Bài viêt này tìm hiểu sự g ia o thoa giữa các xu hướng chính trị, sự kết hợp giữa các hình thức vận động yêu nước, được biểu hiện rõ nhất qua môi quan hệ giữa các sĩ phu Đông Kinh nghĩa
Trang 1P H O N G T R À O Đ Ô N G D U V À Ả N H H Ư Ỏ N G
V Ớ I C Á C H M Ạ N G V I Ệ T N A M
( T IÊ U B A N II)
2 7 3
Trang 2Đ Ô N G K I N H N G H Ĩ A T H Ụ C V Ớ I P H O N G T R À O O Ô N G D U
P G S T S N g u y ễ n N g ọ c Cơ*
Đầu thế kỉ XX, dưới tác động của điều kiện lịch sử mới, phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đã diễn ra sôi nổi và đạt được những tiến bộ đáng kê so với thời kì trước
Song song với các cuộc đấu tranh vũ trang còn dang tiêp diễn như phong trào nông dân Yên Thê, đã có những cuộc vận dộng cách mạng mang tính chất dân chủ tư sản như phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân Những ỊDhong trào này về mặt tư tưởng, ngoài việc phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, bất khuất của dân tộc, còn tiếp thu được trào lưu tư tưởng tư sản dân chủ của các nhà cách mạng tư sản Phương Tây, lúc chủ nghĩa tư bản đang lên, được truyền vào qua sách báo của Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản
Điểu cần nhấn mạnh là, trong bôi cảnh của lịch sử thế giới và khu vực đầu thế kỷ XX, có lúc chủ nghĩa cải lương tư sản đã chiếm địa vị chủ đạo ở nhiều nước xung quanh, nhưng ở nước ta, clo truyền thông yêu nước bất khuất của dân tộc, quần chúng cách mạng vẫn kiên trì con đường vũ trang chông chủ nghĩa đế quốc
Ngoài phương thức bạo động là phương thức được dông đảo quần chúng tán thành, vào đầu thế kỉ XX, những người yêu nước Việt Nam còn biết sử dụng nhiều hình thức đấu tranh khác để hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo thành đỉnh cao của phong trào vào năm 1908
Là một sự kiện lịch sử lốn và quan trọng của cách mạng Việt Nam , Đông Kinh nghĩa thục (ĐKNT) trở thành đề tài thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy vậy, phần lớn các
Khoa Lịch sử, Trường ĐHSP Hà Nội.
Trang 3công trình trước đây mối chỉ chú trọng phản ánh những hoạt dộng của Đông Kinh nghĩa thục dưới góc cỉộ của một phong trào yôu nước, một cuộc vận dộng cải cách văn hoá tư tưởng
Bài viêt này tìm hiểu sự g ia o thoa giữa các xu hướng chính trị,
sự kết hợp giữa các hình thức vận động yêu nước, được biểu hiện rõ nhất qua môi quan hệ giữa các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục và Đông Du nhằm thực hiện một mục tiêu chung: cứu nước và cải biên
xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX
*
* *
Khi nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục, nhiều nhà sử học, văn học trước đây cho rằng, đây chỉ là một phong trào văn hoá dơn thuần
Có người xếp ĐKNT vào xu hướng c ả i lương của Phan Châu Trinh với các biêu hiện thông qua nội dung của tác phẩm V ă n m in h tăn học
nhiên, theo tác giả Hồ Song (ký tôn: Trán Minh Thư) trong bài “Cô gắng tiến tới thông nhất nhận định vô Đông Kinh nghĩa thục” dăng trên Tạp chí NCLS sô" 81 năm 1965, thì: Đông Kinh nghĩa thục ngoài
tư cách một phong trào văn hoá, còn là một phong trào chính trị, “thể hiện một cách tập trung nhất hoài bão cứu nước bằng con đường duy tân, mở mang dân trí”
Trên cơ sở phân tích nhiều mặt, đặc biệt là căn cứ vào môi quan
hệ giữa Đông Kinh nghía thục vói hai xu hướng: xu hướng bạo dộng của Phan Bội Châu và xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh, tác giả đi đến kết luận: “Đông Kinh nghĩa thục chịu ảnh hưởng của cá hai xu hướng Nói cách khác, Đông Kinh nghĩa thục là nơi gặp gõ, có thể nói là nơi liê n h iệp h à n h đ ộn g của tất cả những sĩ phu Liên bộ lúc bấy giờ, không kể là bạo động hay cải lương.”
Khác với quan điểm của GS Hồ Song, GS Nguyễn Văn Kiộm7 thì cho rằng: K h ô n g th ể xếp Đ K N T vào xu hướng c ả i lương củ a P h a n
7 Xem Nguyễn Văn Kiêm G ó p p h ầ n tìm h iể u ìììột s ỏ vấn d ê L ịch s ử cận (lụi \ iệỉ N a m ,
NXB Vãn hoú-Thông till, Hà Nội, 2003.
2 7 6
Trang 4C h â u T r in h được, mà căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, tôn chỉ, dường lôi hoạt động cụ thể và sự tiến triển của Đông Kinh nghĩa thục, đồng thời căn cứ vào môì quan hệ giữa ĐKNT và phong trào Đông Du, thì có thể thấy “Xu hướng của phong trào là xu hướng cách mạng do Phan Bội Châu tiêu biểu” Ý kiến trên đây được nêu ra trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử tháng 10-1964 và được nhắc lại trong những bài viết sau đó Sách Đ ạ i cương L ịc h sử V iệt N a m , tập IIs, CỈO NXB Giáo dục xuất bản được, dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập trong hầu hết các trường đại học và cao đẳng hiện nay, trong phần trình bày ve Đông Kinh nghía thục các tác giả viết: “Tháng 3 năm
1907, cá c s ĩ p h u cù n g c h í hướng với P h a n B ộ i C h â u như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí, Vũ Hoành bắt đầu mở trường Đông Kinh nghĩa thục tại sô" 4 Hàng Đào, Hà Nội.”
Như v ậ y , q u a n đ i ể m c ủ a Đ ạ i cương L ịc h sử V iệ t N a m t h i ê n v ề
việc xếp ĐKNT vào xu hướng bạo động của Phan Bội Châu
Theo chúng tôi, để có được một quan niệm thống nhất về vấn đề này, cần thiết phải trở lại đôi nét về quá trình ra đòi, tôn chỉ mục đích của ĐKNT
Như đã biết, ngay từ cuối thế kỷ XIX, ảnh hưởng của những tư tưởng dân chủ tư sản đã được truyền bá vào nhiều nước phương Đông, việc thành lập các thư cục, học đường, học hội đã trở thành trào lưu mạnh mẽ ở Trung Quốc và một sô" nước trong khu vực Trước
đó, trong những năm 60-70 thế kỷ XIX, ở nước ta cũng đã hình thành
tư tưởng Duy tân với những nhân vật tiêu biểu như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Đinh Văn Điền, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ Nhưng phải đến những năm đầu thế kỉ XX, trước những đòi hỏi bức thiết và sự biến chuyển của kinh tế, xã hội Việt Nam, những tư tưởng cải cách duy tân mới có điều kiện nảy nở
và phát triển
Kiểm điểm lại quá khứ đau thương và oanh liệt của dân tộc, các
sĩ phu yêu nước dầu thế kỷ XX đã cô' gắng đưa ra câu trả lời về
* Đinh Xuân Lâm ( Chú hiên) Đ ạ i í ư ơ n g Lịcli s ử V iệ t N a m , NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.
Trang 5nguyên nhân lạc hậu, dẫn đến mất nước của Việt Nam, đồng thời đã vạch ra phương hướng đấu tranh mới nhằm giành lại độc lập, tự do Một sô" tố chức chính trị sơ khai đã được thành lập trong đó có Duy Tân hội mà người sáng lập là Phan Bội Châu Tuy Hội xem bạo dộng
vũ trang là phương thức hoạt động chính, nhưng ngay từ rất sớm, Phan Bội Châu đã có ý tưởng kết hợp bạo động với cải cách Trong tác phẩm L ư u C ầ u h u yết lệ tân thư viết năm 1903, Ong đã nhắc đến nhiệm vụ: m ở m a n g d â n t r í, ch ấ n h ư n g d ă n trí, bồi dưỡng n h ă n tài
Ngay cả khi nêu ra chủ trương xuất dương cầu viện mà Hội Duy Tân coi là công việc hết sức q u a n trọng thì từ trước, Phan Bội Châu cũng coi đó c h ỉ là cô n g việc thứ yếu
Thực hiện nhiệm vụ của Duy Tân hội giao cho, đầu năm 1905, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính và Tăng Bạt Hổ lên đường sang Nhật Chuyến xuất dương lần đầu trở nên đặc biệt hữu ích đôi với Phan vì
nó đã giúp ông mở rộng tầm mắt, rút ra được nhiều bài học quý báu
về phương châm hành động cách mạng, về v a i trò củ a tuyên truyền
g iá o d ụ c , v ậ n đ ộ n g và tổ ch ứ c, về sự cần thiết p h ả i kết hợp g iữ a
n h ữ n g ho ạt đ ộ n g bên trong và bên n g o à i, bạo đ ộ n g vói d a y tân, kết hợp lự c lư ợng tron g nước với sự ủ n g hộ củ a b ạn bè quốc tế
Về nước vào tháng 6 năm đó, Phan Bội Châu đã gặp gỡ, bàn bạc với các đồng chí của mình, tìm cách đưa Cường Để qua Nhật, chọn thanh niên Đông Du, đồng thời ra sức vận động thành lập các hội nông, hội thương, hội học để tập hợp quần chúng
Tháng 2 năm 1906, Phan Châu Trinh qua Trung Quốỉc rồi cũng tới Hoành Tân (Nhật Bản) Trên đất Nhật, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh có dịp trao đổi và tranh luận với nhau rất nhiều Phan Châu Trinh thì muôn đánh đổ ngay quân chủ và dựa vào Pháp để đánh đổ quân chủ, xây dựng dân quyền Phan Bội Châu thì muôn đánh đuổi ngay giặc Pháp, giành độc lập, sau đó sẽ mưu tính việc khác Ý kiến rất trái ngược nhau Nhưng theo Phan Bội Châu viết
Châu Trinh lại rất thích Phan Bội Châu
Cũng trong thời gian này, hai cụ Phan có dịp tham quan Khánh ứng nghĩa thục tại Đông Kinh (Tôkiô) Đây là trường “Đại học tự lập"
2 7 8
Trang 6đầu tiên trên đất Nhật, nhằm vào việc đào tạo ra những con người có tính tự cường, ý chí độc lập, sáng tạo, tự nguyện đóng góp vào công việc chung
Mùa thu năm 1906, Phan Bội Châu bí mật qua đường Mục Nam Quan về nước lần thứ hai để vừa nghiên cứu đường đi lôi lại, vừa bắt liên lạc VỚI Hoàng Hoa Thám và các đồng chí trong nước Sau khi rời Yên Thế, ông về Nội Duệ (Bắc Ninh) họp bàn với Đặng Thái Thân và những người cùng chí hướng Căn cứ vào tình hình thực tế lúc đó, Phan đã chia công việc làm hai loại, một loại “hoà bình”, chuyên chú tâm diễn thuyết, tuyên truyền, còn loại “kịch liệt” chuyên lo thực hành bạo động Từ đó, những chi phí cho học sinh du học cùng công việc ở trong nước đều được đẩy mạnh
Những việc chính đã làm được trong vòng 3 năm (1907-1909) của
P h a n Bội Châu và Duy Tân hội là việc thành lập Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, việc lập rất nhiều thương hội, nông hội, học hội ở các tỉnh, việc chông thuế ở Trung Kỳ, việc mưu đánh úp Hà Tĩnh, việc đầu độc lính Pháp và mưu đánh úp Hà Nội9
Như vậy là sự ra đời của Đ ô n g K i n h n g h ĩ a t h ụ c vào năm 1907 không đơn thuần xuất phát từ ý tưởng riêng của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí mà là kết quả tổng hợp của những nhận thức mới về phương sách cứu nước trong thòi đại châu Á thức tỉnh, với những bài học kinh nghiệm thành công và thất bại vừa rút
ra từ trào lưu cách mạng ở các nước xung quanh, nhất là Trung Quốc
và Nhật Bản Những bài học đó được vận dụng vào Việt Nam sau chuyến Đông Du của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và những nhà yêu nước khác
Có thể nói, Đông Kinh nghĩa thục là m ột s á n g tạo to lớn của những nhà yêu nước thức thòi Việt Nam đầu thế kỉ XX và gắn liền với vai trò của cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh
Hoạt động của ĐKNT không bó hẹp trong khuôn khổ một nhà
9 Hoài Thanh P h a n B ộ i C h â u, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1978, tr.50.
Trang 7chức cách m ạ n g, thực hiện chủ trương p h ố i hợp g iữ a trong và n g o à i,
thức các nhà cách mạng Việt Nam, tiêu biểu là Phan Bội Châu, được thể hiện khá rõ trong bài “Kính gửi đồng bào toàn quốc" do Ông viết năm 1906:
Q u yết vừ ng d ậ y ra tay tả đ ả n,
Đ ứ n g đ ầ u lên có b ạn n h à n h o,
N gư ờ i trong th ì trợ công p h u ,
T h ừ a cơ d iễ n thuyết nói cho rỗ rà n g ;
N h à với nước đ ô i đường q u a n hệ,
N gư ờ i cù n g lo à i m ột th ề tương th ă n ,
T ín h đường ho ạ p h ú c x a g ầ n,
C ô n g tư đ ôi lẽ k h u y ê n ră n m ấy lời.
N gư ờ i d u học nước n g o à i lịc h lă m ,
X ô n g h iể m n g u y đ â u cỉám tiếc thân,
V ă n m in h h ấ p lấ y tin h th ầ n ,
T h ừ a cơ rồi sẽ liệ u d ầ n về sau
N gư ờ i ở lạ i liệ u ch iề u v ậ n đ ộ n g,
N g ư ờ i đ i th ì biết rộ n g cơ ĩnứu,
T ro n g n g o à i g ia o hợp với n h a u,
Đ e m tà i lương đ ô n g là m đ ầ u cho d ă n ”U)
Phan Bội Châu chủ trương phát triển kinh tế dân tộc theo lối tư bản chủ nghĩa, noi theo tấm gương thành công của Nhật Bản:
“C ò n cơ sở d ầ n d ầ n bền vữ ng,
C ô n g , n ô n g , thương x ảy d ự n g mới hay
H ộ i n ô n g N h ậ t B ả n a i tầy,
N ă m X Iỉa sơn đảo, n g à y r ầ y b ỉn h nguyên
10 Đăng Thai Mai - T h ơ vũ tỉ cú ch nutnsị Viứí N u m NXB Văn hoc giải phóng, 1976, tr 317.
11 Như trên Tr 317.
280
Trang 8Ong cùng nhấn mạnh tầm quan trọng có ý n g h ĩa quyết đ ịn h của việc tự thân vận động; cho việc trợ giúp từ bên ngoài chỉ giữ vai trò phụ IrỢ mà thôi:
“A i ơi ! S a o c h ẳ n g n g h ĩ s â u,
V í n h ư có kẻ bệnh đ a u n ặ n g nề,
N ệ à y m ong m ỏi m ọi bề th a n g thuốc,
Tớ i “đ òn g lâ n ’ (lá n g g iề n g ) m à ruớc thầy san g , Rước th ầ y đ à n h p h ả i lẽ th ường,
Cò n n h â n , vật, liệ u să n s à n g h a y c h ă n g ?
N gư ờ i đ a u đ ã vạn vô s in h lý (khô ng h y vọng sông nữa)
M à người n h à k h ô n g tí lo xa,
N ế u k h ô n g tốn đến cửa n h à,
T h iệ t th ầ y, th ầy cũ n g ắt là c h ẳ n g sang.
C ầ u th ầy thê lạ i cà n g thêm n h ụ c ,
T h à nhờ tay g iặ c giết cho x on g /”12 Những ý tưởng tương tự như trên, chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều bài văn khác của Phan Bội Châu như H ả i n g o ạ i hu yết thư,
N a m H ả i bô th ầ n ca13
Trong tác phẩm H ả i n g o ạ i hu yết thư nổi tiế n g, đồng thời với việc kêu gọi cầm vũ khí, Phan Bội Châu đã không quèn nhắc nhở sì phu trong nước cần lợi dụng hình thức công khai hợp pháp đê tuyên truyền giáo dục nhân dân thực hiện cải cách Ông thúc giục:
“V iệc tân học g ấ p đem d ự n g nước,
H ộ i d â n đ o à n , cả nước với n h a u ,
17 Đặng Thai Mai, Sdd, tr.321-322.
1' Còn có ten là “Á tố Ả ca” Trước dây cho là khuyết danh, có người cho là của Nguyền Thiện Thuật; lại có người nói là của Tăng Bạt Hổ Gần dây các nhà nghiên cứu đã khảng định đó là bài llìơ của Phan Bội Châu với ticu dể: N a m H ù i b ô th â n cư (Tự Nhật Bủn hổi Thốn «4 sứ phủ) Xem: V a n th ơ Đ ô n g Ki/ìli nạỉìĩa ỉ lu u \ NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội,
1997, tr 146.
Trang 9S ự buôn p h ả i lấ y là m đ ầ u ,
M ọ i n g h ề c ù n g g h é đ ịa cầ u một v a i'" 4
Cùng có chung hoài bão cứu nước như Phan Bội Châu, các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội và các tỉnh từ năm 1907 đã đẩy mạnh các hoạt động trên nhiều lĩnh vực Ngoài tổ chức giảng dạy và học tập theo lôi mới, với nội dung cách tân, ĐKNT còn,diễn thuyết, tuyên truyền, khơi dậy lòng yêu nước, bồi bổ’ ý thức tự cường, đả phá các tệ nạn xã hội cũ, vứt bỏ ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến mà nền học vấn lỗi thòi, lạc hậu, “rào cản của sự tiến bộ” bấy lâu nay đã tạo ra Ngoài ra, Đông Kinh nghĩa thục còn hô hào thành lập các hội buôn, hội nông, hội công, hội tín, cổ động việc thu gom tài chính đố
g i ú p đỡ p h o n g t r à o ximt dương d u học N h i ề u cơ sở k i n h doanh ở H à
Nội, Thanh Hoá, Vinh, Phan Thiết, Sài Gòn đã được lập ra với mục tiêu này Những ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục về chấn hưng thực nghiệp, khai thác, sản xuất hàng nội địa cũng lan toả rất mạnh
ở các tỉnh như Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Yên Bái
Như vậy là giữa ĐKNT với phong trào Đông Du có mốì quan hộ rất đặc biệt, nếu không nói là có quan hệ hữu cơ với nhau, hỗ trợ nhau trong các hoạt động cứu nước Nhà sử học Pháp G Boudarel nhận xét: “Đông Kinh nghĩa thục mở ở Hà Nội năm 1907, người sáng lập nhà trường này và một vài thành viên tích cực nhất của nó có thiện cảm với Hội Duy Tân do Phan Bội Chầu thành lập; vận động tài chính cho các nhà cách mạng xuất dương và có vai trò làm trạm dừng chân cho phong trào xuâ't dương, cũng là nơi phân phát các tác phẩm của họ Hoạt động của Phan Bội Châu không bó hẹp vào việc tồ’ chức chuỗi dài những âm mưu nổi dậy Nó tác động đến trào lưu tư tưởng một ảnh hưởng còn quan trọng hơn nhiều so với điều người ta có thể tưởng khi mối thoạt nhìn.”15
14 V ă n th ơ Đ ổ ii ỵ K inli ngliĩíi tliụ c, sách đă dĂn, tr 155.
15 G Boudarel: P h a n B ộ i Clichi và x ã lìội V iệ t N a m ở thời đ ạ i ỏitỵ, NXB Vãn hoá - Thông tin,
Hà Nội, 1997, tr 15.
2 8 2
Trang 10Nhạn xct trên dây phần nào trùng hợp quan điếm của GS Hồ Song trong bài báo đã dẫn ở trôn, ở đây chúng tôi bày tỏ ý kiến tán đồng với quan điểm này, bởi lõ không thể chỉ dơn thuần căn cứ vào môi thiện cảm của tập thê sĩ phu ĐKNT đôi với người này hay ngưòi khác đã có thể đưa ra được một kết luận chính xác rằng họ thuộc vê một xu hướng chính trị duy nhất nào đó, đó là chưa kể tới việc trong năm 1907, hoạt động của ĐKNT đã toả ra rất rộng Đây là nơi lui tối của cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, là nơi dừng chân của các
sĩ phu Đông Du, nơi phân phát tài liệu, chuẩn bị tài chính, cung cấp nguồn nhân lực tiến tới khởi nghĩa vũ trang nhưng đồng thòi cũng
là nơi phổ biến nội dung V ă n m in h tân học s á c h, truyền đi những khẩu hiệu có tính chất cải lương và những bài thơ chông đối đường lối
vũ trang bạo động
Như vậy, theo ý kiên chúng tôi, Đông Kinh nghĩa thục không chịu ảnh hưởng của riêng một xu hướng chính trị nào nhưng có cảm
nhiên, xu hướng đó cần được hiểu một cách đúng đắn, chính xác, cụ thể là tuy vẫn kiên trì con đường bạo động, nhưng thứ bạo động mà Phan quan niệm là dùng sức m ạ n h n h iề u m ặt để chống lại kẻ thù ch ứ
k h ô n g n h ấ t thiết c h ỉ đ á n h g iặ c b ằn g s ú n g, b ằn g gươm theo q u a n n iệm
củ. Đường- lối bạo động của Phan Bội Châu không mâu thuẫn với chủ trương cải cách, hơn nữa theo Ong, cải cách còn là phương tiện, là điều kiện quan trọng để đảm bảo cho bạo động thắng lợi
Trong khi tán đồng xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, ĐKNT cũng không loại trừ các hoạt động tuyên truyền cải cách dân chủ theo đường lôi của Phan Châu Trinh Văn thơ ĐKNT đã tập trung đấu tranh chông lại chính sách hà khắc của thực dân Pháp, lên
án thái độ ngoan cô" của bọn nho sĩ thủ cựu để khai thông dân trí, đưa nước nhà tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa
Rốt cuộc, cái bị coi là hạn chế của ĐKNT theo chúng tôi lại c h ín h
cả hai xu hướng cứu nước Đó là xu hướng bạo động, “lấy máu rửa máu”, và xu hướng cải cách, coi nhiệm vụ k h a i d â n trí, c h ấ n d â n k h í,