NHÂN MỘT CA VIÊM PHỔI KẼ TIẾN TRIỂN NHANH VIÊM DA CƠ, ĐIỂM LẠI CÁC NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI KẼ VIÊM DA CƠ HIỆN CÓ Vũ Thị Thu Trang Trần Quang Bằng Vũ Văn Giáp Phan T
Trang 1NHÂN MỘT CA VIÊM PHỔI KẼ TIẾN TRIỂN NHANH
VIÊM DA CƠ, ĐIỂM LẠI CÁC NGHIÊN CỨU
LỰA CHỌN THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI KẼ VIÊM DA CƠ HIỆN CÓ
Vũ Thị Thu Trang
Trần Quang Bằng
Vũ Văn Giáp
Phan Thu Phương
Đại học Y Hà Nội
Tác giả chịu trách nhiệm:
Vũ Thị Thu Trang
Đại học Y Hà Nội
Email: trangvu@hmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 30/08/2021
Ngày phản biện: 25/10/2021
Ngày đồng ý đăng: 02/11/2021
TÓM TẮT
Viêm da cơ là hình thái viêm cơ tự miễn hay gặp nhất, thường được đặc trưng bởi tình trạng viêm cơ kèm theo tổn thương trên da và các tổn thương các cơ quan khác, trong đó
có tổn thương phổi, mà quan trọng nhất là bệnh lý phổi kẽ Tỷ
lệ mắc bệnh phổi kẽ thay đổi trong khoảng từ 20 - 80% bệnh nhân viêm đa cơ và viêm da cơ, trong đó có một tỷ lệ không nhỏ (37,5%) bệnh nhân có bệnh phổi kẽ khởi phát trước tình trạng viêm cơ Tiến triển tự nhiên cũng như mức độ nặng của bệnh phổi kẽ trong nhóm bệnh lý viêm cơ tự miễn nói chung
và bệnh lý viêm da cơ nói riêng, thay đổi phụ thuộc vào từng thể lâm sàng, cận lâm sàng nhất định, tương ứng với chiến lược điều trị khác nhau Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa
có một hướng dẫn điều trị cụ thể cho bệnh lý viêm da cơ có tổn thương phổi kẽ, và việc quản lý các bệnh nhân này chủ yếu dựa trên kết quả từ các chuỗi ca bệnh hồi cứu cũng như
ý kiến của các chuyên gia Điều này dẫn tới sự khó khăn đáng
kể trong việc lựa chọn các phương án điều trị tối ưu đặc biệt trong các trường hợp tổn thương phổi kẽ tiến triển nhanh Chúng tôi xin trình bày dưới đây một trường hợp ca lâm sàng viêm da cơ có tổn thương phổi kẽ tiến triển nhanh, dù đã được chẩn đoán, khởi động điều trị kịp thời nhưng bệnh nhân vẫn kháng lại với hầu hết các điều trị cơ bản hiện tại và tử vong, để lại nhiều trăn trở và tiếc nuối
Từ khóa: Viêm phổi kẽ, viêm da cơ, hội chứng kháng
synthetase, viêm phổi kẽ cấp tính, viêm phổi kẽ tiến triển nhanh, viêm phổi kẽ kháng trị .
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm da cơ là hình thái viêm cơ tự miễn
hay gặp nhất, thường được đặc trưng bởi tình
trạng viêm cơ kèm theo tổn thương trên da và
các tổn thương các cơ quan khác, trong đó có
tổn thương phổi, mà quan trọng nhất là bệnh
lý phổi kẽ Tỷ lệ mắc bệnh phổi kẽ thay đổi trong khoảng từ 20 - 80% bệnh nhân viêm đa
cơ và viêm da cơ, trong đó có một tỷ lệ không nhỏ (37,5%) bệnh nhân có bệnh phổi kẽ khởi
Trang 2phát trước tình trạng viêm cơ [1], [2] Tiến triển
tự nhiên cũng như mức độ nặng của bệnh phổi
kẽ trong nhóm bệnh lý viêm cơ tự miễn nói
chung và bệnh lý viêm da cơ nói riêng, thay đổi
phụ thuộc vào từng thể lâm sàng, cận lâm sàng
nhất định, tương ứng với chiến lược điều trị
khác nhau [3], [4] dermatomyositis (DM do diễn
tiến tự nhiên và sự đáp ứng điều trị là rất thay
đổi giữa các bệnh nhân viêm da cơ - viêm phổi
kẽ (DM-ILD), việc đánh giá tiên lượng là bước
then chốt trước khi bắt đầu quản lý ở đối tượng
này, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của việc
phân tích các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng
và đặc biệt là các dấu ấn miễn dịch Mặc dù vậy,
cho đến nay, vẫn chưa có một hướng dẫn điều
trị cụ thể cho bệnh lý viêm da cơ có tổn thương
phổi kẽ, và việc quản lý các bệnh nhân này chủ
yếu dựa trên kết quả từ các chuỗi ca bệnh hồi
cứu cũng như ý kiến của các chuyên gia [5]
Điều này dẫn tới sự khó khăn đáng kể trong
việc lựa chọn các phương án điều trị tối ưu đặc
biệt trong các trường hợp tổn thương phổi
kẽ tiến triển nhanh Các dữ liệu hiện có từ các
nghiên cứu quan sát gợi ý rằng việc lựa chọn
phương pháp điều trị khởi đầu nên phụ thuộc
vào mức độ nặng của bệnh phổi kẽ cũng như
từng bệnh cảnh lâm sàng nhất định, và không
có các bằng chứng đủ mạnh liên quan tới việc
ưu tiên một loại thuốc nhất định nào hơn so với
các loại khác Bệnh phổi kẽ tiến triển nhanh và
nặng đòi hỏi một phác đồ điều trị phối hợp các
thuốc ức chế miễn dịch tích cực như là liều cao
Glucocorticoid (GC),Cyclophosphamide (CYC),
chất ức chế calcineurin (CNI), hoặc Rituximab
(RTX) trong trường hợp kháng lại các liệu pháp
truyền thống Trong khi đó, các dạng bệnh phổi
kẽ mạn tính ổn định hoặc tiến triển chậm có
thể được quản lý tốt nhất chỉ với corticosteroids
liều thấp và/hoặc thuốc ức chế miễn dịch
đường uống dài hạn (MMF hoặc AZA), hoặc
thậm chí có thể theo dõi mà không cần dùng
thuốc Chúng tôi xin báo cáo một trường hợp
viêm da cơ – viêm phổi kẽ tiến triển nhanh, để thấy được phần nào sự khó khăn đã nhắc tới
mà các bác sĩ lâm sàng thường xuyên phải đối mặt, không chỉ ở riêng chẩn đoán, mà là chọn lựa phương pháp điều trị, phù hợp với từng trường hợp nhất định, khi phải tính đến cả diễn tiến phức tạp, đáp ứng khó dự đoán của bệnh, cũng như điều kiện hiện tại ở Việt Nam
2 GIỚI THIỆU CA BỆNH
Bệnh nhân Nữ, 46 tuổi, nhập viện vì khó thở, diễn biến trong vòng 10 ngày trước khi vào viện Tháng 3 năm 2021, bệnh nhân xuất hiện sưng đau các khớp nhỏ nhỡ hai bàn tay, đau kiểu viêm, kèm theo tê bì, tím các đầu ngón tay, ngón chân khi tiếp xúc với lạnh Bệnh nhân
đã được chẩn đoán là Viêm khớp dạng thấp, điều trị thuốc không rõ loại, sau đó chuyển sang dùng nhiều loại thuốc nam, thuốc bắc thì
đỡ ít Tháng 7 năm 2021 bệnh nhân xuất hiện thêm ban đỏ vùng ngực, lưng bên cạnh các triệu chứng tại khớp và đến khám tại 1 cơ sở y
tế được chẩn đoán: Theo dõi bệnh lý hệ thống,
và điều trị Methylprednisolon 16mg/ngày, Hydroxychloroquin 200mg/ngày Bệnh nhân dùng thuốc 10 ngày sau đó tự bỏ thuốc
Ngày 1 tháng 9 năm 2021, Bệnh nhân bắt đầu xuất hiện mệt mỏi nhiều, khó thở, tăng lên khi gắng sức; kèm ho khan; sưng đau nhiều khớp nhỏ, nhỡ đối xứng 2 bên kèm; xuất hiện nhiều tổn thương da tăng lên ở vùng lưng, khuỷu tay hai bên Sau 10 ngày, bệnh nhân khó thở tăng lên nhiều, khó thở cả khi nghỉ ngơi, phải nhập viện cấp cứu Tại thời điểm nhập viện, bệnh nhân suy hô hấp nặng, SpO2 95% khi thở oxy mask túi 15 lít/phút (sau đó đã được chuyển sang thở máy không xâm nhập với FiO2: 80%); ho khan; với tổn thương da nhiều vị trí (hình 1), đau khớp kiểu viêm; không sốt (thân nhiệt: 37 độ C), mạch: 110 lần/phút, Huyết áp: 120/70 mmHg, không phù, phổi nhiều ran nổ hai bên, tim nhịp đều các tiếng tim rõ
Trang 3Hình 1 Tổn thương da ở bệnh nhân XÉT NGHIỆM BAN ĐẦU
Pro-calcitonin
KHÍ MÁU ĐỘNG MẠCH
Trang 4XÉT NGHIỆM MIỄN DỊCH
Âm tính
Điện tim: nhịp xoang đều, tần số 110 lần/phút
Chẩn đoán hình ảnh lồng ngực: CLVT ngực tại thời điểm ngày 11/09: Tổn thương kính mờ,
đông đặc lan tỏa cả 2 bên phổi (Theo dõi tổn thương phổi kẽ cấp tính – AIP) (hình dưới)
Trang 5XÉT NGHIỆM VI SINH
Đờm: Vi khuẩn nhuộm soi, Vi khuẩn nuôi cấy
AFB, PCR-MTB, genXpert – MTB
Vi nấm soi tươi, Vi nấm nuôi cấy
Pneumocystic jirovecii nhuộm soi
Âm tính
Máu: HIV Ab, HBsAg, HCV Ab
Strongyloides stercoralis (Giun lươn) Ab
CMV IgM, EBV IgM
Âm tính
Bệnh nhân được chẩn đoán: Suy hô hấp -
Viêm da cơ có hội chứng kháng synthetase với
tổn thương phổi kẽ dạng AIP mức độ nặng, tiến
triển nhanh
2 ngày đầu sau nhập viện, bệnh nhân được
điều trị:
- Hỗ trợ hô hấp: thở máy không xâm
nhập BiPAP I/E: 8/4, FiO2: 75%
- Corticosteroid: 80 mg/ngày (tương
đương prednisone liều tấn công: 2 mg/kg/ngày)
- Kháng sinh (Imipenem/cilastatin 3 g/
ngày + Levofloxacin 1g/ngày)
Sau đó, từ ngày thứ 3 sau nhập viện, bệnh
nhân đã được điều trị:
- Glucocorticoid (GC) liều xung
(Methylprednisolone 1000 mg/ngày x 3 ngày)
sau chuyển sang liều duy trì Methylprednisolon
80 mg/ngày (tương đương với liều cao
prednisone: 2 mg/kg/ngày) và
- Thuốc ức chế miễn dịch: MMF (Mycophenolate Mofeti) khởi đầu 2g/ngày sau
đó tăng lên 3g/ngày
- Tiếp tục duy trì kháng sinh tĩnh mạch (Imipenem, Levofloxacin) đủ 7 - 10 ngày sau chuyển sang điều trị dự phòng PJP bằng Sulfamethoxazole/Trimethoprim 960 mg/ngày
- Dự phòng xuất huyết tiêu hóa bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI): Esomeprazole
40 mg/ngày
- Dự phòng huyết khối tĩnh mạch bằng Enoxaparin tiêm dưới da 40 mg/ngày
- Tập luyện phục hồi chức năng hô hấp, vận động tại giường
Trong vòng 2 tuần sau khi hoàn tất liều pulse GC tình trạng lâm sàng của bệnh nhân
có cải thiện: với FiO2 đã giảm dần từ 80% (thời điểm khi nhập viện) xuống còn 50%; phim Xquang chụp tại giường: tổn thương phổi có cải thiện theo thời gian
Hình 3: Tổn thương phổi có xu hướng giảm dần trong vòng 2 tuần sau liều pulse GC: hình bên trái: phim chụp ngày 17/09, hình
Trang 6Đến ngày 30/09/2021, bệnh nhân có dấu
hiệu tiến triển xấu với suy hô hấp tăng dần
với FiO2 tăng từ 60% lên 100% để duy trì oxy
hóa máu, tuy nhiên không có bằng chứng của
nhiễm trùng: không sốt, chỉ ho khạc ít đờm
trắng trong, xét nghiệm viêm trong giới hạn
bình thường, Pro-calcitonin làm lại: 0,095 ng/ml
Sau khi tiến hành hội chẩn đa chuyên
khoa về bệnh phổi kẽ lần 2, bệnh nhân được
thay đổi phác đồ ức chế miễn dịch sang truyền
tĩnh mạch Cyclophosphamid với liều 750 mg
(tương ứng với 0,5 g/m2 da), tiếp tục duy trì
Glucocorticoid liều tấn công (Methylprednisolon
80 mg/ngày) Đồng thời thêm kháng sinh chống
nấm Itraconazole 200 mg/ngày (bên cạnh
Sulfamethoxazole/Trimethoprim 960 mg/ngày)
Tuy nhiên, tình trạng bệnh nhân không
cải thiện, tiếp tục duy trì thở máy không xâm
nhập với FiO2: 90 - 100 % Ngày 04/10/2021,
bệnh nhân cấy đờm ra Klebsiella pneumonia
nhạy với Imipenem và Levofloxacin Bệnh nhân
được dùng lại kháng sinh truyền tĩnh mạch:
Imipenem, Levofloxacin
Ngày 07/10/2021, bệnh nhân xuất hiện
nhiều cơn hồi hộp đánh trống ngực, mạch
nhanh 190 - 200 lần/phút, khó thở tăng, với điện
tâm đồ cho thấy các cơn nhịp nhanh nhĩ tần số
190 - 200 chu kỳ/phút Bệnh nhân đã được xử
trí cấp cứu bằng Digoxin tiêm tĩnh mạch chậm,
nhưng không cải thiện, sau đó được truyền
tĩnh mạch Amiodarone thì đáp ứng, với nhịp
tim duy trì từ 120 - 140 lần/phút Tuy nhiên tình
trạng suy hô hấp xấu hơn, nhịp thở 50 lần/phút
với FiO2 100% chỉ duy trì SpO2 88 - 92% Sau
đó, với tiên lượng rất xấu, nguy cơ tử vong cao,
gia đình bệnh nhân xin cho bệnh nhân ra viện,
bệnh nhân tử vong tại nhà
3 BÀN LUẬN
Ở thời điểm hiện tại, vẫn chưa có các đồng
thuận về quản lý bệnh phổi kẽ trong bệnh lý
này chủ yếu dựa trên các nghiên cứu hồi cứu và
ý kiến của các chuyên gia [5]
Do diễn tiến tự nhiên và sự đáp ứng điều trị là rất thay đổi giữa các bệnh nhân viêm da
cơ - viêm phổi kẽ (DM-ILD), việc đánh giá tiên lượng là bước then chốt trước khi bắt đầu quản lý ở đối tượng này, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của việc phân tích các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng và đặc biệt là các dấu
ấn miễn dịch Bệnh phổi kẽ trong viêm đa cơ (PM-ILD) dường như đáp ứng với các phương pháp điều trị truyền thống tốt hơn so với bệnh phổi kẽ trong viêm da cơ (DM-ILD) [3], [4] Đối với trường hợp viêm da cơ - viêm phổi kẽ (PM - ILD), kháng thể kháng MDA5 - một loại kháng thể viêm cơ đặc hiệu liên quan tới thể lâm sàng này - thường đi kèm với tổn thương loét da, diễn tiến nhanh với biểu hiện bệnh phổi kẽ cấp/bán cấp nặng, kháng lại với glucocorticoid,
và có tiên lượng tồi [5], [6] Ngược lại, các kháng thể kháng aminoacyl tRNA synthetase, một nhóm tự kháng thể liên quan tới hội chứng kháng synthetase (ASS), thường tiên lượng khả năng đáp ứng tốt với điều trị nói chung và GC nói riêng dù đi kèm với nguy cơ tái phát bệnh cao hơn [7-9] Trong đó, kháng thể kháng PL7 (Anti-PL7) và kháng thể kháng PL12 (Anti-PL12) thường đi kèm với tổn thương phổi kẽ nặng hơn, nhất là khi so sánh với kháng thể kháng Jo-1 (Anti Jo-1) [10 -12]
Các dữ liệu hiện có từ các nghiên cứu quan sát gợi ý rằng việc lựa chọn phương pháp điều trị khởi đầu nên phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh phổi kẽ cũng như từng bệnh cảnh lâm sàng nhất định, và không có các bằng chứng đủ mạnh liên quan tới việc ưu tiên một loại thuốc nhất định nào hơn so với các loại khác Bệnh phổi kẽ tiến triển nhanh
và nặng đòi hỏi một phác đồ điều trị phối hợp các thuốc ức chế miễn dịch tích cực như là liều cao GC, Cyclophosphamide (CYC), chất ức chế
Trang 7trường hợp kháng lại các liệu pháp truyền
thống Trong khi đó, các dạng bệnh phổi kẽ mạn
tính ổn định hoặc tiến triển chậm có thể được
quản lý tốt nhất chỉ với corticosteroids liều thấp
và/hoặc thuốc ức chế miễn dịch đường uống
dài hạn (MMF hoặc AZA), hoặc thậm chí có thể
theo dõi mà không cần dùng thuốc
Gần đây, Fujisawa và cộng sự (2021) đã đề xuất 1 phác đồ tiếp cận điều trị với các trường hợp bệnh phổi kẽ trong bệnh lý viêm cơ tự miễn [13]
CORTICOSTEROID (GC): Mặc dù các bằng
chứng còn ít, cũng như chưa có các thử nghiệm
lâm sàng có đối chứng để đánh giá hiệu quả, GC
nhìn chung vẫn được coi là điều trị nền tảng, hay
nói cách khác là lựa chọn đầu tay trong bệnh lý
phổi kẽ trong bệnh mô liên kết nói chung, và
trong viêm phổi kẽ - viêm cơ tự miễn nói riêng
[14], [15] Trong nhóm bệnh lý phổi kẽ - viêm
cơ tự miễn, GC thường được bắt đầu với liều
tương ứng prednisone 1 - 2 mg/kg/ngày trong
4 - 8 tuần, sau đó được giảm dần liều một cách
từ từ trong các tháng tiếp theo Các trường hợp
cơ nặng, liều xung (pulse) methylprednisolone truyền tĩnh mạch 0,5 - 1g/ngày x 3 ngày, tại thời điểm ban đầu có thể có lợi ích nhất định [14], [16], [17] Ngoài các dấu ấn miễn dịch như trình bày ở trên, một trong những cách để dự đoán khả năng đáp ứng với GC là dựa vào hình thái tổn thương phổi kẽ GC có thể có hiệu quả đáng
kể đặc biệt trong các dạng tổn thương như viêm phổi kẽ cấp tính (AIP) hoặc NSIP, OP - những dạng tổn thương với sự tăng sinh nhiều tế bào viêm hơn là tình trạng xơ hóa
Nhìn chung, GC được sử dụng ban đầu với
Hình 4 Lựa chọn điều trị ở bệnh nhân Viêm phổi kẽ trong bệnh lý viêm cơ tự miễn
(IIM - ILD) theo Fujisawa và cộng sự (2021)