162 TIẾP CẬN PHÁT THANH CỦA NGƢỜI DÂN VÙNG NÖI PHÍA BẮC Th S Bùi Thu Hương Bài viết này nhằm mô tả thực trạng tiếp cận phƣơng tiện phát thanh của ngƣời dân Tây Bắc qua khảo sát ở sáu xã phƣờng thuộc h[.]
Trang 1TIẾP CẬN PHÁT THANH CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG NÖI
PHÍA BẮC
Th.S Bùi Thu Hương
Bài viết này nhằm mô tả thực trạng tiếp cận phương tiện phát thanh của người dân Tây Bắc qua khảo sát ở sáu xã phường thuộc hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái Nằm giáp ranh giữa hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc Việt Nam, hai tỉnh này có vị trí địa lý- kinh tế vô cùng quan trọng Lào Cai được mệnh danh như cửa ngõ giao thương giữa Việt Nam và Tây Nam Trung Quốc và Yên Bái là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Nơi đây còn có hàng chục dân tộc cùng chung sống với những bản sắc văn hoá vô cùng phong phú và đặc sắc1
1 Vài nét về đặc điểm nhân khẩu học
Người trả lời (NTL) được lựa chọn từ hai phường và bốn xã thuộc hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái Do đó, đa phần sinh sống tại địa bàn nông thôn, chiếm 66,7% so với 33,3% thuộc các khu vực đô thị Chênh lệch về giới tính của NTL không lớn, 53% là nam so với 47% là nữ
Đa phần NTL là dân tộc Kinh (49,7%), còn lại là các dân tộc như Dao (22,8%), Nùng (12,8%), H‟Mông (4,5%), Tày (3,8%) và một số dân tộc khác Hơn 98% NTL không theo tôn giáo nào 79,2% là các hộ gia đình trung bình và khá giả
Có 13% NTL chưa bao giờ đi học và có 10,2% NTL không biết đọc/ viết tiếng Việt và tiếng dân tộc của mình Đa phần NTL thuộc lứa tuổi từ 21 đến 50 (chiếm khoảng 75%) 88,8% NTL đang có vợ/ chồng
Nghề chính của NTL là sản xuất nông nghiệp, chiếm 48,8%, cán bộ viên chức là 17,5% và buôn bán dịch vụ là 13,8%, số người làm lâm
1 Giới thiệu chung về tỉnh Lào Cai Tài liệu trên mạng, truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2007, tại địa chỉ
http://www.laocai.gov.vn/home/view.asp?id=66&id_theloai=153 ; Giới thiệu chung về tỉnh Yên Bái Tài liệu trên mạng, truy cập ngày 21/04/2007, tại địa chỉ
http://vi.wikipedia.org/wiki/Y%C3%AAn_B%C3%A1i
Trang 2nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp như một nghề chính không đáng kể, chiếm khoảng 7,0% Có tới 69% NTL không làm thêm nghề phụ gì, bên cạnh một tỷ lệ khá nhỏ NTL làm các nghề phụ như công nhân, tiểu thủ công (8,2%), SX nông nghiệp (6,8%), buôn bán/ dịch vụ (5,8%) hay lâm nghiệp (5,0%)
2 Tiếp cận phát thanh của người dân
Hệ thống truyền thông đại chúng cung cấp thông tin về mọi mặt của đời sống xã hội, bao gồm tất cả các khía cạnh như chính trị, văn hóa, xã hội… nhiều nghiên cứu cho thấy số lượng thông tin xã hội mà con người
trong xó hội hiện đại thu nhận được là thông qua hệ thống TTĐC.Phát
thanh đi đến với nhiều nhóm công chúng khác nhau phân bố nhiều vùng trong cả nước và đến với nhóm người dân nghèo dễ dàng nhất và sóng phát thanh có hầu hết trên cả nước kể cả vùng sâu vùng xa;
Theo báo cáo của Bộ Văn hoá Thông tin, ngày 19-1-2005, tại Hội nghị Toàn quốc về Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực truyền thanh:
Hệ thống phỏt thanh ở Việt Nam có hàng trăm đài phát sóng, riêng Đài Tiếng Nói Việt Nam là đài quốc gia thuộc chính phủ, trực tiếp quản lý 11 đài với công suất 8.000 KW Địa phương: 64 đài phát thanh trực thuộc Uỷ ban Nhân dân tỉnh thành Ngoài ra, có 612 đài phát thanh cấp huyện; 7.916 truyền thanh cấp xã Đài Tiếng Nói Việt Nam (Voices of Vietnam)
có 6 hệ chương trình: VOV1: thời sự, chính trị; VOV2: văn hoá đời sống; VOV3: âm nhạc, thông tin giải trí; VOV4: dành cho dân tộc thiểu số; VOV5: dành cho người nước ngoài; VOV6: dành cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài Tổng thời lượng của 6 hệ chương trình:
452 chương trình với 191 giờ mỗi ngày, hiện phủ súng 95% diện tích lãnh thổ và 87% số dân cư Số lượng máy thu thanh: khoảng 11 triệu cái, bình quân 7 người 1 máy
2.1 Mức độ thường xuyên nghe đài trong một tháng qua
Có tới 75.2% NTL không nghe đài trong tháng qua Chỉ có 15.8%
Trang 3chiều bảng mức độ thường xuyên nghe đài trong một tháng qua trang 89)
Trong đó nam giới nghe đài nhiều hơn so với nữ giới, tỷ lệ này tương ứng
là 33,3% và 15,2% Điều này có thể lý giải là do phụ nữ còn phải làm nhiều công việc gia đình hơn là nam giới, họ không có nhiều thời gian rảnh rỗi để nghe đài
Biểu 1: Tương quan giữa điều kiện kinh tế hộ gia đình và mức độ thường xuyên nghe đài trong một tháng qua
25.4
74.6
29.8 70.2
15 85
0 20 40 60 80 100
Nghèo/đói Trung bình Khá giả
Có nghe đài Không nghe đài
Qua biều trên ta thấy với nhóm hộ gia đình khá giả thời gian nghe đài ít hơn so với hai nhóm hộ còn lại
Với câu hỏi mức độ nghe đài Tiếng nói Việt Nam của NTL, thì kết quả cho thấy 65,8% trả lời là thường xuyên nghe so với 4,0% cho biết là không bao giờ nghe Trong khi đó, kết quả tương ứng đối với đài địa phương là 32,9 so với 21,9% và đài nước ngoài là 2,2% và 91,1%
2.2 Thời gian nghe đài
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về tổng số phút lớn nhất mà NTL cho biết dành cho nghe đài vào ngày thường, thứ Bảy hay Chủ Nhật, khoảng 600 phút Tuy nhiên lại có khoảng cách khá lớn giữa giá trị min và max (2 phút so với 600 phút) Trung bình NTL dành khoảng 90 phút (một tiếng rưỡi) để nghe đài vào ngày thường, và thời gian này vào các ngày cuối tuần lại giảm đi, thứ bảy chỉ còn khoảng 84 phút và Chủ nhật còn khoảng 86 phút Thời gian trung bình NTL dành cho nghe đài nói chung còn ít hơn cả thời gian họ dành sử dụng máy vi tính/ truy
Trang 4cập internet (khoảng 94 phút vào thứ bảy và CN) và chỉ bằng 1/3 quĩ thời
gian họ dành cho xem truyền hình mỗi ngày (Xem phụ lục số liệu một
chiều trang 21)
Thời điểm nghe đài mỗi ngày
Bảng 1: Nghe đài, xem truyền hình và các công việc khác NTL
thường làm tại mỗi giờ trong ngày
tại mỗi thời điểm
Nghe đài ở nhà (%)
hình ở nhà (%)
Hoạt động Phần trăm
NTL lựa chọn
21.00- 22.00 Xem TH
HĐ cá nhân
48.8 40.2
Bảng 1 (Nghe đài, xem truyền hình và các công việc khác NTL thường làm tại mỗi thời điểm trong ngày) cho thấy hai đặc điểm :
Thứ nhất, nghe đài ở nhà không phải là hoạt động chính của NTL tại mỗi giờ lựa chọn nghiên cứu, dù tại mỗi giờ lựa chọn nghiên cứu đều
có người nghe đài; Khoảng hơn 3% NTL lựa chọn nghe đài là hoạt động
họ thường làm trong khoảng các tiếng từ 17h- 23h mỗi ngày Tuy nhiên,
so với các hoạt động mà đa số NTL lựa chọn là công việc họ thường làm mỗi giờ trong ngày thì số NTL nghe đài quá nhỏ bé;
Trang 5Thứ hai, xem truyền hình ở nhà là một trong ba nhóm hoạt động chính NTL thường làm tại mỗi giờ trong ngày Kể cả khi không phải là hoạt động được đa phần NTL lựa chọn là hoạt động thường làm tại mỗi giờ thì số NTL lựa chọn xem truyền hình là hoạt động thường làm cũng đứng thứ hai
2.4 Lý do không nghe đài
Lý do NTL lựa chọn nhiều nhất để giải thích vì sao không nghe đài
đó là họ không có đài (chiếm 64,8%) Đứng thứ hai là vì họ không thích/ không có nhu cầu (chiếm 18,6%) Không có thời gian là 10 % NTL Trong 2,7% NTL lựa chọn các lý do khác, đáng kể là có khá nhiều lý do liên
quan đến truyền hình Cụ thể có các ý kiến cho rằng: “Có ti vi”, “Ti vi là
đủ”, “Ti vi có đầy đủ chương trình rồi”, “Tin tức rất cập nhật trên truyền hình” hay “Xem tivi và báo là đủ”
Nếu như xét theo nhóm điều kiện kinh tế cho thấy có mối quan hệ chặt (***) chẽ giữa điều kiện kinh tế với lý do không nghe đài Với lý do không có đài thỡ nhúm cú điều kiện kinh tế trung bình có tỷ lệ trả lời cao nhất chiếm 54,9% (161 TH), sau đó là nhóm nghèo/ đói 22,9% (67 TH) Đặc biệt là với lý do không thích và không có nhu cầu thì nhóm khá giả có
tỷ lệ trả lời cao nhất 54,8% (46TH) còn nhóm nghèo/ đói có tỷ lệ trả lời thấp nhất 8,3% (7TH) Điều này có thể được lý giải là nhóm gia đình có điều kiện kinh tế họ khá giả trở lên họ có nhiều hình thức để giải trí và họ
có khả năng chi trả cho việc mua sắm các trang thiết bị hiện đại trong nhà như tivi, đầu video, dàn âm thanh Do vậy họ không dành nhiều thời gian cho việc nghe thông tin qua đài phát thanh Đối với nhóm gia đình nghèo thì họ không có phương tiện gía rẻ tiền hơn là chiếc đài phát thanh
Điều này cũng xảy ra tương tự với 2 nhóm biết đọc/ viết một trong các thứ tiếng (Việt hoặc tiếng dân tộc) và nhóm không biết đọc/ viết bất
kỳ một thứ tiếng nào, (P Value: 0,001) Với nhóm biết đọc biết viết thì lý
do không thích/ không có nhu cầu có tỷ lệ cao nhất 95,2%, còn với nhóm không biết đọc biết viết chỉ là 4,8% Kết quả cho thấy dường như những
Trang 6người biết đọc biết viết họ có nhiều cơ hội tiếp cận với những thông tin xã hội thông qua các phương tiện truyền thông khác như truyền hình, báo, sách…còn đối với nhóm kia thì đài phát thanh là cầu nối hữu hiệu hơn cả đối với họ ra thế giới bên ngoài
Tuy nhiên, một số câu hỏi kiểm tra khác đã cho thấy một số mâu thuẫn trong các câu trả lời của NTL Như trên lý do được nhiều người lựa chọn để giải thích không nghe đài là do không có đài nhưng khi được hỏi:
“Anh/chị có mong muốn được cấp phát máy thu thanh miễn phí không?”
thì chỉ có 19,2% NTL trả lời là có trong khi đó 75,2% NTL lựa chọn là
“Không nghe đài” theo tôi hiểu cũng là “Không cần” hay “Không”
2.4 Tầm quan trọng của các chương trình phát thanh
Bảng 2 NTL lựa chọn các chương trình PT quan trọng với bản thân (%)
quan trọng nhất
Là chương trình quan trọng thứ hai
Là chương trình quan trọng thứ ba
Đa số NTL (63,8%) cho rằng chương trình phát thanh quan trọng
nhất đối với họ chính là tin tức Đáng kể là, Chương trình âm nhạc trên
đài được 12,1% NTL (đứng thứ hai sau tin tức) lựa chọn là chương trình quan trọng nhất và 23,5% NTL lựa chọn là chương trình quan trọng thứ hai Chương trình nông thôn cũng chỉ được 20,8% NTL (đa phần sống ở nông thôn và làm nông nghiệp) lựa chọn là chương trình quan trọng thứ
Trang 7hai Bên cạnh đó, có 21,4% NTL lựa chọn Sân khấu là chương trình quan trọng thứ ba Có thể thấy, cùng với phần trăm NTL lựa chọn các phương
án khác như kể chuyện, thể thao như là chương trình quan trọng thứ nhất, nhì hay ba thì phát thanh cũng được NTL lựa chọn như một kênh tin tức
và giải trí là chính
Biểu 2 Ba chương trình được lựa chọn nhiều nhất với mỗi câu hỏi
về chương trình quan trọng nhất, nhì, ba
2.5 Nhận xét về chương trình tin tức
Nhiều học giả cho rằng: hành vi theo dõi tin tức, thời sự trên các phương tiện truyền thông đại chúng không chỉ là một hành vi nhằm hiểu biết tin tức mà còn là một hình thái để con người duy trì mối liên hệ thường xuyên với cộng đồng mà mình đang sinh sống Khi tiếp cận với các thông tin con người cũng đồng thời thể hiện nhu cầu muốn chứng tỏ mỡnh quan tâm tới cộng đồng xó hội của mỡnh và mỡnh thuộc về cộng đồng xã hội này
Bảng 3 (Nhận xét chung về chương trình tin tức đài quốc gia, địa
phương và nước ngoài) cho thấy chỉ có hơn 50% NTL cho rằng CT thời
sự ở Đài Quốc gia là phù hợp (57,7%) và cập nhật (54,4%) Còn lại với các ý kiến nhận xét như CT thời sự trung thực, dễ hiểu hay hấp dẫn thì phần trăm NTL đồng tình không cao Phần trăm tương ứng nhận xét CT
TS của Đài Quốc gia là 34,2%, 47% và 44,3% và Đài địa phương là
81
9
60
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Ba CT quan trong nhat
Ba CT quan trong thu nhì
Ba CT quan trong thu ba
Trang 818,1%, 33,6% và 22,8% Tỷ lệ NTL đồng tình với nhận xét “CT thời sự
phản ánh ý kiến của chúng tôi” còn thấp hơn, chỉ có 18,1% cho là đúng ở
CT TS của Đài quốc gia so với 22,1% ở Đài địa phương và “CT thời sự
bàn về những vấn đề mà NTL quan tâm” là 28,2% ở Đài Quốc gia so với
24,8% ở Đài địa phương
Bảng 3 Nhận xét chung về chương trình tin tức đài quốc gia, địa
phương và nước ngoài (%)
phương
ngoài
CT thời sự phản ánh được ý kiến của NTL
CT thời sự bàn về những vấn
đề mà NTL quan tâm
* Phần trăm NTL lựa chọn đồng ý với ý kiến nhận xét CT thời sự, còn lại là KTL
Nhìn vào bảng 3, có thể thấy rằng với các nhận xét về chương trình thời sự ở đài nước ngoài, mà có lẽ chủ yếu là Đài Trung quốc (53,8%) và đài Mỹ (23,1%), tỷ lệ NTL đồng tình không hề cao Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 9,9% NTL cho biết có nghe đài nước ngoài Có thể là do: 1) hạn chế về phương tiện, 67,6% NTL cho biết là họ không có đài, 2) hạn chế về ngoại ngữ và 3) chất lượng thu đài nước ngoài rất thấp, có tới 61,2% cho biết là không thu được
Trang 9Biểu 3 Nhận xét chung về chương trình tin tức đài quốc gia và địa
phương
3 Kết luận
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy một bức tranh khá sinh động về khả năng và nhu cầu tiếp cận các phương tiện TTĐC mà trong trường hợp này
là đài phát thanh Tại hai tỉnh vùng núi phía Bắc lựa chọn nghiên cứu này,
số liệu cho thấy phát thanh không có vị trí quan trọng Thậm chí là yếu thế hơn nhiều so với truyền hình và internet Rất nhiều hộ gia đình không có đài (67,6%), không phải vì họ không thể mua mà vì họ không có nhu cầu
có đài hay nghe đài (75,2%) Đây cũng là lý do chính vì sao họ không nghe đài họ không có đài Họ không có đài vì họ không nghe và họ không nghe nên họ không cần có đài
Sự tiện dụng (dễ mang vác, dễ thu thanh, rẻ hơn, có thể dùng pin…) của chiếc đài đối với người dân, đặc biệt là ở miền núi và những nơi
không có điện, không còn được đánh giá cao Nhất là khi có sự xuất hiện
của truyền hình ở các tỉnh miền núi này và đặc biệt sự xuất hiện của các phương tiện thu hình hiện đại vừa rẻ vừa tốt nhập khẩu từ Trung Quốc giúp cho các gia đình không chỉ có thể thu được các chương trình truyền hình đa dạng phong phú của đài quốc gia, địa phương mà còn nhiều
0
10
20
30
40
50
60
70
Tỷ lệ %
Đài QG Đài ĐP
Trang 10chương trình khác trong khu vực và thế giới Thực tế này đã khiến NTL có
“nhiều lựa chọn thú vị” hơn mà bỏ qua đài phát thanh
Một điều đáng lưu tâm là các chương trình trên đài chưa thực sự phong phú và hấp dẫn Đài phát thanh cũng được coi là một kênh thông tin giải trí (như đã đề cập ở trên), tuy nhiên, người nghe không có nhiều lựa chọn Theo NTL, chương trình quan trọng nhất là tin tức thì cũng chưa
thực sự hấp dẫn, trung thực, dễ hiểu Chương trình thời sự kể cả ở Đài
Quốc gia hay địa phương cũng chưa phản ánh được tâm tư nguyện vọng
hay bàn về những vấn đề mà người dân quan tâm Đặc biệt là Chương
trình nông thôn không được lựa chọn là một trong ba chương trình quan
trọng nhất của NTL Trên thực tế các chương trình của Đài tiếng nói Việt nam rất phong phú Thậm chí có cả chương trình riêng dành cho người dân tộc và phát bằng tiếng dân tộc Nhưng trong nghiên cứu, không có nhiều NTL đề cập đến vấn đề này 1 Có thể giải thích sự khuyết trống trong nhận thức này ở chính lý do là họ không nghe đài bởi vì nghĩ rằng chương trình đài không hay và do vậy không biết và cũng không cần biết rằng các chương trình đó đã được cải thiện lên rất nhiều
Theo chúng tôi, một trong những hạn chế khiến cho phát thanh không còn chiếm vị trí độc tôn và thậm chí còn khiến đối tượng nghe đài ngày càng giảm đó là vì phần lớn các chương trình vẫn còn coi thính giả như những đối tượng tiếp thu thông tin thụ động, một chiều mà chẳng hề quan tâm đến việc họ có thực sự cần những thông tin mà mình cung cấp hay không Nhiều chương trình còn nằm trong phạm vi „đóng‟ của một kịch bản khô cứng, dựng sẵn, chưa tạo một diễn đàn, một „sân chơi‟ cho thính giả cùng tham gia chia sẻ, đóng góp ý kiến, thậm chí nên tạo cơ hội cho họ đưa ra những câu hỏi, vướng mắc, thể hiện thái độ của họ trước một vấn đề nào đó Thực trạng này có thể sửa chữa rất dễ dàng bằng cách ngay khi chương trình đang phát sóng hay khi vừa kết thúc nên có một vài
1 Giới thiệu về Đài TNVN Tài liệu trên mạng, truy cập ngày 21/04/2007 tại địa chỉ