1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng và ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên

13 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng và ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên
Tác giả Tô Thị Ngân
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết học Mác – Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 236,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề tài “Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng và ý nghĩa của v[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề tài: “Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng và ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên.”

Họ và tên: Tô Thị Ngân

Mã sinh viên: 11218541 Lớp TC: Triết học Mác – Lênin 31

GV hướng dẫn: TS Lê Thị Hồng

Hà nội, ngày 11 tháng 5 năm 2021

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

Phần I Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng 1

1 Bản chất là gì? 1

2 Hiện tượng là gì? 2

3 Phân biệt bản chất với cái chung và quy luật 2

4 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng 3

5 Ý nghĩa phương pháp luận 5

Phần II Ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng trong nghiên cứu, học tập của sinh viên 6

KẾT LUẬN 10

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học Mác-Leenin bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học Mác-Leenin đem lại cho con người thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn để nhận thức thế giới Triết học Mác – Leenin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật trong việc xem xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người

Xã hội ngày càng văn minh hiện đại, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, công cuộc hội nhập với thế giới càng cao, đời sống con người càng được nâng cao thì càng đặt ra cho sinh viên, tầng lớp tri thức, giới trẻ ngày nay càng nhiều thử thách Với vai trò to lớn như vậy, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo lí luận Triết học Mác-Lênin nói riêng và Chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung trong giai đoạn hiện nay

có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nghiên cứu, học tập của sinh viên Việc vận dụng lí luận Triết học Mác-Lênin vào từng lĩnh vực cụ thể yêu cầu phải nắm vững bản chất khoa học của lí luận cũng như tình hình thực tiễn để vận dụng đúng đắn, sáng tạo, tránh rơi vào tình trạng dập khuôn máy móc, giáo điều

Trong thực tế mọi sự vật và mọi quá trình luôn tồn tại hai khía cạnh bản chất và hiện tượng và chúng luôn vận động, phát triển cùng nhau Vì vậy khi xem xét các sự vật, quá trình trong tự nhiên và xã hội, chúng ta cần phân biệt được đâu là bản chất, đâu là hiện tượng để tránh nhầm lẫn dẫn đến nhìn nhận sai về sự vật, quá trình đó Vậy bản chất là gì? Hiện tượng là gì? Mối quan hệ biện chứng giữa chúng và nó có

ý nghĩa như thế nào khi vận dụng vào thực tế? Đó là lí do của đề tài sau: “Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng và

ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên”

NỘI DUNG

Phần I Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

1 Bản chất là gì?

- Khái niệm: Bản chất là phạm trù chỉ tổng thể các mối liện hệ khách quan, tất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự vận động, phát triển của đối tượng và thể hiện mình qua các hiện tượng tương ứng của đối tượng

Trang 4

2 Hiện tượng là gì?

- Khái niệm: Hiện tượng là phạm trù chỉ những biểu hiện của các mặt, mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định ở bên ngoài, là mặt dễ biến đổi hơn và

là hình thức thể hiện của bản chất đối tượng

- Ví dụ: Bản chất một nguyên tố hóa học là mối liên hệ giữa điện tử và hạt nhân, còn những tính chất hóa học của nguyên tố đó khi tương tác với các nguyên tố khác là hiện tượng thể hiện ra bên ngoài của mối liên kết giữa điện tử và hạt nhân [1]

3 Phân biệt bản chất với cái chung và quy luật

Phạm trù bản chất gắn liền với phạm trù cái chung, nhưng không đồng nhất với cái chung Cái tạo nên bản chất của một sự vật cũng đồng thời là cái chung của những sự vật đó Nhưng không phải cái chung nào cũng là bản chất Vì bản chất chỉ là cái chung tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật

Ví dụ: Mỗi người đều có những cảm xúc: vui, buồn, tức giận, Đó là những cái chung nhưng không phải là bản chất của con người

Cái bản chất cũng dồng thời là cái có tính quy luật Bao hàm những quy luật quyết định sự vận động, phát triển của sự vật chính là bản chất của sự vật ấy Lê-nin viết: “Quy luật và bản chất là những khái niệm cùng một loại (cùng một bậc), hay nói đúng hơn là cùng một trình độ ”

Ví dụ: Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Quy luật này chi phối toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản Đồng thời, quy luật này cũng là bản chất của chủ nghĩa tư bản Bản chất đó cho thấy chủ nghĩa tư bản luôn có mục tiêu sản xuất giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt

Bản chất và quy luật cùng trình độ nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Phạm trù bản chất rộng hơn và phong phú hơn phạm trù quy luật Quy luật là mối liên hệ tất nhiên, phổ biến, lặp đi lặp lại, ổn định giữa các hiện tượng hay giữa các mặt của cùng một hiện tượng Còn bản chất là tổng hợp tất cả những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, tức

là ngoài những mối liên hệ chung, nó còn những mối liên hệ riêng chỉ nó mới có

Trang 5

4 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

4.1 Bản chảt vả hiện tượng đệu tồn tải khảch quản trồng cuồc sồng

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì quan điểm duy tâm không thừa nhận hoặc không hiểu đúng sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng, họ cho rằng, bản chất không tồn tại thật sự, bản chất chỉ là tên gọi trống rỗng do con người tự đặt ra, còn hiện tượng dù có tồn tại nhưng đó chỉ là tổng hợp những cảm giác của con người, chỉ tồn tại trong chủ quan con người Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng cho rằng bản chất không phải là của bản thân sự vật, mà theo họ đó là những thực thể tinh thần tuy nhiên họ vẫn thừa nhận sự tồn tại thực sự của bản chất

Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin cho rằng, cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan là cái vốn có của sự vật không do

ai sáng tạo ra, bởi vì sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định Những yếu tố này liên kết với nhau bằng những mối liên hệ khách quan, ràng buộc với nhau Trong đó có những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định Những mối liên hệ tất nhiên đó tạo thành bản chất của sự vật Vậy, bản chất

là cái tồn tại khách quan gắn liền với sự vật còn hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, cũng là cái khách quan và không phải do cảm giác chủ quan của con người quyết định

4.2 Sư thồng nhảt giư%ả bản chảt vả hiện tượng

Không những tồn tại khách quan, bản chất và hiện tượng còn có mối liên hệ hữu cơ, gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng Sự thống nhất đó thể hiện trước hết ở chỗ: -Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng Bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng

-Hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất Bất kỳ hiện

tượng nào cũng là sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó nhiều hoặc ít

Về căn bản, bản chất và hiện tượng phù hợp với nhau Không có bản

chất nào tồn tại một cách thuần túy, không cần có hiện tượng Ngược lại, cũng không có hiện tượng nào lại không phải là sự biểu hiện của một bản chất nhất định Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra những hiện tượng khác nhau Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng tương ứng với nó cũng sẽ thay đổi theo Khi bản chất mất đi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất đi

Trang 6

Chính nhờ có sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng, giữa cái quy định

sự vận động, phát triển của sự vật với những biểu hiện nghìn hình, vạn vẻ của nó mà ta có thể tìm ra cái chung trong nhiều hiện tượng cá biệt, tìm ra quy luật phát triển của những hiện tượng ấy

4.3 Sư mảu thuả)n giư%ả bản chảt vả hiện tượng

Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là sự thống nhất biện chứng Tức

là, trong sự thống nhất ấy đã bao hàm sự khác biệt Nói cách khác, tuy bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, về căn bản là phù hợp với nhau, nhưng chúng không bao giờ phù hợp với nhau hoàn toàn vì bản chất của sự vật bao giờ cũng được thể hiện ra thông qua sự tương tác của sự vật ấy với những sự vật xung quanh Các sự vật xung quanh này trong quá trình tương tác đã ảnh hưởng đến hiện tượng, đưa vào nội dung của hiện tượng những thay đổi nhất định Kết quả là, hiện tượng biểu hiện bản chất nhưng không phải là sự biểu hiện y nguyên bản chất Sự không hoàn toàn trùng khớp khiến cho sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là một sự thống nhất mang tính mâu thuẫn Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng thể hiện ở chỗ:

Bản chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật Còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt Vì vậy, cùng một bản chất có thể biểu hiện ra ngoài bằng vô số hiện tượng khác nhau tùy theo sự biến đổi của của điều kiện và hoàn cảnh Nội dung cụ thể của mỗi hiện tượng phụ thuộc không những vào bản chất, mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, trong đó bản chất được biểu hiện Chính vì thế, hiện

tượng phong phú hơn bản chất Ngược lại, bản chất sâu sắc hơn hiện tượng Bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan

Còn hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy Các hiện tượng biểu hiện bản chất không phải dưới dạng y nguyên như bản chất vốn

có mà dưới hình thức đã được cải biến, nhiều khi xuyên tạc nội dung thực sự của bản chất

Ví dụ: Nhúng một phần cái thước vào chậu nước, ta thấy cái thước gấp khúc, trong khi thực tế cái thước vẫn thẳng

Bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm Còn hiện tượng không ổn định,

nó luôn luôn trôi qua, biến đổi nhanh hơn so với bản chất Đó là do

nội dung của hiện tượng được quyết định không chỉ bởi bản chất của sự vật,

Trang 7

mà còn bởi những điều kiện tồn tại bên ngoài của nó, bởi tác động qua lại của nó với các sự vật xung quanh Các điều kiện tồn tại bên ngoài đó và sự tác động qua lại của sự vật này với sự vật khác lại thường xuyên biến đổi Vì vậy, hiện tượng thường xuyên biến đổi, trong khi bản chất vẫn giữ nguyên Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bản chất luôn giữ nguyên như cũ từ lúc

ra đời cho đến lúc mất đi Mà bản chất cũng biến đổi, nhưng là biến đổi rất chậm so với hiện tượng

Tóm lại, sự mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng là do những gì hiện tượng bộc lộ ra bên ngoài không hoàn toàn chính xác với bản chất Do nhiều yếu tố tác động từ điều kiện môi trường mà hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài đã bị biến đổi so với bản chất ban đầu, đôi khi không đúng với nội dung, sự thật bên trong Vì vậy, muốn nhận thức chính xác bản chất sự vật chúng ta không nên chỉ dừng lại ở một hoặc một số hiện tượng đơn lẻ mà phải phân tích kĩ càng, xem xét một cách toàn diện và tổng hợp đầy đủ các hiện tượng để tránh hiểu sai bản chất sự vật, trong một số trường hợp có thể dẫn tới những quyết định không đúng đắn [2]

5 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đầy đủ về sự vật, ta không nên dừng lại

ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó Nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của khoa học nhận thức nói riêng là phải vạch ra được bản chất của sự vật Còn trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào bản chất chứ không phải dựa vào hiện tượng

Thứ nhất, bản chất và hiện tượng tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ ràng buộc, không tách rời nhau, bản chất thì ẩn giấu sâu kín bên trong sự vật còn hiện tượng thì lại là cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, cho nên, muốn nhận thức được bản chất của sự vật thì phải xuất phát từ hiện tượng Do một bản chất có thể biểu hiện ra bằng nhiều hiện tượng khác nhau và mỗi hiện tượng chỉ phản ánh một khía cạnh của bản chất, cho nên muốn nhận thức bản chất sự vật chúng ta không nên chỉ dừng lại ở một hoặc một số hiện tượng

mà phải thông qua phân tích, tổng hợp rất nhiều hiện tượng

Thứ hai, bản chất là cái tất nhiên tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động phát triển của sự vật, còn hiện tượng là cái không ổn định, cái không quyết định sự vận động và phát triển của sự vật, hơn nữa hiện tượng nhiều khi còn xuyên tạc bản chất, cho nên, nhận thức không chỉ dừng

Trang 8

lại ở hiện tượng mà phải tiến tới nhận thức bản chất của sự vật Nhận thức bản chất của một sự vật là một quá trình phức tạp đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Trong hoạt động thực tiễn, không được dựa vào hiện tượng mà phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức hoạt động cải tạo sự vật

Trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật phải xem xét rất nhiều hiện tượng khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau vì hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất dưới dạng đã cải biến, nhiều khi xuyên tạc bản chất Nhưng trong một hoàn cảnh và một phạm vi thời gian nhất định ta không bao giờ có thể xem xét hết được mọi hiện tượng biểu hiện bản chất của sự vật Do vậy,

ta phải ưu tiên xem xét trước hết các hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình Dĩ nhiên, kết quả của một sự xem xét như vậy chưa thể phản ánh đầy đủ bản chất của sự vật Mà đó mới chỉ phản ánh một cấp độ nhất định của nó Quá trình đi vào nắm bắt các cấp độ tiếp theo, ngày càng sâu sắc hơn trong bản chất của sự vật là một quá trình hết sức khó khăn, lâu dài, công phu và không có điểm dừng Cũng chính vì vậy, khi kết luận về bản chất của

sự vật, chúng ta cần xem xét một cách toàn diện, rõ ràng

Bản chất là sự thống nhất giữa các mặt, các mối liên hệ tất nhiên, vốn có của

sự vật, hiện tượng, bản chất là địa bàn thống lĩnh của các mâu thuẫn biện chứng và chúng được giải quyết trong quá trình phát triển dẫn đến sự biến đổi của bản chất, tạo ra sự chuyển hóa của đối tượng từ dạng này sang dạng khác nên các phương pháp đã được áp dụng vào hoạt động cũ trước đây cũng phải thay đổi bằng các phương pháp khác, phù hợp với bản chất đã thay đổi của đối tượng [2]

Phần II Ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng trong nghiên cứu, học tập của sinh viên.

Về vai trò và ý nghĩa, phép biện chứng duy vật và cặp phạm trù bản chất – hiện tượng nói riêng đã kế thừa và phát triển phép biện chứng từ tự phát đến

tự giác, tạo ra chức năng phương pháp luận chung nhất, giúp định hướng việc đề ra các nguyên tắc tương ứng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

và là một hình thức tư duy hiệu quả quan trọng nhất đối với khoa học, bởi chỉ

có nó mới có thể đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển

Trang 9

diễn ra trong thế giới, giải thích những mối quan hệ chung, những bước quá

độ từ lĩnh vực nghiên cứu này sang lĩnh vực nghiên cứu khác

Cụ thể ở đây, ta sẽ nói về ý nghĩa của mối quan hệ biện chứng giữa bản chất

và hiện tượng trong nghiên cứu và học tập của sinh viên

Thứ nhất, quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng giúp sinh viên định hướng nguyên tắc nghiên cứu và học tập: Qúa trình đi từ bản chất đến hiện tượng giúp con người có thể rút ra được những kết luận đúng đắn nhất về sự vật và quá trình

Vì vậy, muốn nhận thức đúng đắn khoa học về sự vật thì không nên dừng lại

ở vài hiện tượng đơn lẻ mà cần phân tích tổng hợp các hiện tượng đi sâu để tìm ra bản chất thực sự của nó

Ví dụ, khi xác định bản chất của một chất lỏng nào đó thì nhà hóa học phải thực hiện một loạt phản ứng với chất đó, đặc biệt phải cho chất đó tác dụng với những kim loại như nhôm và kẽm Khi đó sẽ quan sát thấy hiện tượng hòa tan kim loại Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào đó mà kết luận rằng chất lỏng được nghiên cứu là một axit thì là không có căn cứ, vì những kim loại này cũng tan được cả trong chất kiềm Do đó ta thấy, hiện tượng là phong phú hơn, là muôn hình muôn vẻ, nó thường phản ánh thuộc tính đặc trưng không những cho một chất mà là nhiều chất khác nhau

Thứ hai, quá trình tìm hiểu bản chất của đối tượng nghiên cứu, học tập sẽ là một quá trình tư duy vô cùng lâu dài và phức tạp đòi hỏi sinh viên phải tìm hiểu một cách kĩ càng Đó là quá trình sinh viên phải tìm hiểu từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc, từ bản chất sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn, Khi tìm hiểu, phân tích các hiện tượng, sinh viên nên đặt đối tượng nghiên cứu vào các môi trường, điều kiện hoàn cảnh khác nhau để so sánh, đối chiếu Do tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài nên khi biểu hiện ra các hiện tượng sẽ bị biến đổi ít hoặc nhiều Từ đó, sinh viên sẽ nắm được bản chất cấp I, sinh viên lại có thể tìm hiểu, nghiên cứu thêm để tổng hợp ra bản chất II, và từ cấp II đến cấp III, cứ như thế mãi…Vì

xã hội luôn luôn vận động và phát triển, khoa học công nghệ cũng ngày càng được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như Y tế, Giáo dục, bắt buộc mỗi sinh viên chúng ta cần phải tìm cho mình những phương học tập phù hợp, trang bị cho mình những kĩ năng cần thiết để phục vụ cho công việc sau này của mình

Trang 10

Ví dụ, khi nghiên cứu về một nguyên tố hóa học, các nhà khoa học đã cùng nhau khám phá ra bản chất của nguyên tử là sự tương tác của điện và hạt nhân Mặc dù ban đầu nguyên tử có nguồn gốc chỉ những hạt không phân chia nhỏ hơn nữa, nhưng ngày nay nguyên tử được biết là thuật ngữ khoa học tổ hợp của nhiều hạt hạ nguyên tử Các hạt thành phần của nguyên tử là electron, proton và notoron Đó là bản chất cấp I Sau một thời gian dài các nhà khoa học lại khám phá ra lượng tử Những nguyên lí của cơ học lượng tử

đã mô tả thành công các tính chất quan sát thấy của nguyên tử và là nền tảng cho lý thuyết nguyên tử và hạt hạ nguyên tử Đây là bản chất cấp II của nguyên tử Có thể nói, quá trình tìm hiểu, nghiên cứu là kéo dài vô tận, không bao giờ kết thúc Có thể trong tương lai, bản chất cấp III cũng sẽ sớm được phát hiện

So với học ở phổ thông thì cấp độ kiến thức ở cấp độ đại học tăng lên một cách đáng kể Một ví dụ đơn giản, nếu học ở phổ thông thì một môn học sẽ kéo dài trong 3 năm, trong khi ở đại học một môn học chỉ kéo dài khoảng từ

2 đến 3 tháng Rõ ràng sự tăng lên đáng kể về số lượng kiến thức sẽ khiến sinh viên năm nhất gặp những khó khăn trong việc học tập của mình Không chỉ khác biệt về khối lượng kiến thức, học đại học và phổ thông còn có sự khác biệt về sự đa dạng kiến thức Khác với phương pháp học thụ động như THPT, sinh viên đại học sẽ phải tham gia rất nhiều hoạt động ngoại khóa, nhóm, thuyết trình, các môn học ở bậc đại học rất đa dạng và mới mẻ, ngoài việc đọc sách giáo trình, sinh viên còn phải tìm thêm nhiều nguồn thông tin trong sách báo, tài liệu liên quan Chính sự thay đổi về khối lượng kiến thức, thời gian và phương pháp học sẽ khiến nhiều tân sinh viên gặp khó khăn trong quá trình thích nghi với môi trường giáo dục mới

Sự khác nhau lớn nhất giữa bậc THPT và đại học có lẽ là nhiệm vụ trong học tập, đối với bậc THPT thì việc lên lớp và hoàn thành các mục tiêu mà giáo viên đề ra chính là nhiệm vụ lớn nhất nhưng đối với sinh viên đại học, điều

họ đang đối mặt không chỉ đơn thuần là những nhiệm vụ trên lớp mà họ còn phải thực hiện các kì thực tập, phải hoạch định cho mình những mục tiêu cụ thể, rõ ràng cho tương lai Ngoài ra, khi lên đại học, ý thức bản thân là yếu tố quan trọng nhất, không còn sổ liên lạc hay họp phụ huynh, tinh thần tự học

sẽ được phát huy rõ rệt

Ở đây là sự khác nhau về bản chất chứ không chỉ là sự thay đổi về hình thức, bởi vậy có thể nói sự chuyển đổi từ phổ thông lên đại học cũng giống như sự

Ngày đăng: 01/03/2023, 06:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w