Họ và tên Nguyễn Công Minh Hưng MSV 11171938 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 3 2 Mục đích nghiên cứu 4 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 4 Phương pháp nghiên cứu 4 5 Kết cấu đề án 4[.]
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài ……… 3
2 Mục đích nghiên cứu……… 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4
4 Phương pháp nghiên cứu……… 4
5 Kết cấu đề án ……… 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẬP TRUNG, TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI 1.1 Vai trò, đặc điểm của đất đai và sự cần thiết phải tích tụ đất đai……… 5
1.1.1 Vai trò và đặc điểm của đất đai ……… 5
1.1.2 Khái niệm tích tụ, tập trung đất đai và các hình thức tích tụ, tập trung phổ biến……….7
1.1.3 Sự cần thiết phải tích tụ đất đai……… 9
1.2 Chính sách tâp trung tích tụ đất đai……… 10
1.2.1 Khái niệm và Vai trò của chính sách tập trung, tích tụ đất đai……… 10
1.2.2 Mục tiêu và yêu cầu của chính sách……… 11
1.2.3 Nôi dung chính sách tập trung, tích tụ đất đai……… 12
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tập trung, tích tụ đất đai……… 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TẬP TRUNG, TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM 2.1 Đặc điểm tình hình sử dụng và quản lý đất đai ở Việt nam……… 18
2.1.1 Tình hình sử dụng đất của hộ gia đình ở Việt Nam……… 18
2.1.2 Tình hình sử dụng đất của trang trại nông nghiệp ở Việt Nam……….20
2.1.3 Tình hình quản lý đất đai ở Việt Nam……… 21
Trang 22.2 Thực trạng chính sách tập trung tích tụ đất đai ở Việt Nam……….23
2.2.1 Thực trạng về hệ thống chính sách………23
2.2.2 Thực trạng về tổ chức thực hiện chính sách tập trung tích tụ đất đai…………24
ở Việt Nam 2.2.2.1 Thực trạng tập trung đất đai ở Việt Nam……… 24
2.2.2.2 Thực trạng tích tụ đất đai ở Việt Nam……… 29
2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tập trung tích tụ đất đai ở Việt nam 2.3.1 Các kết quả đạt được……….30
2.3.1.1 Tập trung đất đai……… 30
2.3.1.2 Tích tụ đất đai……… 34
2.3.2 Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân……….34
2.4 Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tập trung tích tụ đất đai ở Việt nam thời gian tới……… 38
KẾT LUẬN……… 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 41
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chủ trương khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất nhằm nâng cao hiệu quả sảnxuất nông nghiệp thông qua mở rộng quy mô sản xuất phù hợp, áp dụng tiến bộ khoahọc công nghệ và hình thành khu vực chuyên canh theo hướng sản xuất nông nghiệphiện đại, chuyên môn hóa gắn với thị trường đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ XI “khuyến khích tập trung ruộng đất, phát triển trang trại, doanh
nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng” và tiếp tục khẳng
định trong văn kiện trình Đại hội XII của Đảng Và tại kỳ họp thứ 4, QH khóa 14,trong Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm 2017; kế hoạch pháttriển KT-XH 2018 của Thủ tướng Chính phủ trình bày trước QH cũng đã đã nhấn
mạnh: “Tập trung tháo gỡ vướng mắc, khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất gắn
với cơ cấu lại nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ” Điều đó cho
thấy, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến chínhsách tập trung, tích tụ đất đai, Thực tiễn cũng đã cho thấy, tích tụ, tập trung ruộng đất
là bước đi cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của tính hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, tạođiều kiện để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất còngặp nhiều khó khăn, vướng mắc đến từ những rào cản có tính pháp lý và chính sách, sựkhông đồng bộ trong khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai gắn với mục tiêu phát triểnbền vững Dẫn đến việc thực hiện còn chưa mang lại hiệu quả, chưa phát huy được hếtcác tiềm năng sử dụng đất đai như mong muốn, đồng thời các địa phương cũng gặpnhiều khó khăn khi triển khai chính sách Chính vì vậy, việc nghiên cứu về các chínhsách liên quan đến tích tụ, tập trung đất đai, đánh giá thực trạng và từ đó đưa ra các giảipháp hoàn thiện là rất cần thiết Đó cũng chính là lý do em chọn đề tài nghiên cứu
“Chính sách tập trung, tích tụ đất đai ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”.
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa các kiến thức đã được học về chính sách tài nguyên
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu về cơ sở lý luận của chính sách tập trung,tích tụ đất đai Từ đó phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách, qua đó
đề xuất các giải pháp chủ yếu, có căn cứ khoa học nhằm hoàn thiện chính sách tậptrung, tích tụ đất đai, góp phần thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai, nâng cao hiệu quả sửdụng tài nguyên đất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề án tập trung vào các chính sách tích tụ, tập trung đất đai
ở Việt Nam Từ việc phân tích những khó khăn, bất cập vướng mắc, các nhân tố ảnhhưởng khi thực hiện chính sách về tích tụ, tập trung đất đai, đưa ra các giải pháp nhằmhoàn thiện, nâng cao hiệu quả của các chính sách tích tụ, tập trung đất đai
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được áp dụng trong đề án bao gồm
+ Thu thập thông tin thứ cấp
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẬP TRUNG, TÍCH TỤ
ĐẤT ĐAI1.1 Vai trò, đặc điểm của đất đai và sự cần thiết phải tích tụ đất đai
1.1.1 Vai trò và đặc điểm của đất đai
a Vai trò của đất đai.
Theo Luật Đất Đai 1993 có ghi: “ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sảnxuất đặc biệt , là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bố các khu vực dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốcphòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân tốn biết bao công sức, xương máu mới tạo lập,bảo vệ vốn đất đai như ngày nay”
Có thể thấy từ lâu đất đai đã được coi là một loại tài nguyên đặc biệt và có vai trò tolớn về cả 2 khía cạnh xã hội và kinh tế Về mặt xã hội, đất đai đóng vai trò là môitrường, không gian sống cung cấp cho con người không gian để sống, làm việc, vuichơi và các hoạt động khác của con người Bên cạnh đó, đất đai còn có vai trò là dichứng lịch sử, là “giang sơn gấm vóc” của quốc gia, đã được nhiều thế hệ gìn giữ đểrồi mỗi “tấc đất” trở thành một “tấc vàng” vô cùng quý giá và thiêng liêng đối với dântộc Về mặt kinh tế, đất đai có vai trò đặc biệt khác nhau giữa các nghành nhưng vai trò
cơ bản nhất đối với mọi ngành kinh tế là vai trò làm nguồn lực sản xuất và địa bàn hoạtđộng Đối với nghành nông nghiệp, do quá trình sản xuất phụ thuộc nhiều vào điềukiện tự nhiên, đất không chỉ là chỗ đứng cho người nông dân mà còn là nguồn cungcấp dinh dưỡng cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt mà cung cấp
Trang 6thức ăn cho gia súc Chính vì vậy đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, khôngthể thay thế trong lĩnh vực nông nghiệp Đối với các nghành công nghiệp chế tạo, chếbiến, đất đai chỉ đóng vai trò là địa bàn hoạt động, là nền tảng và vị trí để thực hiện quátrình sản xuất Tuy nhiên khi tham gia vào nghành công nghiệp khai khoáng, ngoài vaitrò là địa bàn hoạt động, đất đai còn là nguồn cung cấp các loại khoáng sản quý giá,đem lại nhiều lợi ích cho con người Trong nghành dịch vụ, đất đai là tư liệu sản xuấtđặc biệt, là cơ sở tự nhiên về thẩm thực vật, vị trí, không gian thiên nhiên để con ngườikhai thác và sử dụng cho mục đích giải trí cũng như một nguồn đem lại lợi ích kinh tếcho quốc gia.
b Đặc điểm của đất đai.
- Đất đai là sản phẩm của tự nhiên đồng thời là sản phẩm của xã hội
Trải qua nhiều niên đại địa chất từ khi trái đất được hình thành, quá trình phân rã cáclục địa đã tạo nên bề mặt trái đất, trong số đó 30% diện tích về mặt là đất liền và cácđảo Chính vì vậy chúng ta nhận định đất đai là một sản phẩm của tự nhiên, con người
dù bằng bất cứ cách nào cũng không thể tạo ra hay mở rộng thêm diện tích vốn có của
nó Tuy nhiên đất đai lại có thể đóng vai trò như một sản phẩm của xã hội, con ngườitác động vào đất đai nhằm thu được sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu của cuộcsống Tác động này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và làm thay đổi tính chất của đất đai
có thể chuyển đất hoang thành đất sử dụng được hoặc là chuyển mục đích sử dụng đất.Tất cả những tác động đó của con người đã biến đất đai từ một sản phẩm của tự nhiênthành sản phẩm của lao động
- Đất đai có giới hạn về số lượng, nhưng có sức sinh lời vô hạn
Như đã giải thích ở phần trên, đất đai là một tài nguyên không thể sản sinh và cũngkhông thể mở rộng quy mô diện tích của nó dù tự thân hay do tác động của con người.Chính vì vậy diện tích đất đai luôn bị giới hạn về số lượng, giới hạn bởi trái đất, giớihạn ở từng quốc gia, địa phượng và từng đơn vị sử dụng đất Tuy nhiên, nếu được bảo
vệ và giữ gìn tốt thì đất đai sẽ là một tài sản không bị hao mòn theo thời gian và giá trịcủa nó luôn tăng theo thời gian Ví dụ, trong nông nghiệp nếu đất đai được bảo vệ dướitác động của tự nhiên, bổ sung thêm độ phì nhiêu nhân tạo cho đất thì dù qua hàng
Trang 7ngàn, hàng vạn năm hay hàng triệu năm đất đai vẫn có thể sử dụng để cho ra sảnphẩm Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nghành kinh tế khác.
- Đất đai hầu như không thể sản sinh, nhưng có khả năng phục hồi và tái tạo
Trên phương diện khoa học, đất vẫn đang trong quá trình biến đổi từ đá sang đất, từ đấtchưa sử dụng được thành đất có thể sử dụng Tuy nhiên quá trình biến đổi này diễn rarất hạn hẹp và rất chậm, kéo dài hàng vạn, hàng triệu năm
Mặc dù không thể sản sinh thêm nhưng đất đai vẫn có khả năng được phục hồi và táitạo nhờ sự hỗ trợ của con người giúp cải tạo lại đất trong quá trình sử dụng Tuy nhiêncon người phải chấp nhận chi phí cải tạo lớn và tiêu tốn khoảng thời gian dài, hơn nữa
có nhiều trường hợp không thể cải tạo được
- Đất đai có vị trí cố định và sức sinh lợi không đều
Đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được, tính cố định vị trí quyết địnhtính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môi trườngnơi có đất Vì vậy, đất đai được xếp vào bất động sản Tuy nhiên, giá trị của đất đai ởcác vị trí khác nhau lại không giống nhau Đất đai ở đô thị có giá trị lớn hơn ở nôngthôn và vùng sâu, vùng xa; đất đai ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các điều kiện
cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất đai có điều kiện kém hơn.Chính vì vậy, khi vị trí đất đai, điều kiện đất đai từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiệnxung quanh nó trở nên tốt hơn thì đất đó có giá trị hơn Hay khi xét về khía cạnh khaithác và sử dụng thì lại phụ nhiều vào đặc điểm tự nhiên của đất, độ phì nhiêu và cácđiều kiện tự nhiên xung quanh, sẽ đem lại mức sản lượng khác nhau giữa các khu vựcđất
Trang 8- Đất đai có các quan hệ chiếm hữu, sở hữu và sử dụng đất.
Sau khi con người xuất hiện, chúng ta đã chiếm hữu đất đai và các nguồn tài nguyênkhác Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, các chế độ sở hữu và chiếm hữu đất đai dần rađời và phát triển, từ chiếm hữu đất nguyên thủy đến các hình thức sở hữu tư nhân vềđất và mở rông các hình thức sở hữu đất công, sở hữu nhà nước về đất
1.1.2 Khái niệm tích tụ, tập trung đất đai và các hình thức tích tụ, tập trung phổ biến.
a Khái niệm về tích tụ, tập trung đất đai.
Theo Khoản 1 và 2, Điều 3 của dự thảo Nghị Định quy định về tập trung, tích tụ đất đaicho sản xuất nông nghiệp của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường mới đây thì:
+ Tập trung đất nông nghiệp là việc tăng quy mô diện tích đất nông nghiệpthông qua hình thức liên kết, hợp tác, chuyển đổi hoặc thuê quyền sử dụng đất củangười sử dụng đất khác mà không làm thay đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cánhân, tổ chức kinh tế
+ Tích tụ đất nông nghiệp là việc tăng diện tích đất nông nghiệp của người sửdụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn bằng quyền sử dụngđất của những người sử dụng đất khác
Ta rút ra được bản chất và cũng là sự khác nhau cơ bản của 2 quá trình trên như sau:
Tập trung đất đai là sự liên kết nhiều mảnh đất của những người sử dụng đất khácnhau lại thành mảnh đất lớn hơn, khi đó người cho thuê đất sẽ không còn đất canh tácriêng nhưng quyền sử dụng đất của họ vẫn không thay đổi Trong khi đó tích tụ đất đai
là quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để làm tăng diện tích sử dụng đất
từ đó làm thay đổi chủ thể có quyền sử dụng đất từ nhiều người thành một người duynhất
Xét về tính ổn định của chủ thể có quyền sử dụng đất, tích tụ đất đai giúp người tích tụ
có quyền sử dụng đất lâu dài nên sẽ yên tâm hơn khi tập trung đầu tư và phát triểnnông nghiệp vì có đủ quyền năng của chủ sở hữu, nhưng sẽ làm phát sinh bài toán về
xã hội và dân cư khi một bộ phận nông dân sẽ mất quyền sử dụng đất do ông cha để lại
Trang 9b Các hình thức tích tụ, tập trung đất đai phổ biến.
+ Các hình thức tích tụ đất đai: dựa vào định nghĩa được cung câp phía trên ta có thểhình dung ra được phương thức chính của quá trình tích tụ đất đai sẽ là nhận chuyểnnhượng hoặc nhận góp vốn quyền sử dụng đất theo cơ chế thị trường Ngoài ra mộthình thức khác cũng xảy ra khá phổ biến đó là việc thừa kế ruộng đất hay được tặng,cho, điều này thường diễn ra trong các quan hệ gia đình, họ hàng ở các vùng nôngthôn
+ Các hình thức tập trung đất đai: ngoài các phương thức được định nghĩacung cấp như thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào các tổ chứckinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, nhóm nông dân, ), hợp tác, liên kết sản xuất để cócánh đồng quy mô lớn thì các cấp chính quyền và hộ nông dân còn sử dụng các phươngthức như: đổi ruộng (do các hộ nông dân thực hiện trao đổi ruộng theo nguyên tắcngang bằng giá trị), dồn điển đổi thửa và thu hồi đất để làm các dự án phát triển nôngnghiệp ( do các cấp chính quyền thực hiện để kích thích quá trình tập trung đất đai)
1.1.3 Sự cần thiết phải tích tụ đất đai
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập mạnh mẽ các mối quan hệ
kinh tế quốc tế và chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Sự thay đổi của thị trường nông sản ngày nay có một đòi hỏirất khác đối với việc sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ dừng lại ở yêu cầu có sảnphẩm để đưa ra thị trường phục vụ trao đổi trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêudùng Mà thị trường ngày nay đòi hỏi một sự tiêu thụ tập trung, trong quá trình thamgia vào thị trường đó thì khu vực sản xuất và khu vực trung gian làm kênh phân phối,sau đó là đến người tiêu dùng Để kết nối 3 khu vực này với nhau thì đòi hỏi của ngườitiêu dùng hiện nay cũng không giống như trước kia, khi người tiêu dùng chỉ cần sảnphẩm đơn thuần Ngày nay tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đang đặt ra một vấn đề, làphải đảm bảo không chỉ có số lượng mà còn đi kèm theo chất lương Chất lượng ở đâykhông chỉ được xác định trên cơ sở đánh giá là mùi vị có ngon hay không mà quantrọng hơn là đảm bảo về an toàn vệ sinh thực phẩm và các tiêu chuẩn kĩ thuật được đặtra
Trang 10Và để đảm bảo được những yêu cầu đó thì cần đặt ra quá trình sản xuất phải đượckiểm soát và phải tuân theo các tiêu chuẩn sản xuất hết sức nghiêm ngặt, chính vì vâynếu qui mô sản xuất của nông nghiệp tiếp tục phân tán nhỏ lẻ theo quy mô của từng hộgia đình và nó không nằm ở một khu vực tập trung như hiện nay thì gần như rất khó đểđảm bảo được các tiêu chuẩn của kiểm soát chất lượng sản phẩm Những sản phẩmkhông đạt tiêu chuẩn khi sản xuất ra dù có ngon đến mấy nhưng khi đưa ra thị trường
sẽ rất khó được chấp nhận Vì vậy đặt ra đòi hỏi là sản xuất nông nghiệp phải chuyểnsang sản xuất theo một quy mô lớn, sản xuất tập trung, phải chuyển sang sản xuất theomột quy trình công nghệ và phải sản xuất trên các tiêu chuẩn kĩ thuật bắt đầu từ khâuđơn giản nhất như : làm đất, xử lý hạt giống, chăm sóc cây con ,quá trình thu hoạch vàbảo quản sản phẩm… Tất cả quá trình đó đều phải được kiểm soát và khi sản phẩmđược đưa ra thị trường thì người tiêu dùng phải được cung cấp đầy đủ thông tin về toàn
bộ quá trình và sự tuân thủ các quy trình, quy định về mặt kiểm soát an toàn thựcphẩm Khi đó sản phẩm đó mới được tiêu thụ một cách dễ dàng và dễ được chấp nhậnbởi khách hàng
Để chúng ta có được một nền sản xuất nông nghiệp như trên thì không thể sản xuấtphân tán mà phải sản xuất tập trung, sản xuất có kiểm soát và khi đó yếu tố đầu vàođầu tiên, quan trọng nhất của nông nghiệp ấy chính là đất đai Nếu không có một cơ sởđất đai tập trung thì không thể nào có được một nền sản xuất nông nghiệp tập trung vàsản xuất quy trình công nghệ như trên
Thứ hai, việc tập trung, tích tụ đất đai là cơ sở để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, vìchỉ khi đã có được một quy mô đất đai tập trung rồi thì những nhà đầu tư mới yên tâm
để có thể đầu tư lâu dài trên không gian đất đai đó Các quan niệm trước đây về sảnxuất nông nghiệp là sản xuất các cây trồng, vật nuôi với chu kỳ thời gian sản xuất ngắn(6 tháng hay thậm chí cây ngắn ngày chỉ 2 tháng 3 tháng), cây trồng dài ngày, các câycông nghiệp dài ngày, cây ăn quả thì cũng chỉ 10 năm, 20 năm, chính vì vậy người tacho rằng việc tập trung đất đai cũng chỉ cần giới hạn trong khoảng thời gian theo chu
kỳ sản xuất nông nghiệp là đủ Tuy nhiên quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm khi đặtvào nền sản xuất nông nghiệp tập trung, bởi vì sản xuất nông nghiệp tập trung theo 1quy trình công nghệ, thì phần đầu tư cho cây trồng vật nuôi trực tiếp chỉ là một phần rấtnhỏ Yếu tố quan trọng nhất là hạ tầng để phục vụ quá trình sản xuất đó, nhà sản xuất
Trang 11phải quy hoạch lại cánh đồng, phải tạo ra các công trình tưới tiêu tự động, hệ thốngcung cấp phân bón cho cây trồng tự động, hệ thống bảo quản, chế biến , tất cả hệthống đó đều đòi hỏi đầu tư ban đầu là rất lớn Chính vì vậy nếu chúng ta không có đủmột nguồn quy mô đất đai lớn, không có đủ thời gian dài hạn thì không thể nào giúpcho nhà đầu tư dám đầu tư vào hạ tầng , các công nghệ kỹ thuật hiện đại.
Do vậy muốn có 1 nền nông nghiệp sản xuất tập trung, sản xuất chuyên môn hóa theohướng công nghiệp hiện đại thì chúng ta phải có một hệ thống hạ tầng, hệ thống hạtầng này lại đòi hỏi một nền nông nghiệp tập trung, quy mô đủ lớn với một thời gian ổnđịnh lâu dài và chính yếu tố đó đang đặt ra một yêu cầu cần thiết mang tính cấp bách
về tích tụ, tập trung đất đai nông nghiệp ổn định và lâu dài
1.2 Chính sách tâp trung tích tụ đất đai
1.2.1 Khái niệm và Vai trò của chính sách tập trung, tích tụ đất đai
a Khái niệm về chính sách tập trung, tích tụ đất đai
Chính sách tập trung, tích tụ đất đai là tổng thể các can thiệp của nhà nước bằng cácbiện pháp kinh tế và phi kinh tế tác động đến quá trình vận động của tài nguyên đất vàtạo lập các môi trường cho tài nguyên đất vận động, nhằm tận dụng lợi thế về quy mô,biến đất đai thành yếu tố đầu vào của sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng khoa học côngnghệ, xây dựng mối liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp, phát triển dịch vụ, cắtgiảm lực lượng lao động trong nông nghiệp
b Vai trò của chính sách tập trung, tích tụ đất đai.
Chính sách tập trung, tích tụ đất đai có vai trò rất quan trọng, trong phát triển kinh tếnông nghiệp là điều kiện cần và đủ để ngành nông nghiệp có thể gỡ nút thắt trong đẩymạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao
Về mặt chính trị, xã hội thì các chính sách về tập trung, tích tụ đất đai là một công cụ
để đảm bảo sự hài hòa giữa cộng bằng và hiệu quả từ đó hạn chế các tiêu cực của xãhội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nghành nông nghiệp
Bên cạnh đó, các cải cách về chính sách tích tụ, tập trung đất đai cũng là tiền đề, cơ sởthực hiện các cải cách về Luật Đất Đai và các chính sách khác đối với phát triển kinh tế
xã hội nói chung và nghành nông nghiệp nói riêng
Trang 121.2.2 Mục tiêu và yêu cầu của chính sách.
a Mục tiệu của các chính sách tích tụ, tập trung đất đai.
Thứ nhất, các chính sách về tích tụ, tập trung đất đai nhắm tới việc giúp cho thị trườngđất đai dịch chuyển theo quy mô lớn hơn và để có thể dịch chuyển tích tụ về mặt khônggian, thông qua các chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi để hạn chế sự manh múncủa đất đai
Bên cạnh đó cũng tác động dịch chuyển về đối tượng đạt hiệu quả kinh tế, nhắm tớiviệc tập trung nâng cao hiệu quả cho một nhóm các đối tượng sản xuất nông nghiệp,thay vì chia nhỏ hiệu quả sản xuất ra tất cả các hộ nông nghiệp Mục tiêu này khôngphải là loại trừ hoàn toàn sở hữu hộ gia đình về đất nông nghiệp nhưng cần những nhân
tố mới vừa thu hút, tập trung được, vừa sáng tạo trong việc sử dụng đất để thị trườngdịch chuyển tốt hơn
b Yêu cầu về chính sách tập trung, tích tụ đất đai.
Yêu cầu cơ bản và quan trọng được đặt ra đối với các chính sách tích tụ, tập trung đấtđai đó là có thể đảm bảo được sự hài hòa giữa 2 yếu tố công bằng và hiệu quả
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra được tầm quan trọng về hiệu quả sản xuất gia tăngkhi phát huy được lợi thế về quy mô Tuy nhiên nếu thiên quá nhiều về hiệu quả sẽ tạonên một sự mất cân bằng ở khu vực nông thôn, nguyên nhân là vì nền nông nghiệpnước ta hiện tại đang sản xuất bởi số đông người nông dân chứ không phải sản xuấthàng loạt nên việc gia tăng quy mô ruộng đất nông hộ trong quá trình tích tụ, tập trungcũng đồng nghĩa với việc sẽ phải đẩy nhiều lao động ra khỏi khu vực sản xuất nôngnghiệp Điều này có thể dẫn tới sự phân hóa ở khu vực nông thôn và hình thành mộttầng lớp vô sản ở khu vực này, hệ quả là tạo nên sự bần cùng hóa của một bộ phậnngười nông dân khi các hộ gia đình này không còn đất đai hoặc các tài sản để tạo thunhập khác bị mất, cơ hội tham gia các hoạt động phi nông nghiệp bị hạn chế ,
Ngược lại, nếu thiên quá nhiều về đảm bảo tính công bằng thì lại đánh đổi đi hiệu quảsản xuất Chính vì vậy khi lập chính sách về tích tụ, tập trung đất đai thì đảm bảo sựhài hòa giữa công bằng và hiệu quả là yêu cầu quan trọng, cần thiết bậc nhất để có thể
gỡ rối, giải quyết được các rào cản về cả mặt kinh tế lẫn chính trị xã hội, từ đó mà cóthể đẩy nhanh được quá trình tích tụ, tập trung đất đai
Trang 131.2.3 Nôi dung chính sách tập trung, tích tụ đất đai.
Nội dung của các chính sách tập trung, tích tụ đất đai là tập hợp các tư tưởng, quanđiểm của nhà nước về quá trình tập trung, tích tụ ruộng đất, các tư duy về nền nôngnghiệp tam nông và vấn đề về đại sở hữu đất nông nghiệp Từ đó xét cùng với tìnhhình, thực trạng chuyển dịch đất nông nghiệp đang diễn ra để đưa ra các khuyến khích,
hỗ trợ nhằm thúc đẩy công cuộc tích tụ, tập trung đất đai, cũng như hạn chế các vấn đềđang diễn ra trong quá trình này
Để có một quan điểm rõ ràng về tập trung, tích tụ đất đai hiện nay, các chính sách và cảpháp luật đã được thay đổi, tiến bộ hơn qua các thời kỳ lịch sử
Thời kỳ đổi mới, nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp đãđược thay thế bằng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sảnViệt Nam lần thứ VI tháng 12 – 1986, Luật đất đai năm 1987 ra đời, trong đó quy định
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý” Lúc này, các nông
trường, lâm trường, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xãhội và cá nhân đều được nhà nước cấp giấy chứng nhận việc giao đất để có thể xử dụng
ổn định, lâu dài Nhưng tại thời điểm này quan điểm của nhà nước về việc trao đổi,buôn bán đất là không được phép Sau một thời gian ngắn, Nghị quyết 10 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI năm 1988 về "Đổi mới quản
lý nông nghiệp" (còn gọi là Khoán 10) được ban hành và được coi là dấu mốc quan
trọng đánh dấu bước đột phá về nông nghiệp Với các quan điểm liên quan đến vấn đềtích tụ, tập trung ruộng đất (Khoán 10): “Đối với đất trồng rừng và cây công nghiệp dàingày, có thể giao quyền sử dụng từ 1 đến 2 chu kỳ kinh doanh Đối với mặt nước vàđất trồng cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, thời gian đó có thể từ 15 đến 20năm Trong thời gian này, họ được giao quyền thừa kế sử dụng cho con cái và trongtrường hợp chuyển sang làm nghề khác được chính quyền cho phép chuyển nhượngquyền tiếp tục sử dụng cho chủ khác” Theo đó, hộ nông dân được thừa nhận là mộtđơn vị kinh tế độc lập, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, và đượcgiao đất đai ổn định và lâu dài (từ 10 – 15 năm) Sau khoán 10, một số văn kiện Đảng
về đất đai tiếp tục khẳng định quyền sử dụng đất thuộc về toàn dân và đẩy mạnh công
Trang 14cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp như: Nghị quyết Đại hội VII và Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 2 khóa VII năm 1992 đã đề ra chủ trương: “Ruộng đất thuộc quyền
sở hữu toàn dân, giao cho nông dân quyền sử dụng lâu dài.”; Nghị quyết Hội nghị lần
thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 6-1993) về "Tiếp tục đổi mới vàphát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn
Năm 1993, Luật đất đai tiếp tục được sửa đổi và ban hành đã tách quyền sở hữu vàquyền sử dụng đất đai theo hướng khẳng định quyền sở hữu đất thuộc về toàn dân doNhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, nhưng hộ gia đình vẫn đượcgiao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài và có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, chothuê, thế chấp và thừa kế quyền sử dụng đất, đó là quyền sở hữu quyền sử dụng đất.Hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân và thời hạn giao đất cũng được cũng
đã được quy định trong Luật Đất Đai 1993
Sau hơn 4 năm kể từ ngày Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực, Đại hội Đảng và BộChính trị cũng đã họp và ban hành hai Nghị quyết quan trọng có liên quan tới vấn đềphát triển nông thôn và nông nghiệp trong đó có đề cập tới vấn đề tích tụ ruộng đất mộtcách hợp lý theo tiến trình công nghiệp hóa, gồm:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng 1997)”về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quảhợp tác kinh tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh
12-tế - xã hội đến nǎm 2000, theo đó Nhà nước tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn và đặt ra yêu cầu phải thựchiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp hàng hoá và chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và thu nhập cho nông dân nghèo.
Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị (khóa VIII) tháng 11-1998 về “Một số vấn đề nôngnghiệp và nông thôn”, trong đó tiếp tục khẳng định “ Việc chuyển nhượng quyền sửdụng đất, tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình pháttriển nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá lớn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàphân công lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”,Nghị quyết cũng đưa ra thêm cơ sở cho việc tích tụ, tập trung đất đai “Nông dân đượcNhà nước giao đất để sản xuất (không phải trả tiền) trong phạm vi hạn điền và đượcNhà nước cho thuê phần đất vượt hạn điền ở những vùng có điều kiện Những người
Trang 15không phải là nông dân được Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất trống, đồi núi trọc,đất bồi ven biển, đất hoang hoá để đầu tư, phát triển nông, lâm, ngư nghiệp với diệntích phù hợp với từng vùng theo quy định của pháp luật.”
Căn cứ 2 chủ trương phát triển nông nghiệp của 2 nghị quyết trên, đến năm 2000 Nghịquyết Số: 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại được ban hành Quan điểm của nhànước khi ban hành nghị quyết này là nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi hơncho sự phát triển mạnh mẽ kinh tế trang trại Cũng trong nghị quyết này các chính sáchđược đưa ra để khuyến khích phát triển đầu tư, khai thác hiệu quả và bảo hộ kinh tếtrang trại như: “Hộ gia đình có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trạiđược Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất… Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sảnsống tại địa phương có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để mở rộng sản xuất thì ngoàiphần đất đã được giao trong hạn mức của địa phương còn được ủy ban nhân dân xã xétcho thuê đất để phát triển trang trại.”
Đến năm 2003, Luật đất đai được sửa đổi nhằm phù hợp với tình hình kinh tế - xã hộibấy giờ Luật đất đai năm 2003 đã xác định quyền sử dụng đất là hàng hóa, được thamgia vào thị trường và theo điểm a khoản 1 Điều 56 thì việc định giá đất của Nhà nước
quy định tại phải đảm bảo nguyên tắc: “Sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường ”
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nghị
quyết số 26-NQ/TW “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" đã tiếp tục khẳng định
đất đai là sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để
sử dụng có hiệu quả; giao đất cho hộ gia đình sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sửdụng đất,, thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai Tại văn kiện đại hội VII của Đảng đã nêu
rõ quan điểm về tích tụ và tập trung đất đai: “Chú trọng đầu tư vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp Có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp; từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao.”
Với mục tiêu luật hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề đất đai, Luật đấtđai tiếp tục được sửa đổi và ban hành vào năm 2013 Trong đó, Luật đất đai năm 2013vẫn giữ hạn mức giao đất, nhưng đã mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử
Trang 16dụng đất và thời gian sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân theo hướng cho phép hộ giađình, cá nhân được phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không quá 10 lần hạnmức giao đất nông nghiệp, đồng thời nâng thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạnmức đối với hộ gia đình từ 20 năm lên 50 năm cho tất cả các loại đất.
Như vậy, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tạo điều kiện cho tích tụ,tập trung ruộng đất, thể hiện ở việc gia tăng thời hạn giao đất cũng như tăng hạn mứcnhận chuyển quyền sử dụng đất Chính sách, pháp luật đất đai khuyến khích, tạo điềukiện cho người sử dụng đất tích tụ, tập trung đất đai theo quy mô lớn và yên tâm hơntrong việc đầu tư vào đất đai
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tập trung, tích tụ đất đai
Do yêu cầu về đảm bảo sự hài hòa giữa công bằng và hiệu quả nên ngoài các vấn đề vềkinh tế thì các yếu tố về xã hội cũng tác động không nhỏ đến quá trình lập chính sách
về tập trung, tích tụ đất đai Có 2 nhóm yếu tố tác động ảnh hưởng đến việc lập cácchính sách tập trung, tích tụ đất đai
* Nhóm tác động thứ nhất là nhóm các yếu tố không thuộc về nhà nước Nhóm nhân tốnày bao gồm các yếu tố về tình hình dư thừa lao động nông nghiệp nông thôn, sự pháttriển của thị trường đất đai và cả yếu tố về tâm lý giữ đất của người nông dân bao đờinay
Về yếu tố dư thừa lao động nông nghiệp, do quá trình tích tụ, tập trung đất đai luôn gắnliền với quá trình rút lao động ra khỏi nông nghiệp, thực tế cho thấy dưới tác động củathị trường và rủi ro của nó sẽ khiến cho nhiều hộ nông dân chuyển sang làm nghề khác
và đất đai được chuyển sang một bộ phận những người làm nông khác có kinh nghiệm,vốn sản xuất và biết cách tổ chức sản xuất Tuy nhiên, khi họ tách khỏi làm nôngnghiệp sẽ xảy ra những trường hợp bị hạn chế tiếp cận các nghành nghề phi nôngnghiệp, sự phân hóa ở nông thôn giữa những người có đất và người không có đất sẽxảy ra Từ thực trạng này mà các chính sách bên cạnh việc tạo điều kiện cho tích tụ, tậptrung, còn cần phải có các giải pháp trợ giúp phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh xãhội cho người dân, đặc biệt là những người nghèo không có đất
Ảnh hưởng của thị trường đất đai hay thị trường quyền sử dụng đất đối với các chínhsách về tích tụ, tập trung phụ thuộc vào sự phát triển của nó đang ở mức nào và tính
Trang 17minh bạch của thị trường Khi thị trường đất đai không được hoạt động một cách trơntru, ở phía cung người nông dân không muốn bán, trong khi ở phía cầu thì doanhnghiệp lại có nhiều rào cản để có thể tích tụ, tập trung, từ đó mà ảnh hưởng đến quátrình thực hiện chính sách về tích tụ, tập trung Vì thế khi xảy ra tình trạng này thì cácchính sách phải hỗ trợ, khuyến khích người nông dân lên sàn giao dịch đất, bên cạnh
đó cũng cần đưa ra các chính sách về minh bạch thông tin trên thị trường
Yếu tố về tâm lý muôn đời nay của người nông dân về việc có mảnh đất cắm dùi cũng
có ảnh hưởng đến việc ra chính sách của nhà nước Khi người nông dân vẫn khôngthoát li được tâm lý giữ đất sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của thị trường đất đainhư đã phân tích ở ý trên, từ đó làm chậm lại quá trình tích tụ, tập trung Từ nguyênnhân này mà các chính sách lại cần phải bổ xung các hình thức về tuyên truyền, giaodục cho người nông dân về quan điểm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của nhà nước,lợi ích của việc tích tụ, tập trung đất đai đối với các thành phần trong xã hội,
* Nhóm yếu tố thuộc về nhà nước
Các quan điểm của nhà nước về tích tụ, tập trung ruộng đất và về nền nông nghiệp đại
sở hữu sẽ góp phần xây dựng nên các chính sách liên quan Ví dụ như hiện nay, quanđiểm của nhà nước vẫn tiếp tục giữ hạn điền do những lo sợ về việc đầu cơ tích trữ đấtđai của người có tiền, hay các doanh nghiệp chỉ thu gom quyền sử dụng đất để sau nàybán lại dự án cho doanh nghiệp khác Chính vì vậy mà hiện tại các quan điểm về hạnđiền của nhà nước vẫn là tiếp tục nới lỏng chứ không loại bỏ, vì quan điểm này nên khilập chính sách sẽ thực hiện việc khuyến khích, thúc đẩy tích tụ ruộng đất thông quaviệc mở rộng hạn điền
Trang 18CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
TẬP TRUNG, TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
2.1 Đặc điểm tình hình sử dụng và quản lý đất đai ở Việt nam
2.1.1 Tình hình sử dụng đất của hộ gia đình ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc sử dụng đất manh mún theo quy mô hộ tiểu nông sản xuất tự cung,
tư cấp đang chiếm ưu thế lớn đã làm chậm lại quá trình tích tụ, tập trung đất đai và việc
sử dụng đất bị kém hiệu quả và không bền vững
Từ năm 2011 đến 2016, trên phạm vi cả nước số lượng hộ sản xuất nông nghiệp có trên
1 ha chỉ chiếm từ 13-16% và hơn 70% diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
có diện tích nhỏ hơn 0.5 ha Như vậy, diện tích canh tác bình quân mỗi lao động nôngnghiệp Việt Nam ở mức 0,34 hecta, chỉ bằng từ 0,6 - 0,8 lần các nước trong khu vựcnhư Campuchia, Myanma và Philipin
Trang 19
(Nguồn : Báo cáo Phát triển quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam – PGS.TS Vũ Thị Minh)
Ở đồng bằng Sông Cửu Long, có thị trường sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triểnmạnh nhưng các hộ có quy mô trên mức hạn điền (3ha) không nhiều Ở vùng trung du,miền núi và vùng đồng bằng Bắc Bộ tình hình tích tụ, tập trung đất đai diễn ra chậmhơn, đặc biệt ở khu vực đồng bằng sông Hồng có hơn 70% số mảnh đất nhỏ hơn 0.2 ha
Trang 20( Nguồn: Báo cáo Phát triển quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam – PGS.TS Vũ Thị Minh)
Bên cạnh tình trạng manh mún của đất thì việc phân mảnh đất đai của các hộ gia đìnhvẫn đang diễn ra ở các vùng trong cả nước Tình trạng phân mảnh của các hộ ở vùngmiền núi phía Bắc thậm chí còn nghiêm trọng hơn do đặc thù địa hình đồi núi Đất đai
ở khu vực phía Nam ít phân mảnh hơn, diện tích trung bình của các thửa ruộng ít bịchia nhỏ Điều này là do đặc thù về địa lý và lịch sử và tình hình mật độ dân số nên đấtđai ở khu vực phía Bắc manh mún hơn rất nhiều so với khu vực phía Nam
Trang 21(nguồn: Báo cáo Phát triển quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam – PGS.TS Vũ ThịMinh)
2.1.2 Tình hình sử dụng đất của trang trại nông nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại phát triển nhanh về số lượng ở hầu hết các vùng trong cảnước Theo Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm ngày 1-7-2016, cả nước có 33.488trang trại, tăng 13.400 trang trại so với năm 2011 Trong đó, vùng đồng bằng sôngHồng tăng 6.435 trang trại ( chiếm gần một nửa số trang trại tăng thêm trong 5 nămqua của cả nước), các trang trại này sử dụng 187 nghìn héc-ta diện tích đất sản xuấtnông, lâm, thủy sản, (tăng 35,9 nghìn héc-ta si với năm 2011) Trong đó có 60 nghìnhéc-ta đất trồng cây hằng năm; 79.5 nghìn héc-ta đất trồng cây lâu năm; 17,6 nghìnhéc-ta đất lâm nghiệp và 29.8 nghìn héc-ta đất nuôi trồng thủy sản Bình quân 1 trangtrại sử dụng 5.6 héc-ta đất sản xuất nông, lâm, thủy sản Diện tích đất sản xuất nông,lâm, thủy sản bình quân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là 8.8 ha/trang trại, phíaĐông Nam Bộ là 7.6ha/trang trại, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 7.4 ha/trang trại, Tây Nguyên là 6.4 ha/trang trại