1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật Về Khuyến Mại Tại Việt Nam.docx

30 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật Về Khuyến Mại Tại Việt Nam
Tác giả Trần Thị Thúy
Người hướng dẫn Thầy Đinh Hoài Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Đề Án
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 69,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾN MẠI (6)
    • 1.1 Khái quát chung về khuyến mại (6)
      • 1.1.1 Khái niệm về khuyến mại (6)
      • 1.1.2 Đặc điểm của hoạt động khuyến mại (6)
      • 1.1.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về khuyến mại (8)
    • 1.2 Quy định của pháp luật về khuyến mại (9)
      • 1.2.1 Chủ thể của hoạt động khuyến mại (9)
      • 1.2.2 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại (9)
      • 1.2.3 Hình thức khuyến mại (10)
      • 1.2.4 Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại (14)
      • 1.2.5 Thông báo công khai về thông tin khuyến mại (15)
      • 1.2.6 Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mãi, dùng để khuyến mại (17)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN KHUYẾN MẠI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 19 (19)
    • 2.1 Hạn mức giảm giá (19)
      • 2.1.1 Thời hạn giảm giá (19)
      • 2.1.2 Về mức giảm giá (19)
    • 2.2 Hình thức khuyến mại (19)
      • 2.2.1 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó (19)
      • 2.2.2 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ 20 (20)
      • 2.2.3 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên (20)
      • 2.2.4 Hình thức bán hàng, cung cấp dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình may rủi (21)
      • 2.2.5 Khuyến mại hang hoá, dịch vụ mà quá trình thực hiện có sử dụng Internet, phương tiện, thiết bị điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin (0)
    • 2.3 Quy định thông báo khuyến mại (21)
    • 2.4 Thực trạng khác (22)
      • 2.4.1 Không công bố người trúng thưởng (22)
      • 2.4.2 Thực hiện khuyến mại mập mờ, không rõ ràng gây hiểu lầm cho khách hàng 23 (23)
      • 2.4.3 Chất lượng hàng hóa và dịch vụ khuyến mại (23)
      • 2.4.4 Chương trình khuyến mại hiện nay vẫn không được quản lý khép kín (24)
    • 3.1 Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về khuyến mại (25)
    • 3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khuyến mại (25)
      • 3.2.1 Điều chỉnh các quy định của pháp luật về khuyến mại (25)
      • 3.2.2 Điều chỉnh các quy định về xử phạt vi phạm trong hoạt động khuyến mại 27 (27)
    • 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về khuyến mại tại Việt Nam 27 (27)
      • 3.3.1 Chủ động nâng cao ý thức và hiểu biết về pháp luật khuyến mại (27)
      • 3.3.2 Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đẩy mạnh hiệu quả công tác quản lý, thanh tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khuyến mại (27)
      • 3.3.3 Tăng cường hiệu quả hoạt động của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 27 (27)
      • 3.3.4 Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các chủ thể tham gia thị trường (28)
  • KẾT LUẬN (29)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT ĐỀ ÁN LUẬT THƯƠNG MẠI TÊN ĐỀ TÀI THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI TẠI VIỆT NAM Sinh viên thực hiện Trần Thị Thúy Mã sinh viên 11174632 Lớp Luật Kinh[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT

ĐỀ ÁN LUẬT THƯƠNG MẠI TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI

TẠI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thúy

Mã sinh viên: 11174632 Lớp: Luật Kinh Doanh 59 Giảng viên hướng dẫn: Thầy Đinh Hoài Nam

Hà Nội, 5/2020

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾN MẠI 6

1.1 Khái quát chung về khuyến mại 6

1.1.1 Khái niệm về khuyến mại 6

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động khuyến mại 6

1.1.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về khuyến mại 8

1.2 Quy định của pháp luật về khuyến mại 9

1.2.1 Chủ thể của hoạt động khuyến mại 9

1.2.2 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại 9

1.2.3 Hình thức khuyến mại 10

1.2.4 Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại 14

1.2.5 Thông báo công khai về thông tin khuyến mại 15

1.2.6 Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mãi, dùng để khuyến mại 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN KHUYẾN MẠI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 19 2.1 Hạn mức giảm giá 19

2.1.1 Thời hạn giảm giá 19

2.1.2 Về mức giảm giá 19

2.2 Hình thức khuyến mại 19

2.2.1 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó 19

2.2.2 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ 20 2.2.3 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên 20

2.2.4 Hình thức bán hàng, cung cấp dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình may rủi 21

2.2.5 Khuyến mại hang hoá, dịch vụ mà quá trình thực hiện có sử dụng Internet, phương tiện, thiết bị điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin 21

2.3 Quy định thông báo khuyến mại 21

2.4 Thực trạng khác 22

2.4.1 Không công bố người trúng thưởng 22

2.4.2 Thực hiện khuyến mại mập mờ, không rõ ràng gây hiểu lầm cho khách hàng 23 2.4.3 Chất lượng hàng hóa và dịch vụ khuyến mại 23

2.4.4 Chương trình khuyến mại hiện nay vẫn không được quản lý khép kín 24

Trang 3

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KHUYẾN MẠI .25

3.1 Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về khuyến mại 253.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khuyến mại 253.2.1 Điều chỉnh các quy định của pháp luật về khuyến mại 253.2.2 Điều chỉnh các quy định về xử phạt vi phạm trong hoạt động khuyến mại

27

3.3.4 Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngcủa các chủ thể tham gia thị trường 28

KẾT LUẬN 29 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, đòi hỏi các chủthể kinh doanh phải có những chiến lược đúng đắn, những giải pháp phù hợp đểtồn tại và phát triển Từ lâu, khuyến mại được xem như một biện pháp hiệu quảnhằm lôi kéo và thu hút khách hàng sử dụng hàng hóa, dịch vụ được các thươngnhân áp dụng Tuy nhiên, trong thời gian triển khai thực hiện các quy định củapháp luật về khuyến mại, đã phát sinh một số vấn đề Có nhiều ý kiến từ phíadoanh nghiệp cho rằng các văn bản quy phạm pháp luật về khuyến mại có nhữngnội dung chưa thực sự phù hợp với thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, chưatạo thuận lợi hóa cho quá trình thực hiện các thủ tục hành chính của doanh nghiệpvới cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Quy định về chế tài đối với doanhnghiệp chưa chặt chẽ; quy định về các thủ tục hành chính chưa thực sự rõ ràng,thông thoáng; các quy định về các điều kiện và nội dung khuyến mại đối với doanhnghiệp khuyến mại chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, chưa thực sự khả thi;quy định về các hình thức khuyến mại, trách nhiệm của các đối tượng liên quanchưa cụ thể và rõ ràng dẫn đến khó khăn cho cả cơ quan quản lý nhà nước vàdoanh nghiệp trong việc áp dụng Điều này đã gây trở ngại cho các thương nhântrong việc chuẩn bị hồ sơ thông báo, đăng ký các thủ tục hành chính về khuyến mạikhi phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần hồ sơ, giấy tờ, biểu mẫu, chưa kể khối lượngcác biểu mẫu cùng hồ sơ kèm theo là tương đối nhiều, làm tốn kém thời gian vàtiền bạc của các thương nhân, cũng như gây khó khăn trong công tác tiếp nhận,hướng dẫn, xử lý và lưu trữ của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tại cácđịa phương Xuất phát từ những yêu cầu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài:

“Thực tiễn áp dụng pháp luật về khuyến mại tại Việt Nam” làm Đề tài đề ánthương mại của mình

2.

Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về khuyến mạitrong khuôn khổ các quy định của pháp luật Việt Nam Từ đó, đưa ra các giải phápgóp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về khuyếnmại

Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về khuyếnmại

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2018 đến 4/2020

3.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luậnliên quan đến khuyến mại

Phương pháp phân tích văn bản pháp luật, phân tích quy phạm pháp luật, nhằmlàm rõ nội dung pháp luật về khuyến mại

Phương pháp thống kê, nhằm khái quát chung một cách chính xác tình hìnhthực tiễn thực hiện pháp luật về khuyến mại Việt Nam

Trang 5

Phương pháp đánh giá kết hợp phương pháp bình luận trong, nhằm thể hiện ýkiến của tác giả về vấn đề nghiên cứu

4.

Kết cấu của đề tài

Bài làm gồm có phần Mở đầu, Nội dung, Kết Luận và Tài liệu tham khảo; trong

đó Nội dung được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về khuyến mại

Chương 2: Thực trạng thực hiện khuyến mại hiện nay ở Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về khuyến mại

5.

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy Đinh Hoài Nam - Giảng viên khoaLuật Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã hướng dẫn tôi trong cả quá trình nghiêncứu đề tài!

Do thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức của tôi còn ít, điều đó dẫn tới việcnghiên cứu, trình bày có nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được những nhận xét,đóng góp từ thầy cô, bạn bè và người đọc để bài làm của tôi được hoàn thiện hơnnữa, xin cảm ơn!

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾN MẠI

1.1 Khái quát chung về khuyến mại

1.1.1 Khái niệm về khuyến mại

Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, cạnh tranh càng khốc liệt dẫn tới cácthương nhân muốn tiếp tục tồn tại thì cần phải xây dựng cho mình những chiến lượckinh doanh hợp lý để xây dựng thương hiệu cũng như củng cố lòng tin của khách hàngđối với sản phẩm của mình, đồng thời có những biện pháp lôi kéo, thu hút khách hàng

Vì vậy lúc này, khuyến mại được sử dụng rộng rãi như là một phương thức kinh doanhcủa các thương nhân

Dưới góc độ ngôn ngữ, khuyến mại trong tiếng Anh là Sales Promotion hoặcđôi khi được gọi là Promotion, có nghĩa là bán hàng giảm giá nhằm thúc đẩy, kíchthích sự mua sắm của khách hàng Còn theo nghĩa Hán Việt, “khuyến” là khuyếnkhích, “mại” là bán1, vậy nên có thể hiểu khuyến mại là khuyến khích chủ thể trongviệc bán hàng Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm khuyến mại vàkhuyến mãi Đây là hai khái niệm rất hay bị nhầm với nhau, nhìn chung thì khuyếnmại hay khuyến mãi đều là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm thúcđẩy việc mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng nhữnglợi ích nhất định Nhưng nếu hiểu một cách cặn kẽ thì thấy rằng hai khái niệm nàyhoàn toàn khác nhau, bởi “mãi” theo nghĩa Hán Việt là mua, thế nên khuyến mãi phải

là khuyến khích khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ

Dưới góc độ pháp lý, khuyến mại được hiểu như sau:

Theo Khoản 1 Điều 88 luật Thương mại năm 2005: “Khuyến mại là hoạt động

xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứngdịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.”

Như vậy, khuyến mại có thể được biểu hiện là cách thức, biện pháp thu hútkhách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng nhằm xúc tiến việc mua bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ Các lợi ích mà thương nhân có thể dành cho khách hàngnhư: dùng thử hàng mẫu miễn phí; Tặng quà; Giảm giá; Tặng phiếu mua hàng, phiếu

sử dụng dịch vụ; Tặng kèm phiếu dự thi; Tổ chức các chương trình may rủi; Tổ chứcchương trình khách hàng thường xuyên; Tổ chức cho khách hàng tham gia các chươngtrình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại; Cáchình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấpthuận Trong thực tế, các hình thức này được các doanh nghiệp áp dụng khá linh hoạt

và có sự kết hợp giữa nhiều hình thức một lúc, như vừa giảm giá vừa tặng quà, vừagiảm giá vừa bốc thăm trúng thưởng, giảm giá hoặc tặng quà trong những "giờ vàngmua sắm" nhất định trong ngày Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích nhấtđịnh là dấu hiệu đặc trưng của hoạt động khuyến mại

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động khuyến mại

1 Minh Tân, Thanh Nghị, Xuân Lãm: Từ điển Tiếng Việt, Ngôn ngữ học Việt Nam, 1999

Trang 7

Khuyến mại là một hoạt động xúc tiến thương mại, có đầy đủ những đặc trưngchung của hành vi thương mại, song khuyến mại vẫn có những điểm riêng biệt so vớicác hoạt động xúc tiến thương mại khác Trong đó nổi bật như:

1.1.2.1 Về chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại

Chủ thể thực hiện khuyến mại theo quy định của pháp luật hiện hành phải làthương nhân

Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005 quy định: “Thương nhân bao gồm tổ

chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độclập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”

Pháp luật cho phép, thương nhân được thực hiện khuyến mại dưới hai dạng sau:Một là, thương nhân tự mình thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ mà mìnhkinh doanh trên cơ sở quyền tự do kinh doanh, tự do xúc tiến thương mại trongkhuôn khổ của pháp luật mà không cần phải đăng kí kinh doanh để thực hiệnquyền khuyến mại Hai là, thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiệnkhuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác trên cơ sở hợp đồng dịch

vụ khuyến mại bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương2

1.1.2.2 Cách thức thực hiện xúc tiến thương mại

Cách thức thực hiện xúc tiến thương mại của khuyến mại là dành cho kháchhàng những lợi ích nhất định Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích nhấtđịnh để tác động tới thái độ và hành vi mua bán của họ là đặc trưng để phân biệtkhuyến mại với các hình thức xúc tiến thương mại khác như quảng cáo, trưng bàygiới thiệu hàng hoá, dịch vụ… Đối tượng khách hàng được khuyến mại không chỉ

là người tiêu dùng mà còn có thể là các trung gian phân phối Trên thực tế, hiệntượng này được thể hiện qua việc những người đưa hàng cho các đại lí bán hànglớn ngoài số lượng mặt hàng cần giao, thì ngoài ra còn có khuyến mại thêm mộtsản phẩm cùng loại hoặc sản phẩm mới do công ty sản xuất… Lợi ích mà thươngnhân dành cho khách hàng rất đa dạng, có thể là lợi ích vật chất (tiền, hàng hoá)hoặc phi vật chất (cung ứng dịch vụ miễn phí…) tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố nhưmục tiêu của đợt khuyến mại, trạng thái cạnh tranh hay kinh phí dành cho khuyếnmại Khách hàng có thể được giảm giá, được nhận quà tặng, phần thưởng hayphiếu mua hàng có ưu đãi, được tặng thêm hàng hóa khi mua hàng nhất định hayđược chiết giá đối với khách hàng là đại lý hay người bán lẻ mua số lượng nhiều.Như vậy, bản chất của khuyến mại là hoạt động của thương nhân thông qua việcdành cho khách hàng những lợi ích nhất định với những công cụ đa dạng như quàtặng, hàng mẫu, giảm giá… nhằm tác động vào người tiêu dùng để kích cầu tiêudùng, đồng thời doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động mua bánhàng hóa thông qua các hình thức khuyến mại

1.1.2.3 Mục đích của khuyến mại

Giống như các hoạt động xúc tiến thương mại khác, mục đích của khuyến mại

là xúc tiến bán hàng và cung ứng dịch vụ Nhằm thúc đẩy, hỗ trợ và khuyến khích

nỗ lực bán hàng của lực lượng bán hàng, động viên những người trung gian hỗ trợ

2 Khoản 2 Điều 88 Luật Thương Mại 2005; Khoản 1 Điều 2 Nghị Định 81/2018/NĐ-CP

Trang 8

một cách nhiệt tình và tích cực trong việc tiếp thị các sản phẩm của thương nhân,đồng thời khuyến khích người tiêu dùng thử hoặc tiếp tục sử dụng những sản phẩmcủa mình Để thực hiện mục đích này, mục tiêu bao trùm mà khuyến mại hướng tới

là tác động tới khách hàng, lôi kéo hành vi của khách hàng để họ mua sản phẩm,

sử dụng dịch vụ, giới thiệu một sản phẩm mới hay kích thích trung gian phân phốichú ý hơn nữa đến hàng hoá của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua, qua đótăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ Vì vậy, tronghoạt động kinh doanh, các thương nhân sử dụng phương thức khuyến mại như mộtcông cụ quan trọng để chiếm lĩnh thị trường, nâng cao tính cạnh tranh, mở rộngquan hệ hợp tác thông qua sự hiểu biết lẫn nhau giữa thương nhân với thươngnhân, giữa thương nhân với khách hàng

1.1.2.4 Đối tượng của khuyến mại

Đối tượng của khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ của thương nhân Tuy nhiên,điều kiện cần đảm bảo là tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mạiphải là những hàng hoá, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp và đây là dùng để tặng,thưởng, cho mà không thu tiền của khách hàng Hàng hóa, dịch vụ được thươngnhân dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ thương nhân đó đang kinh doanhhoặc là của thương nhân khác

1.1.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về khuyến mại

Kể từ khi được ghi nhận lần đầu tiên tại Luật thương mại 1997 cho đến nay,khuyến mại là một trong những chế định quan trọng của pháp luật thương mại Hiệnnay, khuyến mại được ghi định tương đối chặt chẽ trong các văn bản như: Luậtthương mại 2005, Nghị định 37/2006/NĐ-CP, Nghị định 68/2009/NĐ-CP, Nghị định81/2018/NĐ-CP đã tạo dựng một hàng lang pháp lý tương đối vững chắc Làm cơ sởquan trọng trong việc thực thi và áp dụng cho hoạt động khuyến mại

Luật thương mại 2005 có quy định về khuyến mại tại mục 1, chương IV Baogồm 14 điều (từ điều 88 đến 101) Luật này nêu rõ khái niệm khuyến mại, kinh doanhdịch vụ khuyến mại, thương nhân trong hoạt động thực hiện khuyến mại, hàng hóadịch vụ khuyến mại và các hình thức khuyến mại

Cùng với Luật Thương mại 2005 là nghị định Nghị định 37/2006/NĐ-CP quyđịnh chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, và nghị định68/2009/NĐ-CP ra đời điều chỉnh về khoản 7 điều 4 của nghị định 37/2006/NĐ-CP.Sau hơn 10 năm thực hiện, một số nội dung của Nghị định 37/2006/NĐ-CP của Chínhphủ không còn phù hợp, chưa theo kịp thực tiễn phát triển hoạt động xúc tiến thươngmại thị trường trong nước và quốc tế Cụ thể là chưa xác định rõ đối tượng áp dụng;nguyên tắc thực hiện khuyến mại còn chung chung, khó thực hiện Một số hàng hóa,loại hình kinh doanh chưa có quy định thể về khuyến mại, hội chợ triển lãm thươngmại Thời gian và hạn mức khuyến mại tối đa còn hạn chế Quy định về hồ sơ thủ tụchành chính còn phức tạp, có nhiều loại giấy tờ kèm theo Vì vậy, nghị định81/2018/NĐ-CP được xây dựng thay thế cho Nghị định 37/2006/NĐ-CP nhằm đápứng yêu cầu điều chỉnh các khuôn khổ pháp lý, tạo hành lang pháp lý thông thoáng,thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh

Trang 9

Nghị định đã đưa ra những quy định mới đối với các hoạt động khuyến mại vàhội chợ, triển lãm thương mại theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn Đồng thời, đưa

ra các nội dung nhằm đơn giản hóa và thực hiện hiện đại hóa các thủ tục hành chính,đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch, bảo đảm sự cạnh tranh lànhmạnh trên thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việc ban hành Nghị địnhmới đã thực sự cởi trói, tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp trong việc thực hiệnkhuyến mại, tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại Nghị định cũng đã quy định cụthể, rõ ràng các đối tượng thương nhân thực hiện khuyến mại và thương nhân tổ chứchội chợ, triển lãm thương mại Ngoài ra, bổ sung thêm nguyên tắc thực hiện khuyếnmại; quy định về khuyến mại theo phương thức đa cấp; quy định rõ về hàng hóa, dịch

vụ khuyến mại, dùng để khuyến mại, hạn mức khuyến mại Bên cạnh đó, cải cáchmạnh mẽ thủ tục hành chính thông báo, đăng ký khuyến mại, hội chợ theo hướng đơngiản hóa và rút gọn thành phần hồ sơ hiện đại hóa cách thức thực hiện Đồng thời, rútngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, phân cấp cụ thể quản lý nhà nước vềkhuyến mại, hội chợ triển lãm thương mại ở Trung ương và các tỉnh, thành phố

1.2 Quy định của pháp luật về khuyến mại

1.2.1 Chủ thể của hoạt động khuyến mại

Chủ thể thực hiện khuyến mại là thương nhân, có thể là thương nhân Việt Namhoặc thương nhân nước ngoài

Theo Khoản 2 điều 88 LTM 2005 và Khoản 1 điều 2 NĐ 81/2018/NĐ-CP quy

định về Thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân thuộc một trong các

trường hợp sau đây: Thương nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trực tiếp

thực hiện khuyến mại hoặc thực hiện khuyến mại thông qua các thương nhân phânphối (bán buôn, bán lẻ, đại lí, nhượng quyền thương mại và các thương nhân phânphối khác theo quy định của pháp luật) và Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyếnmại thực hiện khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏathuận của thương nhân đó Trong trường hợp này thương nhân phải có đăng kí kinhdoanh dịch vụ khuyến mại Như vậy, hoạt động khuyến mại gắn liền với thương nhân,đây là quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo hộ.Không có sự phân biệt giữa các thương nhân trong nước với thương nhân nước ngoài,mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật Theo đó, thương nhân Việt Nam, chi nhánhcủa thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam cóquyền tự tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mạithực hiện việc khuyến mại cho mình Tuy nhiên, Văn phòng đại diện của thương nhânkhông được khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại ViệtNam cho thương nhân mà mình đại diện3

1.2.2 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại

Căn cứ theo Điều 3 NĐ 81/2018/NĐ-CP quy định về nguyên tắc thực hiện

khuyến mại:

3 Điều 91 Luật Thương Mại 2005

Trang 10

- Chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai,minh bạch và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thươngnhân, tổ chức hoặc cá nhân khác.

- Thương nhân thực hiện Chương trình khuyến mại phải bảo đảm những điềukiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyếtcác khiếu nại (nếu có) liên quan đến chương trình khuyến mại

- Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hànghóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại

- Việc thực hiện khuyến mại phải đảm bảo: Không đưa ra điều kiện để kháchhàng được hưởng khuyến mại là phải từ bỏ, từ chối hoặc đổi hàng hóa, dịch vụ củathương nhân, tổ chức khác; Không có sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mìnhvới hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác

- Không được sử dụng kết quả xổ số để làm kết quả xác định trúng thưởng, làmcăn cứ để tặng, thưởng trong các chương trình khuyến mại theo hình thức quy định tại

Khoản 5, Khoản 6 và Khoản 9 Điều 92 Luật thương mại 2005 Tức là các chương

trình khuyến mại theo hình thức: Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi chokhách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố; Bánhàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi màviệc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúngthưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố

và các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mạichấp thuận

1.2.3 Hình thức khuyến mại

Theo quy định tại Điều 92 Luật thương mại năm 2005, hình thức khuyến mại

của thương nhân bao gồm các hình thức sau đây:

1.2.3.1 Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử

không phải trả tiền4

Thông thường, hình thức khuyến mại này được sử dụng khi thương nhâncần giới thiệu một sản phẩm mới hoặc sản phẩm đã cải tiến, do vậy, hàng mẫu đưacho khách hàng dùng thử là hàng đang bán hoặc sẽ được bán trên thị trường

Theo đó Điều 8, Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định hình thức khuyến mại này

sơ bộ như sau:

“1 Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùngthử phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đanghoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường

2 Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất kỳ nghĩa

vụ thanh toán nào

3 Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu,cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ

4 Điều 8 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

Trang 11

mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sửdụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu”.

1.2.3.2 Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền 5

Điều này được thực hiện đối với khách hàng có hành vi mua sắm sảnphẩm của thương nhân Hàng hóa, dịch vụ dùng làm quà tặng có thể là hàng hóa,dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc là hàng hóa, dịch vụ của thươngnhân khác Việc tặng quà trong trường hợp này không chỉ có ý nghĩa thúc đẩyhành vi mua sắm mà thương nhân còn có cơ hội quảng cáo, giới thiệu về hànghóa, dịch vụ của nhau

Điều 9, Nghị định 81/2018/NĐ-CP có quy định về cách thức thực hiện

khuyến mại tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền gồm Tặng hàng hóa,cung ứng dịch vụ không thu tiền có hoặc không kèm theo việc mua bán hànghóa, cung ứng dịch vụ

1.2.3.3 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ 6

Chương trình khuyến mại theo hình thức giảm giá giúp cho việc quảng básản phẩm được đến gần với người mua, đặc biệt là những người còn cân nhắchay phân vân về mức giá chưa giảm Hoặc cũng có thể theo tâm lí người Việt,nhân cơ hội giảm giá mà họ có thể mua sắm những sản phẩm phù hợp với nhucầu của mình

Điều 10, Nghị định 81/2018/NĐ-CP có quy định rõ về hình thức khuyến

mại này như sau:

“1 Trong trường hợp thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá thì mứcgiảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất

kỳ thời điểm nào phải tuân thủ theo quy định

2 Không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trong trường hợpgiá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước định giá cụ thể

3 Không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ xuống thấp hơnmức giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ thuộcdiện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu

4 Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức khuyến mại này để bán phá giá hàng hóa,dịch vụ

5 Tổng thời gian thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá đối với một loạinhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 120 ngày trong một năm,không bao gồm thời gian thực hiện khuyến mại của các chương trình khuyến mại

5 Điều 9 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

6 Điều 10 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

Trang 12

bằng hình thức giảm giá trong khuôn khổ các chương trình khuyến mại tập trung

và các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại”

1.2.3.4 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ 7

Theo các chương trình này, khách hàng có thể được hưởng lợi ích nhất địnhtheo những phương thức khác nhau Phiếu mua hàng thường có ý nghĩa giảm giáhoặc có mệnh giá nhất định để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thốngbán hàng của thương nhân Phiếu sử dụng dịch vụ có thể cho phép sử dụng dịch vụmiễn phí, theo điều kiện do nhà cung ứng dịch vụ đưa ra

Điều 11, Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định nội dung hình thức khuyến mại này

như sau:

“1 Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ kèm theo hàng hóa được bán, dịch vụđược cung ứng là phiếu để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của chính thươngnhân đó hoặc để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân, tổ chứckhác

2 Giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm theomột đơn vị hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mạiphải tuân thủ quy định hạn mức tối đa về giá trị vật chất dùng để khuyến mại theoquy định của pháp luật

3 Nội dung của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ phải bao gồm các thôngtin liên quan được pháp luật quy định”

1.2.3.5 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng 8 để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố

Khác với phiếu mua hàng và phiếu sử dụng dịch vụ, phiêu dự thi có thểmang lại giải thưởng hoặc không mang lại gì cho khách hàng, phụ thuộc vào kếtquả dự thi của họ

Theo quy định tại Điều 12, Nghị định 81/2018/NĐ-CP việc áp dụng hình thức

khuyến mại này yêu cầu thương nhân thực hiện phải:

Một là, nội dung của chương trình thi phải bao gồm các thông tin liên quan đến:giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng từ phiếu mua hàng,phiếu sử dụng dịch vụ; địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ và các loại hàng hóa,dịch vụ mà khách hàng có thể nhận được từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch

vụ đối với hình thức khuyến mại; loại giải thưởng và giá trị của từng loại giảithưởng; thể lệ tham gia các chương trình khuyến mại, cách thức lựa chọn ngườitrúng thưởng…

Hai là, việc tổ chức thi và mở thưởng phải được tổ chức công khai, có sự chứngkiến của đại diện khách hàng và phải được thông báo cho cơ quan quản lý Nhànước có thẩm quyền (Sở công thương) nơi tổ chức thi, mở thưởng trước ngày tổ

7 Điều 11 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

8 Điều 12 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

Trang 13

chức thi, mở thưởng Trường hợp chương trình khuyến mại có tổng giá trị giảithưởng dưới 100 triệu đồng thì thương nhân không phải thông báo.

1.2.3.6 Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố 9 ;

Điều 13, Nghị định 81/2018/NĐ-CP đã quy định thương nhân thực hiện

chương trình khuyến mại may rủi phải lưu ý những nội dung sau:

Một là, việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tínhmay rủi phải được tổ chức công khai, theo thể lệ đã công bố, có sự chứng kiếncủa khách hàng và phải được lập thành biên bản

Hai là, trong trường hợp bằng chứng xác định trúng thưởng được phát hành kèmtheo hàng hóa, thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo về thời gian vàđịa điểm thực hiện việc phát hành kèm bằng chứng xác định trúng thưởng vàohàng hoá cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền nơi thực hiện việc pháthành kèm bằng chứng xác định trúng thưởng vào hàng hóa trước khi thực hiện

Ba là, thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại mang tính may rủi phảitrích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trườnghợp không có người trúng thưởng Giải thưởng không có người trúng thưởng làgiải thưởng trong trường hợp hết thời hạn trao thưởng nhưng không có ngườinhận hoặc không xác định được người trúng thưởng

1.2.3.7 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác 10

Theo quy định tại Điều 14, Nghị định 81/2018/NĐ-CP khi áp dụng hình

thức khuyến mại này, các thương nhân phải tuân thủ các yêu cầu dưới đây: Một

là, tuân thủ quy định về thông báo các thông tin liên quan đến: Giá bán hàng hóa,giá cung ứng dịch vụ; Trị giá tuyệt đối hoặc phần trăm thấp hơn giá bán hànghóa, giá cung ứng dịch vụ; Giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàngđược hưởng từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ

Hai là, nội dung thông tin được thể hiện và lưu trữ trên thẻ khách hàng, phiếu ghinhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức tương đương phải bao gồm:Tên thẻ, phiếu và thông tin về khách hàng (họ và tên, chứng minh nhân dân/căncước công dân/hộ chiếu); Điều kiện và cách thức ghi nhận sự tham gia của kháchhàng vào chương trình khách hàng thường xuyên Trong trường hợp không thểhiện đầy đủ các nội dung nêu tại điểm này thì phải cung cấp đầy đủ, kịp thời cácnội dung đó cho khách hàng khi khách hàng bắt đầu tham gia vào chương trình;

Số lượng, trị giá hàng hóa do khách hàng mua phải thể hiện rõ trong thông tincủa thẻ, phiếu để làm căn cứ xác định lợi ích mà khách hàng được tặng thưởng;

9 Điều 13 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

10 Điều 14 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

Trang 14

điều kiện chi tiết về số lượng, trị giá hàng hóa, dịch vụ do khách mua, sử dụng đểđược nhận thưởng.

1.2.3.8 Khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà quá trình thực hiện có sử dụng internet, phương tiện, thiết bị điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin 11

Ngày nay xã hội ngày càng phát triển, các trang thương mại điện tử cũnglần lượt ra đời và giữ cho mình những vị trí nhất định Việc thông qua đó cónhững chương trình khuyến mại cũng là một hình thức kích thích khách hàngmua sắm đồng thời giữ chân khách hàng

Tại Điều 15, Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định, các thương nhân cungcấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử, website khuyến mại trực tuyếnphải:

Một là, đảm bảo các nội dung thông tin về hoạt động khuyến mại được công bốtrên sàn phải tuân thủ pháp luật về khuyến mại, giao dịch điện tử, quảng cáo vàpháp luật có liên quan

Hai là, yêu cầu thương nhân thực hiện khuyến mại trên sàn cung cấp thông tin vềhoạt động khuyến mại

Ba là, có cơ chế kiểm tra, giám sát để đảm bảo việc cung cấp thông tin củathương nhân thực hiện khuyến mại trên sàn được thực hiện chính xác, đầy đủ Bốn là, có biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện hoặc nhận được phản ánh vềhành vi khuyến mại vi phạm pháp luật trên sàn

Năm là, hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước điều tra, kiểm tra, giám sát các hành vikhuyến mại vi phạm pháp luật, cung cấp thông tin đăng ký, lịch sử giao dịch vàcác tài liệu khác về đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật trên sàn Sáu là, chịutrách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hoạt động khuyếnmại cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng

Ngoài ra còn có thể có thêm các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lýnhà nước về thương mại chấp thuận

1.2.4 Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại

Điều 100 Luật Thương mại 2005 nêu rõ những hành vi bị cấm trông hoạt động

khuyến mại

(1) Khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chếkinh doanh; hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng;(2) Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinhdoanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông,dịch vụ chưa được phép cung ứng;

(3) Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi;

11 Điều 15 Nghị định 81/2018/NĐ-CP

Trang 15

(4) Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mạidưới mọi hình thức;

(5) Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịch vụ để lừa dốikhách hàng;

(6) Khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường,sức khoẻ con người và lợi ích công cộng khác;

(7) Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;

(8) Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng;

(9) Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh (bán hàng hóa, cung ứng dịch vụdưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp kháccùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó);

(10) Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quáhạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại quá mức tối đa theoquy định tại Khoản 4 Điều 94 của Luật này

1.2.5 Thông báo công khai về thông tin khuyến mại.

1.2.5.1 Thông tin phải thông báo công khai

Thông tin chung: Khoản 1 Điều 97 Luật thương mại 2005 có quy định: Đối với tất cả hình thức khuyến mại được quy định tại Điều 92 Luật thương mại

2005 Thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo công khai các thông tin

sau đây:

a) Tên của hoạt động khuyến mại;

b) Giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ khuyến mại và các chi phí có liên quan

để giao hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại cho khách hàng;

c) Tên, địa chỉ, số điện thoại của thương nhân thực hiện khuyến mại;

d) Thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động khuyếnmại;

đ) Trường hợp lợi ích của việc tham gia khuyến mại gắn với các điều kiện cụ thể thìtrong thông báo phải nêu rõ hoạt động khuyến mại đó có kèm theo điều kiện và nộidung cụ thể của các điều kiện.”

Thông tin riêng: Khoản 2 Điều 97 Luật thương mại 2005 quy định: Ngoài các thông tin chung được quy định tại Khoản 1 Điều 97 Luật thương mại 2005, các

thương nhân còn phải thông báo công khai các thông tin liên quan đến hoạt độngkhuyến mại sau đây:

a) Giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ được tặng cho khách hàng đối với hình

thức khuyến mại quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật này;

b) Trị giá tuyệt đối hoặc phần trăm thấp hơn giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụbình thường trước thời gian khuyến mại đối với hình thức khuyến mại quy định tại

Ngày đăng: 01/03/2023, 19:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w