1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM NGUYỄN THỊ HƯƠNG LAN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SÁNG TẠO TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành Lý luận và phương[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
-
NGUYỄN THỊ HƯƠNG LAN
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SÁNG TẠO TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn
Văn - Tiếng Việt
Mã số: 9 14 0111
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2022
Trang 2Công trình được hoàn thành tại : Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Vân
2 PGS.TS Hoàng Hòa Bình
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 101 Trần Hưng Đạo, Hà Nội Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thế giới đang chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ và kì diệu của công nghệ đã làm thay đổi nhiều mặt đời sống xã hội Những sáng tạo không biên giới về công nghệ đã thổi bùng những thay đổi lớn lao trên khắp thế giới Gốc rễ của sự phát triển tích cực đó xuất phát từ chỗ năng lực (NL) của con người ngày càng được nâng cao Đó cũng là lí do khiến yêu cầu phát triển các NL cho con người trở thành mục tiêu giáo dục có ý nghĩa toàn cầu Trong các NL đó, không thể không nhắc
NL sáng tạo Nhờ có NL sáng tạo con người có thể đối mặt với những thử thách trong cuộc sống NL sáng tạo cũng là điều kiện để con người vượt lên được những gì đã có; chinh phục
những thành tựu lớn lao hơn, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội
1.2 Trước bối cảnh chung của thế giới, Việt Nam đang đứng trước những điều kiện
và cơ hội để tranh thủ cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Song thực tế cho thấy, những sáng tạo đột phá cũng đặt ra nhiều thách thức khi sự dịch chuyển mô hình diễn ra trên mọi phương diện xã hội trong đó có hệ thống giáo dục Điều đó đòi hỏi chúng ta không những chỉ học hỏi kinh nghiệm giáo dục của các nước phát triển, mà cần áp dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo, tìm ra con đường phát triển riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước Định hướng giải quyết vấn đề này, Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020, Luật giáo dục 2019 (Điều 29) điều này cho thấy song song với việc dạy tri thức, phát triển năng lực sáng tạo (NLST) được xem là vấn đề quan trọng trong giáo dục con người
1.3 Trong năm 2018, Bộ GD&ĐT công bố Chương trình giáo dục phổ thông, gồm
Chương trình GDPT tổng thể và Chương trình các môn học, hoạt động trải nghiệm Cốt lõi của sự thay đổi là chuyển quá trình dạy học từ định hướng nội dung (chủ yếu trang bị kiến thức) sang định hướng phát triển phẩm chất và NL cho người học Hòa vào dòng chảy đó, môn Ngữ văn với đặc trưng là môn học công cụ và mang tính nhân văn không chỉ đảm đương mục tiêu phát triển các NL đặc thù của môn học mà còn phải hướng tới phát triển các phẩm chất, NL chung, trong đó có NL sáng tạo
1.4 Phát triển NLST có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với HS, môn Ngữ văn cũng là môn học ẩn tàng nhiều “vỉa quặng” để có thể “khai thác bền vững” nhằm phát triển NLST, bản thân nhiều HS, GV cũng khao khát được thể hiện mình trên con đường sáng tạo, Tuy nhiên, đánh giá NLST của HS như thế nào trước những sản phẩm học tập đa dạng, trước những yêu cầu tạo lập và tiếp nhận văn bản đang còn là một câu hỏi lớn cần giải đáp từng
bước Đó là lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá NLST trong tạo lập văn bản nghị
luận của HS trung học phổ thông” với mong muốn góp một tiếng nói về vấn đề phát triển
Trang 4NLST – một trong những mục tiêu có ý nghĩa hết sức quan trọng của công cuộc đổi mới GDPT hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về NLST trong tạo lập VBNL, đánh giá NLST của HS THPT trong tạo lập VBNL luận án tiến hành xây dựng chuẩn đánh giá và thiết kế công cụ đánh giá là câu hỏi mở nhằm đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT, góp phần thực hiện đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: đánh giá NLST trong tạo lập văn bản nghị luận của HS
THPT
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của của việc đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT
- Xác định các những định hướng và căn cứ để xây dựng xuất chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT
- Xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT
- Triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu khẳng định tính khả thi, độ tin cậy của chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT mà luận
án đề xuất
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi xây dựng công cụ để ĐG NLST trong viết bài văn nghị
luận của HS THPT, đáp ứng mục tiêu ĐG NLST của CT Ngữ văn 2018; chủ yếu tập trung vào câu hỏi mở, là công cụ phù hợp nhất trong việc ĐGNLST của HS; nội dung thực nghiệm tiến hành ở khối 10 và 11
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, NCS sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau: Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận, Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, Phương pháp thử nghiệm sư phạm và một số phương pháp khác
6 Giả thuyết khoa học
Tạo lập văn bản nghị luận trong nhà trường phổ thông là quá trình người học thể hiện ý kiến, quan điểm của cá nhân về một vấn đề trong đời sống hoặc trong tác phẩm văn học
Quá trình này thể hiện rõ nét dấu ấn sáng tạo của mỗi cá nhân Do vậy, nếu xây dựng được chuẩn đánh giá và sử dụng tốt công cụ đánh giá là hệ thống câu hỏi mở thì sẽ khuyến khích
và tạo cơ hội giúp HS thể hiện được NLST trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, đồng thời thực hiện được vai trò và chức năng của hoạt động ĐG NL của HS, trong đó có NLST
Trang 57 Những đóng góp mới của luận án
- Về lí luận: Luận án hệ thống hóa các thành tựu nghiên cứu về đánh giá NLST trong tạo lập
VBNL theo định hướng phát triển năng lực; trình bày quan niệm về NLST trong tạo lập VBNL; xác định các thành tố và biểu hiện của NLST trong tạo lập VBNL Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung cho những lý luận về NLST, đánh giá NLST nói chung
và đánh giá NNLST trong tạo lập VBNL trong nhà trường phổ thông
- Về thực tiễn: Luận án đã đề xuất chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL và thiết kế câu
hỏi mở nhằm đánh giá NLST trong tạo lập VBNL được sử dụng trong hai hình thức đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất và NL
người học theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần phần mở đầu và kết luận, luận án có cấu trúc 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn
bản nghị luận của HS THPT
Chương 2: Xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của HS THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SÁNG TẠO
TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về năng lực sáng tạo
Qua việc tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài như J.P Guiford, Holland (1959), Blom, Getzels, L.X.Vưgotxki, M.N.Sacdacôp, G Pôlia, E.P.Torrance, May (1961), Mackinnon D.W, Yahamoto (1963), E.P Torrance (1965), Barron, Blom, Getzels, Helmholtz, và một số tác giả của Liên Xô (cũ) như A.N Luck, V.N Puskin, B.M Kedrôp, M.G Larôsepxki, G.S Klostul và N.A Mensinxkaia, X.L.Rubinxtein, X.L.Vưgôxki, N.G Alexayep, Ia Derner, E.M Maiarxki,… và ở Việt Nam như Phan Dũng (1992) ; Phạm Văn Hoàn(1967); Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Châu An, (2004), Lê Hải Yến (2008), Nguyễn Trọng Hoàn (2016); Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Kế Hào, Vũ Quốc Chung, Trần Hiệp, Đỗ Long, Tôn Thân, Trần
(2013), Trần Thị Bích Liễu (2013), Phạm Thị Bích Đào (2014), Hoàng Hòa Bình (1997), Nguyễn Thị Hồng Vân (2017), có thể thấy các vấn đề về NLST được nghiên cứu chủ yếu
ở khía cạnh tâm lý học là TDST và được chủ yếu nghiên cứu lồng ghép với các vấn đề khác,
Trang 6trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Vẫn thiếu những vận dụng vào từng lĩnh vực cụ thể, chưa đi vào việc nghiên cứu cấu trúc, bản chất, đặc trưng, cơ chế hoạt động của tư duy sáng tạo Những nghiên cứu về NLST trong môn học Ngữ văn là những gợi mở cần thiết để tác giả có thể tiếp tục đi sâu nghiên cứu về NLST trong từng mạch nội dung cụ thể của môn học
1.1.2 Những nghiên cứu về đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản
Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số tài liệu của một số tác giả: Katie Larsen MacClarty và Matthew N.Gaertner (2015), Barbara E.Walvoord, Melanie Williams, Nguyễn Thị Lan Phương (2016), Đỗ Ngọc Thống (2013), Phạm Thị Thu Hương (2013) Trần Thị Hiền Lương (2013) Nguyễn Thị Hạnh (2013), Nguyễn Thị Hồng Vân (2013), Nguyễn Thu Hạnh và Nguyễn Thị Châm (2013), Phùng Thị Vân Anh, Trần Văn Vụ, Bùi Đình Hà, Phạm Gia Mạnh, Đặng Thị Mây, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Trí,… .,…
Những nghiên cứu của các tác giả trên đã cho chúng tôi những quan niệm và định hướng quan trọng để tiếp tục tìm hiểu về các vấn đề đặt ra của đề tài luận án Đặc biệt các
đề xuất của tác giá Nguyễn Thị Hạnh và Trần Thị Hiền Lương về việc đánh giá năng lực viết và sử dụng câu hỏi mở trong đánh giá năng lực viết là những gợi mở cần thiết để vận dụng vào việc đánh giá năng lực tạo lập văn bản của HS ở cấp học cao hơn, đồng thời cũng cho thấy cần tiếp tục tìm hiểu về câu hỏi mở - một công cụ hữu hiệu trong đánh giá NLST của HS đã được nhắc đến nhiều trong thời gian qua Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra một quan niệm đầy đủ về việc gắn kết giữa công cụ đánh giá là câu hỏi mở/đề mở với mục tiêu đánh giá năng lực sáng tạo của HS trong tạo lập văn bản, từ đó đưa ra chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT trong môn Ngữ văn
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Quan niệm về năng lực sáng tạo và năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận
1.2.1.1 Sáng tạo
Qua việc tìm hiểu các quan niệm của một số tác giả nước ngoài và trong nước, trong
khuôn khổ của luận án, chúng tôi quan niệm: Sáng tạo là hoạt động của cá nhân để tạo ra
cái mới, độc đáo, có giá trị và có ý nghĩa hoặc những cách giải quyết, đề xuất mới Kết quả
của quá trình sáng tạo là một sản phẩm do một cá nhân hay một nhóm tạo ra, mang những dấu ấn cá nhân của người sáng tạo, có giá trị và được thừa nhận
1.2.1.2 Năng lực
Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận năng lực của CT Giáo dục
phổ thông tổng thể (2018) Quan niệm này thống nhất với những nhìn nhận về năng lực của
các tác giả, các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế ở việc xác định 3 vấn đề sau: 1/năng lực
là thuộc tính của cá nhân; 2/năng lực có được nhờ sự huy động, tổng hòa của các yếu tố kiến
Trang 7thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác để giải quyết hiệu quả một loại hoạt động nhất định; 3/năng lực được thể hiện qua hoạt động trong điều kiện, bối cảnh cụ thể
1.2.1.3 Năng lực sáng tạo
Từ các quan điểm, định nghĩa trong và ngoài nước, có thể khái quát về năng lực sáng
tạo như sau: đó là là khả năng của một cá nhân hoặc tập thể, thể hiện trong quá trình suy
nghĩ, tìm tòi để phát hiện, đề xuất các ý tưởng mới, nhìn nhận vấn đề theo cách mới, phát hiện cái mới trong cái cũ, để tạo ra các sản phẩm mới
Căn cứ các nghiên cứu về cấu trúc của NLST và đề xuất biểu hiện NLST nêu trên, có thể khái quát các thành tố của NLST như sau:
Đề xuất ý tưởng mới
Hình thành và triển khai ý tưởng mới
Đưa ra giải pháp mới và vận dụng vào thực tiễn
Sáng tạo sản phẩm mới
1.2.1.4 Năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của HS THPT
a) Văn bản nghị luận
Từ các định nghĩa cho thấy văn nghị luận là kiểu văn bản người viết, người nói đưa
ra các lý lẽ kết hợp với dẫn chứng nhằm thuyết phục người đọc, người nghe đồng tình với
quan điểm của mình về một vấn đề nào đó
Một văn bản nghị luận được tạo lập bao giờ cũng dựa trên một yêu cầu xác định (được gọi là đề bài hay đề văn) Mọi yêu cầu của bài văn nghị luận đều phải xoay quanh yêu cầu của đề bài Đây cũng là căn cứ để xác định các yêu cầu, tiêu chí đánh giá bài văn nghị luận của HS
b) Năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của HS THPT
Chúng tôi quan niệm năng lực sáng tạo của HS trong tạo lập lập văn bản nghị luận được biểu hiện theo những yêu cầu cụ thể sau đây:
Phát hiện ý tưởng,
hướng đi riêng cho vấn
đề
(1) Đề xuất được ý tưởng (đúng – trúng) (2) Phát triển ý tưởng được đề xuất (3) Kết nối bổ sung thêm ý tưởng
Nhuần nhuyễn, linh hoạt
về mạch ý
(4) Đề xuất được các giải pháp triển khai ý tưởng (hệ thống
ý, lý lẽ) (5) Đưa được dẫn chứng mới, tạo bất ngờ, thú vị (6) Kết nối lý lẽ và dẫn chứng nhuẫn nhuyễn, tạo bước đi mạch lạc, linh hoạt cho bài viết
Góc nhìn riêng, đa chiều (7) Tiếp cận vấn đề từ nhiều góc nhìn
(8) Có tư duy phản biện, đối sánh, lật đi lật lại vấn đề
Diễn đạt linh hoạt, có ấn
tượng
(9) Sử dụng được các từ, câu, đoạn hay, có tính thẩm mỹ cao (10) Giọng văn lôi cuốn, hấp dẫn người đọc
Trình bày hấp dẫn (11) Sử dụng hình thức trình bày độc đáo để làm nổi bật nội
Trang 8dung (viết thư, làm thơ, kịch,…) (12) Kết hợp một số hình thức biểu đạt (kênh chữ, kênh hình)
Sơ đồ cấu trúc NLST của HS trong tạo lập VBNL được trình bày như sau:
Từ sơ đồ cấu trúc trên, chúng tôi xác định và mô tả các mức độ biểu hiện NLST trong tạo lập VBNL của HS theo bảng sau:
5 Lan toả và
hứng sáng tạo
HS theo đuổi nhiều ý tưởng mới trong việc cảm nhận vấn đề xã hội và văn học; có khám phá riêng, độc đáo, hấp dẫn trong cách thức trình bày;
có khả năng thuyết phục người khác cùng đồng điệu với cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân; có cách thức riêng trong việc vận dụng những hiểu biết về các vấn đề xã hội và văn học vào cuộc sống của bản thân
4 Đánh giá ý
pháp
HS phát hiện được nhiều khía cạnh có giá trị khi tiếp cận các vấn đề xã hội và văn học; biết xem xét vấn đề từ nhiều góc nhin, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; không thành kiến khi xem xét, đánh giá
NL sáng tạo Trong tạo lập VBNL
Đề xuất hệ thống lý lẽ
Tìm kiếm dẫn chứng
Tổ chức mạch ý nhuần nhuyễn
Tiếp cận vấn đề đa chiều
Sử dụng từ, câu, đoạn linh
hoạt
Có giọng điệu riêng
Sử dụng hình thức biểu đạt độc đáo
Trình bày
đa phương thức
Đề xuất ý tưởng mới
Phát triển ý tưởng
Bổ sung, hoàn thiện ý tưởng
Tư duy phê phán, phản
biện
Trang 9vấn đề; có khả năng suy nghĩ độc lập để điều chỉnh, thay đổi phương án triển khai vấn đề; sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề
3 Chia sẻ và
thực hiện giải
pháp
HS có khả năng phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến của người khác và vận dụng hiệu quả khi giải quyết các vấn đề xác hội và văn học; có thể phân tích, tổng hợp được các ý kiến để lựa chọn cách thức triển khai phù hợp; xác định được các lập luận và minh chứng đáng tin cậy cho quá trình triển khai vấn đề
2 Kết nối
thông tin và
xác định giải
pháp
HS có khả năng phát triển ý tưởng khi tiếp nhận các vấn đề xã hội và văn học; có khả năng suy nghĩ và kết nối những thông tin liên quan; biết nêu câu hỏi theo nhu cầu cá nhân để tìm hiểu các thông tin khác nhau từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau để cung cấp thông tin đến người đọc về một vấn đề xã hội và văn học
1 Nhận diện
thông tin và
bước đầu đề
xuất ý tưởng
HS có thể xác định được một số thông tin ban đầu và nhận diện được vấn đề từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn; nêu được ý kiến của cá nhân về vấn đề xã hội và văn học; bước đầu tập hợp được thông tin về các vấn đề được thể hiện trong các tài liệu được tiếp nhận
Việc xác định biểu hiện NLST trong tạo lập VBNL của HS theo các mức độ trên đây
là căn cứ để tìm hiểu và đề xuất các nội dung liên quan đến đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS được trình bày sau đây
1.2.2 Đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập VBNL của HS THPT
1.2.2.1 Đánh giá
Qua việc phân tích các khái niệm, chúng tôi thấy đánh giá vừa là hoạt động của GV,
vừa là hoạt động của HS Vì vậy, “đánh giá HS là quá trình thu thập thông tin; phân tích,
xử lý và giải thích thực trạng việc học của HS; xác định nguyên nhân, đưa ra những biện pháp cải thiện việc dạy và việc học để HS dần tiến bộ theo hướng mục tiêu GD”
Như vậy có thể thấy đánh giá là quá trình gồm 4 công đoạn cơ bản:
(1) Thu thập thông tin
(2) Xử lý và phân tích thông tin cần
(3) Giải thích hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng giáo dục
(4) Đưa ra hoạt động cải thiện thực trạng để nâng cao chất lượng dạy học
1.2.2.2 Đánh giá năng lực
a) Khái niệm
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi đưa ra quan
niệm về đánh giá năng lực:“Đánh giá năng lực người học là quá trình thu thập, phân tích,
xử lý và giải thích chứng cứ về sự phát triển năng lực của người học; xác định nguyên nhân, đưa ra những biện pháo cải thiện việc dạy và việc học dựa trên chuẩn thực hiện
Trang 10Đánh giá năng lực không chỉ ĐG cái mà HS “biết” mà cần ĐG những gì HS “làm”; quan tâm nhiều hơn đến sự tiến bộ và mức độ năng lực của mỗi cá nhân được bộc lộ trong quá trình học tập, qua đó có sự điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học phù hợp Đánh giá dựa theo năng lực lấy kết quả đầu ra và các phương diện biểu hiện năng lực của người học làm căn cứ, chú ý đến các nội dung đánh giá mang tính tổng hợp, gắn với việc giải quyết các tình huống thực tiễn
b) Hình thức đánh giá năng lực
Xét theo tính liên tục và thời điểm đánh giá thì có hai hình thức đánh giá: đánh giá thường xuyên/đánh giá quá trình và đánh giá định kỳ/đánh giá tổng kết
*Đánh giá thường xuyên/đánh giá quá trình: là đánh giá chất lượng thành tích của
HS trong tiến trình học tập đó GV có thể kịp thời nhận được các tin tức phản hồi, kịp thời điều tiết kiểm soát nhằm thu gọn khoảng cách giữa quá trình dạy học và mục tiêu dạy học
Đồng thời qua đó kịp thời cải tiến phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò
*Đánh giá định kỳ/đánh giá tổng kết: Đánh giá định kỳ được thực hiện sau khi học
xong một chương, một phần của CT hoặc sau một học kì Bài kiểm tra tổng kết nhằm đánh giá năng lực học tập tổng hợp, khả năng khái quát, hệ thống hoá kiến thức, năng lực trình bày diễn đạt một cách bài bản, rõ ràng, trong sáng Kết quả đánh giá định kỳ giúp GV và HS nhìn lại kết quả dạy và học sau những kì hạn nhất định, đánh giá trình độ HS nắm bắt một khối lượng kiến thức, kĩ năng tương đối hệ thống, củng cố mở rộng những điều đã học, đặt
cơ sở tiếp tục sang những phần học mới
c) Công cụ đánh giá năng lực
Một số công cụ ĐG thường dùng là: Đề KT viết; Phiếu quan sát; Các loại phiếu hỏi, phiếu học tập
Trong các công cụ đánh giá hiện nay, câu hỏi mở/đề mở được coi là công cụ được sử dụng có hiệu quả trong đánh giá bài viết luận của học sinh
d) Chuẩn đánh giá năng lực
Khi thực hiện quy trình ĐG NL, một trong những khâu quan trọng nhất là xây dựng chuẩn ĐG Chuẩn đánh giá năng lực là những mô tả, hình ảnh, hoặc cả hai về con đường phát triển năng lực theo trong suốt quá trình giáo dục (theo thời gian) Đánh giá một năng lực bất kỳ nào ở người học cũng cần phải giải thích kết quả theo chuẩn ĐG năng lực đó, hay thang ĐG năng lực – là mô tả các mức độ khác nhau về sự phát triển năng lực theo các tiêu chí đã xác định Thang đánh giá năng lực cần mô tả được sự phát triển thành tích và khả năng của học sinh, theo các mức độ từ thấp đến cao, tương ứng với từng lĩnh vực và từng giai đoạn học tập Chuẩn đánh giá NLST là sơ sở để thiết kế rubric đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT
a) Khung đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của HS THPT