với thực tiễn hơn Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy: ở đâu có sự sáng tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp về khoa học-công nghệ thì ở đó có sự tiến bộ vượt bậc Thử hỏi nếu Việt Nam vẫn giữ nền kinh tế tập trung bao cấp chưa chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì hiện giờ đất nước chúng

ta sẽ ra sao Về nông nghiệp, sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động, vật tư có thể mang lại Chính sách mới làm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân đưa khoa học-công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới, phân bón, máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống sông, đê ngăn chặn nước mặn lên biển Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân Về công nghiệp, quá trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn tới sự ra đời của một khu vực kinh tế mới - khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rất năng động đang góp phần tạo ra trên 10% GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Các công ty, xí nghiệp nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại mà đã đạt đước những thắng lợi ngoài cả sự mong đợi Ví dụ điển hình là công ty chế biến sữa Vinamilk từ tình trạng vô cùng khó khăn đã vươn lên sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với hàng nhập ngoại Trong các ngành, bưu chính viễn thông, khai thác dầu khí và các ngành nghề khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào kỹ thuật công nghệ hiện đại mà đạt được mức tăng trưởng cao trong thời gian dài, ổn đinh Văn hoá-giáo dục được nâng cấp, đầu tư cơ sở một cách thoả đáng

Thực tế cho thấy sau 15 năm đổi mới dựa vào tiềm năng của đất nước và sự trợ giúp của khoa học-công nghệ chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Về kinh tế tổng sản

Trang 8

lượng trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990 Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội

và năng lực sản xuất tăng nhiều Nền kinh tế từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay đã sản xuất đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân Nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Đời sống của nhân dân dần được cải thiện Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hụt hẫng về thị trường kinh tế tăng trưởng tương đối cao: Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% trong một năm; giá trị nông -lâm-ngư nghiệp tăng bình quân 5,7%/ năm trong đó: nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiệp 0,4% và ngư nghiệp tăng 8,9%, công nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nhịp độ tăng giá trị sản xuất hàng năm 13,5% Đầu tư sản xuất ra sản phẩm có triều sâu, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu dịch vụ phát triển vứi giá trị trung bình là 6,8%/ năm Lạm phát giảm đáng kể: Năm 1986 là 587,2% thì năm 1990 chỉ còn 52,8% Về chính trị

xã hội nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 1996-2000 đã có đóng góp tích cực trong phát triển lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ 20 Nhờ kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho quá trình chuẩn bị các văn kiện hội nghị trung ương khoá VIII, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội những năm sau và đóng góp cho việc chenr bị văn kiện Đại hội IX vừa qua Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng và việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản dưới luật, các chính sách và hiệp định quốc tế, trong đó có hiệp định thương mại Việt-Mỹ, khoa học xã hội còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như: Vấn đề toàn cầu hoá, quốc tế hoá, công nghiệp hoá-hiện đại hoá Các vấn đề tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Do vậy văn hoá phát triển lành mạnh với phương châm " Hoà nhập nhưng không hoà tan " Bên cạnh việc tiếp thu văn hoá thế giới chúng ta không quên giữ gìn và phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Giáo dục ngày càng được chú trọng Các quốc gia phát triển đã rút ra một điểm quan trọng là: Giáo dục

là con đường ngắn nhất để phát triển để tiến tới nền kinh tế trí thức hay còn gọi là nền kinh tế chất xám Ở Việt Nam từ năm 1997 đến nay, nhân lực khoa học-công nghệ cả nước đã tăng 1,5 lần Cán bộ khoa học-công nghệ có trình độ đại học đạt xấp xỉ 1,3 triệu

Trang 9

và hàng năm bổ xung thêm khoảng 180 nghìn người Cán bộ có trình độ tiến sĩ đã tăng lên gần 13 nghìn vào năm 2000 Trình độ, năng lực cán bộ trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, công trình điện, bưu chính viễn thông, thăm

dò và khai thác dầu khí đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực Bắt đầu từ năm 2000, chính phủ đã bố trí khoản ngân sách riêng để hàng năm chủ động gửi sinh viên cán bộ khoa học-công nghệ có năng lực đi đào tạo dài hạn tại các nước có nền khoa học tiên tiến khoa học-công nghệ đã có khả năng làm chủ và thích nghi nhiều công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng Nhiều vấn

đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước do thực tiễn đặt ra được các lực lượng khoa học-công nghệ nghiên cứu và giải quyết như: Cơ sở khoa học cho các phương

án phòng chống thiên tai, các phương pháp sản xuất vacxin phòng bệnh Rõ ràng, quan niệm về vai trò nền tảng và động lực phát triển của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển vừa có cơ sở thực tiễn trong nước vừa hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, khi lợi thế tương đối của các yếu tố lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang các yếu tố tri thức khoa học - công nghệ

2.Vai trò của tri thức đối với hoạt động xã hội

Tri thức đang ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong hoạt động xã hội, là tiền đề quan trọng để hình thành nên xã hội tri thức – một xã hội đổi mới văn minh và là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay Chúng ta đều nhận thấy rằng, tri thức đóng một vai trò hết sức quan trong góp phần tạo nên mọi thành tựu tiến bộ trong lịch sử hình thành và phát triển của văn minh nhân loại Mặc dù những câu hỏi mang tính triết học xung quanh phạm trù tri thức vẫn không ngừng được tranh luận và chưa được câu trả lời thích đáng nhưng trong mọi lĩnh vực hoạt động khoa học, kinh tế, chính trị, văn hóa, … tri thức vẫn luôn được tìm kiếm, phát triển và ngày càng có tác động to lớn đến sự phát triển của xã hội loài người Tất cả mọi người, tuy hoàn cảnh địa

vị khác nhau nhưng họ đang cùng có chung một hoạt động, đấy là hoạt động tri thức Và

vì thế, tri thức không còn là vấn đề riêng của mỗi cá nhân mà đã trở thành vấn đề chung của mọi xã hội Xã hội càng phát triển, công cụ tìm kiếm, lưu giữ và tuyên truyền tri thức

Trang 10

càng trở nên tiên tiến, hiện đại Bước phát triển cao nhất của nên công nghệ thông tin hiện đại mang đến loại công cụ thay thế con người trong các hoạt đông trí óc, đó là máy tính điện tử Từ hàng chục năm nay, cùng với khả năng lưu trữ, xử lí thông tin nhanh chóng và khả năng tính toán khoa học, các hệ thông máy tính được ứng dụng để hình thành nên cơ sở dữ liệu điện tử thuộc nhiều nghành khác nhau, trên mọi lĩnh vực và phương diện, từ đấy tạo nên hạ tầng thông tin quốc gia, nền móng của sự phát triển thông tin ở nhiều nước Sự phong phú về thông tin, dữ liệu cùng khả năng khai thác nhanh chóng dễ dàng tri thức điện tử đã trở thành nguồn tri thức mở Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý là sự phong phú về thông tin chưa hẳn đã mang lại sự đầy đủ và chính xác về tri thức John Naisbett đã từng cảnh cáo : “Chúng ta chìm ngập trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức” Vì vậy, con người cần biết chọn lọc và sử lí thông tin một cách có hiệu quả, biến

nó trở thành tri thức của riêng mình Sự giàu có về thông tin trở thành sự giàu có về tri thức sẽ mang lại một xã hội văn minh với trình độ phát triển cao

Dù ở trong bất cứ xã hội nào thì tri thức của loài người cũng là một nguồn lực đóng góp cho sự phát triển Nhưng trước đây, tri thức thường vẫn là một tài sản nằm trong tay một

số tầng lớp tri thức và của những người có học vấn trong xã hội Chỉ đến thời đại thông tin, với các phương tiện truyền thông hiện đại, loài người mới có cơ hội thực hiện mục đích nhân văn cao cả của mình: chia sẻ tri thức cho mọi người để cùng phát triển Khi ấy chúng ta mới có được một xã hội tri thức đích thực Sự bùng nổ của thông tin đem đến cho chúng ta một xã hội thông tin đa chiều, đa phương diện Nhưng đấy chưa phải là một

xã hội tri thức bền vững Một xã hội tri thức được gọi là bền vững khi nó bảo tồn và thúc đẩy các quyền con người và quyền công dân; khi việc truy cập tri thức không bị cản trở

và có khả năng bao quát rộng lớn; khi tri thức của nó làm thành cơ sở cho những phương tiện bảo tồn một cách hiệu quả môi trường thiên nhiên của chúng ta; khi việc truy cập tri thức và thông tin đang cung cấp cho mọi người dân trên thế giới cơ hội được tự phát triển trong đời sống cá nhân, đời sống nghề nghiệp và đời sống công cộng của họ; khi sự phát triển ở miền Bắc không còn làm tổn hại đến miền Nam và khi sự phát huy tiềm năng của nam giới không còn làm tổn hại đến tiềm năng của nữ giới Vấn đề này không chỉ còn là

Ngày đăng: 01/03/2023, 19:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w