1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Tập Lớn Môn Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Tên Đề Tài Vai Trò Giám Sát Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

24 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Giám Sát Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
Tác giả Nhóm Tín Chỉ
Người hướng dẫn Th.S Trần Ngọc Hằng
Trường học Học Viện Ngân Hàng - Khoa Lý Luận Chính Trị
Chuyên ngành Đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 354,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TẬP LỚN MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TÊN ĐỀ TÀI VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Th S TRẦN NGỌC H[.]

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TÊN ĐỀ TÀI: VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC

Trang 2

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TÊN ĐỀ TÀI: VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC

VIỆT NAM

DANH SÁCH NHÓM:

1 Lưu Thị Ngọc Ánh – 18A4020044

2 Trần Hoàng Nam – 18A4040152

3 Triệu Thị Loan – 18A4000442

4 Nguyễn Thị Thơ – 18A4010513

5 Mai Thị Hoà – 18A4030109

HÀ NỘI - 2017

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC 2

1.1 Sơ lược về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2

1.1.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Một tổ chức liên minh chính trị 3

1.1.3 Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 5

1.2 Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 6

1.2.1 Khái niệm giám sát 6

1.2.2 Mục đích giám sát 7

1.2.3 Đối tượng giám sát 7

CHƯƠNG 2 8

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 8

2.1 Thực trạng hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 8

2.1.1 Giám sát đối với hoạt động của tổ chức Đảng 8

2.1.2 Giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước 8

2.1.3 Giám sát hoạt động tư pháp 9

2.1.4 Giám sát việc thực thi chính sách pháp luật 10

2.1.5 Giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo 11

2.1.6 Giám sát đối với cán bộ, công chức, viên chức và Đảng viên 11

2.2 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 12

2.2.1 Một số tồn tại, hạn chế 12

2.2.2 Nguyên nhân hạn chế 13

CHƯƠNG 3 14

GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 14

3.1 Tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò giám sát cảu Mặt trận Tổ quốc 14

3.2 Giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 15

Trang 5

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận và công tác giám sát của Mặt trận 15 3.2.2 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc 16 3.2.3 Đổi mới phương thức phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc với các cơ quan nhà nước về công tác giám sát 17 3.2.4 Một số giải pháp khác 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị của nước ta, có vai trò quan trọng trong việc phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước tích cực chăm lo, bảo vê quyền lợi chính đáng của nhân dân

Qua thực tiễn, có thể thấy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tích cực đổi mới phương thức hoạt động và tiếp tục làm tốt vai trò của mình, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao, trong đó nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đó là giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước

Trước yêu cầu đởi mới của toàn bộ hệ thống chính trị, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước; đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, thì việc tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là là thực sự cần thiết, rất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Thực hiện quyền giám sát cũng đồng thời là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chính là góp phần củng cố và bảo vệ chính quyền nhân dân cũng như Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Từ những lý do trên, nhóm 6.2 quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” Từ đó, nhóm đề ra một

số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc các cấp, góp phần xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, hoạt động có hiệu quả, thực sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Thành viên nhóm 6.2 rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của Giảng viên

và các bạn sinh viên để hoàn thiện hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ VAI

TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC 1.1 Sơ lược về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh - hình thức tổ chức đầu tiên của

Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam Từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam không bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đã không ngừng phát triển và trưởng thành, đã có những đóng góp to lớn vào những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hình thức tổ chức của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay

Trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò của Một trận trong sự nghiệp cách mạng Để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về công tác Mặt trận trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, tháng 6-1999, Nhà nước đã ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó quy định vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các thành viên trong hệ thống chính trị

Trang 8

1.1.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Một tổ chức liên minh chính trị

a Khái niệm đặc điểm:

Khoản 1 Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định: "Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức

chính trị, các tổ chúc chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu

trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không có hội viên, chỉ có các thành viên bao gồm các thành viên tổ chức và các thành viên cá nhân Mặt trận Tổ quốc được

tổ chức theo nguyên tắc liên hiệp tự nguyện của các thành viên Các thành viên tham gia Mặt trận đều có địa vị bình đẳng và độc lập với nhau

b Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

- Tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân

- Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước

- Tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước

- Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân

- Cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân

- Tham gia phát triển tình hữu nghị hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới

Từ nhiệm vụ chung của Mặt trận Tổ quốc nêu trên, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc từng cấp căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và tình hình cụ thể của một địa phương để đề ra nhiệm vụ hoạt động cho Mặt trận cấp

Trang 9

mình trong một kỳ đại hội hay chương trình phối hợp thống nhất hành động từng năm một cách phù hợp và có tính khả thi

c Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

- Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam tổ chức và hoạt động theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phù hợp với Hiến pháp và pháp luật

- Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở một cấp là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương cử ra, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam"

- Các thành viên gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện trên cơ

sở tự nguyện, tán thành Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việc Nam, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp xem xét, công nhận Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hợp tác, bình đẳng, đoàn kết, chân thành, tôn trọng lẫn nhau

- Trong sinh hoạt và hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các thành viên đều có quyền trình bày ý kiến của mình, cùng trao đổi, bàn bạc, hiệp thương dân chủ để đạt sự nhất trí, không dùng mệnh lệnh, áp đặt Nếu có những ý kiến khác nhau trên những vấn đề cụ thể thì cùng nhau trao đổi, thuyết phục, giúp nhau giải quyết Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên phải thỏa thuận với nhau về chương trình hành động chung và có phối hợp giúp đỡ nhau để thực hiện, đồng thời các tổ chức thành viên của Mặt trận vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình

Trang 10

1.1.3 Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Theo quy định tại khoản 2 điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

- Vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Trong hệ thống chính trị được quy

định rõ: Với Đảng, Mặt trận Tổ quốc do Đảng lãnh đạo; với Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; với các đoàn thể nhân dân, Mặt trận là nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên

Vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được quy định rõ trong Luật

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đã nước trong thời kỳ qúa

độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua cũng ghi rõ: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” là tổ chức liên minh

chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân

tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận…”

- Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

Mặt trận Tổ quốc có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Mặt trận thể hiện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận khẳng định mà do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận Từ khi đất nước

Trang 11

thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng

cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn tồn tại lâu dài các giai cấp tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo Với nền kinh tế nhiều thành phần có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ đoàn kết, hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với nền dân chủ ngày càng phát triển thì vai trò của Mặt trận và các đoàn thể

ngày càng được mở rộng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng lớn của cách mạng nước ta"

1.2 Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1 Khái niệm giám sát

Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của

Đảng nêu ra như sau: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của

cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái”

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không mang tính quyền lực, là giám sát mang tính nhân dân Mặt trận là nơi thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vận động nhân dân giám

Trang 12

sát, tham gia giám sát hoặc độc lập giám sát theo nhiệm vụ, quyền hạn do pháp

luật quy định với cơ chế “ theo dõi, phát hiện, kiến nghị” cơ quan nhà nước có

thẩm quyền xem xét, giải quyết và giám sát việc giải quyết kiến nghị đó

Đặc trưng cơ bản của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận đối với hoạt động của Nhà nước là giám sát không mang tính quyền lực Nhà nước; không có quyền xử lý đối với các cơ quan nhà nước khác hay các cá nhân chịu trách nhiệm

1.2.2 Mục đích giám sát

Theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hoạt động giám sát của Mặt trận

Tổ quốc với mục đích là “hỗ trợ cho công tác giám sát,kiểm tra, thanh tra của Nhà nước nhằm góp phần xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, làm cho

bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả”; từ đó, quản lý tốt mọi mặt của đời sống xã hội theo pháp

luật của Nhà nước, thể hiện được quyền lực của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Cần tránh những khuynh hướng lệch lạc cho rằng giám sát chỉ nhằm đi tìm những khuyết điểm, sai sót, những việc làm sai trái của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức

1.2.3 Đối tượng giám sát

Theo quy định Hiến pháp năm 1992, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên bao gồm: giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, giám sát cán bộ, công chức nhà nước; giám sát đại biểu dân cử

Trang 13

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT

TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 2.1 Thực trạng hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

2.1.1 Giám sát đối với hoạt động của tổ chức Đảng

Trước khi có Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 thì chưa có văn bản nào của Đảng quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thức

và cơ chế giám sát đối với tổ chức Đảng, đảng viên, mà chủ yếu là mang tính nguyên tắc chung quy định trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Do vậy, giám sát của Mặt trận các cấp cũng chỉ dừng lại ở hoạt động góp ý kiến, kiến nghị vào dự thảo các văn kiện của các cấp ủy Đảng trước khi trình Đại hội Đảng các cấp; các dự thảo nghị quyết, quyết định, chỉ thị của cấp ủy Đảng có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân, đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận và đề án nhân sự của cấp ủy Đảng trước khi trình ra Đại hội (khi Đảng có yêu cầu)

2.1.2 Giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

- Giám sát hoạt động bầu cử Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân:

Trong các cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác hiệp thương dân chủ lựa chọn, giới thiệu người để cử tri bầu làm đại biểu Quốc hội, đâị biểu Hội đồng nhân dân

Trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ

2004-2009, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã loại khỏi danh hiệp thương chính thức 2.709 người do đã phát hiện vi phạm chính sách, pháp luật, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm đạo đức, lối sống và không được cử tri nơi công tác, nơi cư trú tín nhiệm, trong đó cấp tỉnh 36 người, cấp huyện 202 người, cấp xã 2.471

Ngày đăng: 01/03/2023, 19:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w