Trong văn kiện trung tâm của Đại hội là Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các báo cáo chuyên đề, Đản
Trang 2PGS.TS PHẠM MINH TUẤNChịu trách nhiệm nội dungPHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS PHẠM THỊ THINHBiên tập nội dung: ThS PHẠM THỊ NGỌC BÍCH
ThS NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
TS VŨ THỊ HƯƠNGTRẦN PHAN BÍCH LIỄUTrình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Sửa bản in:
Đọc sách mẫu:
ĐƯỜNG HỒNG MAI NGUYỄN QUỲNH LAN
Trang 3TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
Trang 4Đại tướng, GS.TS TÔ LÂM Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư
Đảng ủy Công an Trung ương,
Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ biên Thiếu tướng, TS LÊ QUỐC HÙNG Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an GS.TS PHÙNG HỮU PHÚ Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ
quan Đảng Trung ương, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng
Lý luận Trung ương PGS.TS PHẠM MINH TUẤN Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật Trung tướng, TS ĐỖ LÊ CHI Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến
lược và Lịch sử Công an Trung tướng
NGUYỄN NGỌC TOÀN
Cục trưởng Cục Công tác đảng và Công tác chính trị
Thiếu tướng, PGS.TS
LÊ VĂN THẮNG
Giám đốc Học viện An ninh nhân dân
TS LÊ ĐÌNH TĨNH Viện trưởng Viện Nghiên cứu
chiến lược ngoại giao Đại tá, TS ĐỖ VĂN HOAN Phó Cục trưởng Cục Khoa học,
Chiến lược và Lịch sử Công an Trung tá, PGS.TS
NGUYỄN QUANG CHIẾN
Trưởng ban Nghiên cứu chiến lược Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an
Trang 5NHỮNG ĐIỂM MỚI
VỀ AN NINH QUỐC GIA
TRONG VĂN KIỆN
ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Hà Nội - 2021
Trang 6Đại tướng, GS.TS TÔ LÂM Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư
Đảng ủy Công an Trung ương,
Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ biên Thiếu tướng, TS LÊ QUỐC HÙNG Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an GS.TS PHÙNG HỮU PHÚ Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ
quan Đảng Trung ương, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng
Lý luận Trung ương PGS.TS PHẠM MINH TUẤN Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia Sự thật Trung tướng, TS ĐỖ LÊ CHI Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến
lược và Lịch sử Công an Trung tướng
NGUYỄN NGỌC TOÀN
Cục trưởng Cục Công tác đảng và Công tác chính trị
Thiếu tướng, PGS.TS
LÊ VĂN THẮNG
Giám đốc Học viện An ninh nhân dân
TS LÊ ĐÌNH TĨNH Viện trưởng Viện Nghiên cứu
chiến lược ngoại giao Đại tá, TS ĐỖ VĂN HOAN Phó Cục trưởng Cục Khoa học,
Chiến lược và Lịch sử Công an Trung tá, PGS.TS
NGUYỄN QUANG CHIẾN
Trưởng ban Nghiên cứu chiến lược Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an
Trang 7LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là một sự
kiện chính trị trọng đại của Đảng, đất nước và dân tộc
ta trong năm 2021, đã diễn ra và thành công rất tốt
đẹp Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá
trình toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục đẩy
mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập
và phát triển đất nước Đại hội không chỉ đề ra chủ
trương, đường lối, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển đất nước đến năm 2025, mà còn quyết định
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030,
xác định tầm nhìn đến năm 2045 Các văn kiện được
thông qua tại Đại hội không chỉ có giá trị định hướng
phát triển đất nước trong những năm tới, mà còn có ý
nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc
Trong văn kiện trung tâm của Đại hội là Báo cáo
chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và
các báo cáo chuyên đề, Đảng ta luôn dành sự quan tâm
đặc biệt đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng, khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” Trước những diễn biến nhanh chóng, khó dự báo của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã hoàn thiện tư duy lý luận về an ninh quốc gia và bảo vệ
an ninh quốc gia, trong đó có những điểm mới, thể hiện
sự phát triển không ngừng trong nhận thức, tư duy về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia, phù hợp với quy luật khách quan, kịp thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn đặt ra
Để cung cấp những luận cứ, luận giải, phân tích những điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về an ninh quốc gia, làm tài liệu học tập, tham khảo quan trọng cho cấp ủy các cấp, cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân và đông đảo bạn đọc quan tâm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Những điểm mới về an ninh quốc gia trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng do Đại tướng,
GS.TS Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công
an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an làm chủ biên
Trang 8LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là một sự
kiện chính trị trọng đại của Đảng, đất nước và dân tộc
ta trong năm 2021, đã diễn ra và thành công rất tốt
đẹp Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá
trình toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục đẩy
mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập
và phát triển đất nước Đại hội không chỉ đề ra chủ
trương, đường lối, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển đất nước đến năm 2025, mà còn quyết định
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030,
xác định tầm nhìn đến năm 2045 Các văn kiện được
thông qua tại Đại hội không chỉ có giá trị định hướng
phát triển đất nước trong những năm tới, mà còn có ý
nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc
Trong văn kiện trung tâm của Đại hội là Báo cáo
chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và
các báo cáo chuyên đề, Đảng ta luôn dành sự quan tâm
đặc biệt đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng, khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” Trước những diễn biến nhanh chóng, khó dự báo của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã hoàn thiện tư duy lý luận về an ninh quốc gia và bảo vệ
an ninh quốc gia, trong đó có những điểm mới, thể hiện
sự phát triển không ngừng trong nhận thức, tư duy về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia, phù hợp với quy luật khách quan, kịp thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn đặt ra
Để cung cấp những luận cứ, luận giải, phân tích những điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về an ninh quốc gia, làm tài liệu học tập, tham khảo quan trọng cho cấp ủy các cấp, cán bộ, chiến sĩ lực lượng Công an nhân dân và đông đảo bạn đọc quan tâm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Những điểm mới về an ninh quốc gia trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng do Đại tướng,
GS.TS Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công
an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an làm chủ biên
Trang 9Cuốn sách được nghiên cứu, biên soạn khoa học, chặt
chẽ trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung cơ bản
của Chuyên đề “Những nhận thức mới và tư duy mới về
an ninh quốc gia” do Đại tướng, GS.TS Tô Lâm, Ủy viên
Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương,
Bộ trưởng Bộ Công an trình bày tại Hội nghị toàn quốc
nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 28/3/2021
Tham gia nghiên cứu, biên soạn, góp ý kiến cho cuốn
sách là đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, lãnh đạo,
tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Công an và các đơn vị
của Bộ Công an (Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử
Công an; Học viện An ninh nhân dân; Cục Công tác đảng
và Công tác chính trị; Văn phòng Bộ Công an; Cục B01;
Học viện Chính trị Công an nhân dân); Hội đồng Lý luận
Trung ương; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật;
Viện Nghiên cứu chiến lược ngoại giao, dưới sự chỉ đạo sát
sao, tâm huyết của đồng chí Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công
an Sau khi bản thảo cuốn sách được hoàn thiện,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã phối hợp với
Bộ Công an thành lập Hội đồng nghiệm thu, góp ý bản
thảo từ các chuyên gia trong và ngoài lực lượng Công an
Tuy nhiên, do quá trình biên soạn và xuất bản rất khẩn
trương nhằm phục vụ kịp thời việc học tập, quán triệt,
triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nên nội dung cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế Rất mong nhận được ý kiến góp ý của cán bộ, chiến sĩ và bạn đọc để nội dung cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 11 năm 2021
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 10Cuốn sách được nghiên cứu, biên soạn khoa học, chặt
chẽ trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung cơ bản
của Chuyên đề “Những nhận thức mới và tư duy mới về
an ninh quốc gia” do Đại tướng, GS.TS Tô Lâm, Ủy viên
Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương,
Bộ trưởng Bộ Công an trình bày tại Hội nghị toàn quốc
nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 28/3/2021
Tham gia nghiên cứu, biên soạn, góp ý kiến cho cuốn
sách là đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, lãnh đạo,
tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Công an và các đơn vị
của Bộ Công an (Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử
Công an; Học viện An ninh nhân dân; Cục Công tác đảng
và Công tác chính trị; Văn phòng Bộ Công an; Cục B01;
Học viện Chính trị Công an nhân dân); Hội đồng Lý luận
Trung ương; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật;
Viện Nghiên cứu chiến lược ngoại giao, dưới sự chỉ đạo sát
sao, tâm huyết của đồng chí Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công
an Sau khi bản thảo cuốn sách được hoàn thiện,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã phối hợp với
Bộ Công an thành lập Hội đồng nghiệm thu, góp ý bản
thảo từ các chuyên gia trong và ngoài lực lượng Công an
Tuy nhiên, do quá trình biên soạn và xuất bản rất khẩn
trương nhằm phục vụ kịp thời việc học tập, quán triệt,
triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nên nội dung cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế Rất mong nhận được ý kiến góp ý của cán bộ, chiến sĩ và bạn đọc để nội dung cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 11 năm 2021
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn
ra từ ngày 25/01 đến ngày 01/02/2021 tại Hà Nội Đại hội
đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII
của Đảng gắn với 35 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi
mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, tổng kết 10
năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011,
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; đề ra
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
2021 - 2025; xác định mục tiêu, phương hướng đến năm
2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045
Nhấn mạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tại Đại
hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng,
an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng,
Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân
đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”1 Từ đó
nhất quán thực hiện chủ trương: “Xây dựng Quân đội
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2021, t.I, tr.156
nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”1 Định hướng này nằm trong tổng thể tầm nhìn
và định hướng phát triển của đất nước: “Đến năm 2025:
Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện
đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp Đến năm 2030:
Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao Đến năm 2045: Trở thành nước phát
triển thu nhập cao”2
Là lực lượng nòng cốt, trọng yếu trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, thời gian qua, lực lượng Công an nhân dân đã không ngừng quyết tâm, vượt qua khó khăn, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm thất bại các âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và là vấn
đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia của lực lượng Công an nhân dân
_
1, 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.157-158, 36
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn
ra từ ngày 25/01 đến ngày 01/02/2021 tại Hà Nội Đại hội
đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII
của Đảng gắn với 35 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi
mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, tổng kết 10
năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011,
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; đề ra
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
2021 - 2025; xác định mục tiêu, phương hướng đến năm
2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045
Nhấn mạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tại Đại
hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng,
an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng,
Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân
đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”1 Từ đó
nhất quán thực hiện chủ trương: “Xây dựng Quân đội
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2021, t.I, tr.156
nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”1 Định hướng này nằm trong tổng thể tầm nhìn
và định hướng phát triển của đất nước: “Đến năm 2025:
Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện
đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp Đến năm 2030:
Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao Đến năm 2045: Trở thành nước phát
triển thu nhập cao”2
Là lực lượng nòng cốt, trọng yếu trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, thời gian qua, lực lượng Công an nhân dân đã không ngừng quyết tâm, vượt qua khó khăn, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm thất bại các âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và là vấn
đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia của lực lượng Công an nhân dân
_
1, 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.157-158, 36
Trang 13Trong bối cảnh mới, với tầm nhìn chiến lược, những
quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội XIII về an ninh
quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia ngày càng hoàn thiện,
có nhiều điểm mới, thể hiện sự phát triển không ngừng
trong nhận thức, tư duy về an ninh quốc gia và bảo vệ an
ninh quốc gia, phù hợp với quy luật khách quan, kịp thời
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn đặt ra
Trên cơ sở chắt lọc, tổng hợp những nhận thức mới về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia trong Văn kiện
Đại hội XIII của Đảng, trọng tâm và chủ yếu là Báo cáo
chính trị, có sự so sánh, đối chiếu, đánh giá với văn kiện tại
các kỳ Đại hội Đảng trước đây, cuốn sách trình bày sự phát
triển nhận thức, tư duy của Đảng về an ninh quốc gia và
bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới Với cách tiếp
cận đó, trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung chủ
yếu từ Chuyên đề “Những nhận thức mới và tư duy mới về
an ninh quốc gia” được trình bày tại Hội nghị toàn quốc
nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng ngày 28/3/2021, cuốn sách được bố cục gồm hai phần:
Phần thứ nhất: Bối cảnh mới và khái quát những điểm
mới trong nhận thức, tư duy về an ninh quốc gia và bảo vệ
an ninh quốc gia
Từ nhận định bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, khó
dự báo tác động mạnh đến môi trường an ninh của Việt
Nam và phân tích bối cảnh trong nước sau 35 năm đổi mới,
Đảng ta đã có nhận thức, tư duy toàn diện, sâu sắc hơn về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia, thể hiện tập
trung ở các điểm sau: 1) Nhận thức về an ninh quốc gia và
vị trí của nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; 2) Nhận thức
về phạm vi bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia; 3) Nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia; 4) Nhận thức về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia; 5) Tư duy về xây dựng lực lượng Công an nhân dân; 6) Nhận thức
về phương châm, kế sách bảo vệ an ninh quốc gia; 7) Nhận thức về đối tác, đối tượng; 8) Nhận thức về huy động các nguồn lực trong bảo vệ an ninh quốc gia; 9) Nhận thức về biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia
Phần thứ hai: Một số điểm mới nổi bật về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia
Phần này lựa chọn giới thiệu một số điểm mới nổi bật về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia mà Văn kiện
Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh như: 1) An ninh con
người và bảo vệ an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự,
kỷ cương; 2) Xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; 3) Nghiên cứu, phát triển
lý luận an ninh; 4) Củng cố, phát huy tiềm lực quốc phòng, an ninh; 5) Kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại
Trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc
Trang 14Trong bối cảnh mới, với tầm nhìn chiến lược, những
quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội XIII về an ninh
quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia ngày càng hoàn thiện,
có nhiều điểm mới, thể hiện sự phát triển không ngừng
trong nhận thức, tư duy về an ninh quốc gia và bảo vệ an
ninh quốc gia, phù hợp với quy luật khách quan, kịp thời
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn đặt ra
Trên cơ sở chắt lọc, tổng hợp những nhận thức mới về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia trong Văn kiện
Đại hội XIII của Đảng, trọng tâm và chủ yếu là Báo cáo
chính trị, có sự so sánh, đối chiếu, đánh giá với văn kiện tại
các kỳ Đại hội Đảng trước đây, cuốn sách trình bày sự phát
triển nhận thức, tư duy của Đảng về an ninh quốc gia và
bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới Với cách tiếp
cận đó, trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung chủ
yếu từ Chuyên đề “Những nhận thức mới và tư duy mới về
an ninh quốc gia” được trình bày tại Hội nghị toàn quốc
nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng ngày 28/3/2021, cuốn sách được bố cục gồm hai phần:
Phần thứ nhất: Bối cảnh mới và khái quát những điểm
mới trong nhận thức, tư duy về an ninh quốc gia và bảo vệ
an ninh quốc gia
Từ nhận định bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, khó
dự báo tác động mạnh đến môi trường an ninh của Việt
Nam và phân tích bối cảnh trong nước sau 35 năm đổi mới,
Đảng ta đã có nhận thức, tư duy toàn diện, sâu sắc hơn về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia, thể hiện tập
trung ở các điểm sau: 1) Nhận thức về an ninh quốc gia và
vị trí của nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; 2) Nhận thức
về phạm vi bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia; 3) Nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia; 4) Nhận thức về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia; 5) Tư duy về xây dựng lực lượng Công an nhân dân; 6) Nhận thức
về phương châm, kế sách bảo vệ an ninh quốc gia; 7) Nhận thức về đối tác, đối tượng; 8) Nhận thức về huy động các nguồn lực trong bảo vệ an ninh quốc gia; 9) Nhận thức về biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia
Phần thứ hai: Một số điểm mới nổi bật về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia
Phần này lựa chọn giới thiệu một số điểm mới nổi bật về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia mà Văn kiện
Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh như: 1) An ninh con
người và bảo vệ an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự,
kỷ cương; 2) Xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; 3) Nghiên cứu, phát triển
lý luận an ninh; 4) Củng cố, phát huy tiềm lực quốc phòng, an ninh; 5) Kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại
Trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc
Trang 15Phần thứ nhất
BỐI CẢNH MỚI VÀ KHÁI QUÁT NHỮNG ĐIỂM MỚI
TRONG NHẬN THỨC, TƯ DUY VỀ AN NINH QUỐC GIA
VÀ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA
Bối cảnh mới:
• Trên thế giới, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ,
hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, là nguyện
vọng, đồng thời là mục đích của cộng đồng quốc tế
và mọi quốc gia, tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược
nước lớn gây nhiều biến động đối với môi trường
an ninh quốc tế
• Đất nước ta đã đạt được “những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử”, phát triển mạnh mẽ,
toàn diện
Những điểm mới trong nhận thức, tư duy về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia:
• Nhận thức về an ninh quốc gia và vị trí của
nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia
• Nhận thức về phạm vi bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an
ninh quốc gia
• Nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia.
• Nhận thức về vai trò của nhân dân trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia
• Tư duy về xây dựng lực lượng Công an nhân dân
• Nhận thức về phương châm, kế sách bảo vệ an
ninh quốc gia
• Nhận thức về đối tác, đối tượng
• Nhận thức về huy động các nguồn lực trong bảo
vệ an ninh quốc gia
• Nhận thức về biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia
Trang 16Phần thứ nhất
BỐI CẢNH MỚI VÀ KHÁI QUÁT NHỮNG ĐIỂM MỚI
TRONG NHẬN THỨC, TƯ DUY VỀ AN NINH QUỐC GIA
VÀ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA
Bối cảnh mới:
• Trên thế giới, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ,
hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, là nguyện
vọng, đồng thời là mục đích của cộng đồng quốc tế
và mọi quốc gia, tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược
nước lớn gây nhiều biến động đối với môi trường
an ninh quốc tế
• Đất nước ta đã đạt được “những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử”, phát triển mạnh mẽ,
toàn diện
Những điểm mới trong nhận thức, tư duy về
an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia:
• Nhận thức về an ninh quốc gia và vị trí của
nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia
• Nhận thức về phạm vi bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an
ninh quốc gia
• Nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia.
• Nhận thức về vai trò của nhân dân trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia
• Tư duy về xây dựng lực lượng Công an nhân dân
• Nhận thức về phương châm, kế sách bảo vệ an
ninh quốc gia
• Nhận thức về đối tác, đối tượng
• Nhận thức về huy động các nguồn lực trong bảo
vệ an ninh quốc gia
• Nhận thức về biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia
Trang 17I- BỐI CẢNH MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐẶT RA ĐỐI VỚI AN NINH QUỐC GIA
VÀ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA HIỆN NAY
1 Bối cảnh mới
a) Thế giới
Thứ nhất, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp
tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, là nguyện vọng,
đồng thời là mục đích của cộng đồng quốc tế và mọi
quốc gia, tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược nước lớn gây
nhiều biến động đối với môi trường an ninh quốc tế
Dự báo về tình hình thế giới trong những năm tới,
Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Hòa bình, hợp tác và
phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước
nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức Toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị
đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan,
cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh
thương mại diễn ra gay gắt”1 Nhận định trên thể hiện
hiểu biết và tầm nhìn chiến lược, toàn diện của Đảng
trên cơ sở phân tích những yếu tố trọng tâm trong quan
hệ quốc tế thời kỳ này
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.30
Yếu tố chi phối lớn nhất là sự biến động về tương quan nước lớn/trung tâm quyền lực lớn làm thay đổi tương đối căn bản cục diện thế giới và trật tự quan hệ quốc tế Sau hơn 40 năm cải cách, mở cửa nền kinh tế
(từ năm 1978), tiềm lực và vị thế của Trung Quốc tăng nhanh và đặt nước này vào vị thế của một siêu cường đang lên Đại hội lần thứ XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2012) đánh dấu sự điều chỉnh mang tính bước ngoặt của Trung Quốc, cụ thể hóa bằng “hai mục tiêu 100 năm”: Mục tiêu “100 năm lần thứ nhất” (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2021), Trung Quốc xây dựng được một xã hội khá giả; và mục tiêu “100 năm lần thứ hai” (kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2049), Trung Quốc trở thành cường quốc hàng đầu thế giới Về chính sách đối ngoại, Trung Quốc triển khai trên hai trụ cột là “ngoại giao nước lớn” và “ngoại giao láng giềng”, trên nguyên tắc kiên trì, chủ động về chiến lược Điều này diễn ra vào thời điểm Liên Xô tan rã và Nga phải dồn sức hồi phục, Mỹ suy giảm tương đối quốc lực và ảnh hưởng quốc tế, trong khi EU lâm vào khủng hoảng, Nhật Bản, Ấn Độ không tạo được bứt phá Bối cảnh trên dẫn đến tình trạng trật tự quan hệ quốc tế biến động phức tạp, khó dự đoán
Trang 18I- BỐI CẢNH MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐẶT RA ĐỐI VỚI AN NINH QUỐC GIA
VÀ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA HIỆN NAY
1 Bối cảnh mới
a) Thế giới
Thứ nhất, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp
tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, là nguyện vọng,
đồng thời là mục đích của cộng đồng quốc tế và mọi
quốc gia, tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược nước lớn gây
nhiều biến động đối với môi trường an ninh quốc tế
Dự báo về tình hình thế giới trong những năm tới,
Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Hòa bình, hợp tác và
phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước
nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức Toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị
đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan,
cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh
thương mại diễn ra gay gắt”1 Nhận định trên thể hiện
hiểu biết và tầm nhìn chiến lược, toàn diện của Đảng
trên cơ sở phân tích những yếu tố trọng tâm trong quan
hệ quốc tế thời kỳ này
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.30
Yếu tố chi phối lớn nhất là sự biến động về tương quan nước lớn/trung tâm quyền lực lớn làm thay đổi tương đối căn bản cục diện thế giới và trật tự quan hệ quốc tế Sau hơn 40 năm cải cách, mở cửa nền kinh tế
(từ năm 1978), tiềm lực và vị thế của Trung Quốc tăng nhanh và đặt nước này vào vị thế của một siêu cường đang lên Đại hội lần thứ XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2012) đánh dấu sự điều chỉnh mang tính bước ngoặt của Trung Quốc, cụ thể hóa bằng “hai mục tiêu 100 năm”: Mục tiêu “100 năm lần thứ nhất” (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2021), Trung Quốc xây dựng được một xã hội khá giả; và mục tiêu “100 năm lần thứ hai” (kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2049), Trung Quốc trở thành cường quốc hàng đầu thế giới Về chính sách đối ngoại, Trung Quốc triển khai trên hai trụ cột là “ngoại giao nước lớn” và “ngoại giao láng giềng”, trên nguyên tắc kiên trì, chủ động về chiến lược Điều này diễn ra vào thời điểm Liên Xô tan rã và Nga phải dồn sức hồi phục, Mỹ suy giảm tương đối quốc lực và ảnh hưởng quốc tế, trong khi EU lâm vào khủng hoảng, Nhật Bản, Ấn Độ không tạo được bứt phá Bối cảnh trên dẫn đến tình trạng trật tự quan hệ quốc tế biến động phức tạp, khó dự đoán
Trang 19Thứ hai, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa biệt lập nổi
lên làm tăng những ứng xử cực đoan, cường quyền, làm
suy yếu mô thức hợp tác đa phương trong quan hệ quốc
tế; tuy nhiên cũng tạo điều kiện xuất hiện những mô
thức hợp tác đa phương mới
Lợi ích quốc gia được đẩy lên rất cao do tác động của
chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa biệt lập ở cả chiều chủ
động lẫn bị động Chủ nghĩa dân túy không còn là một
trào lưu xã hội mà mang màu sắc dân tộc cực đoan, áp
chế lợi ích của quốc gia, đơn phương, cường quyền trong
quan hệ quốc tế Xu hướng trên biểu hiện rõ trong triển
khai chính sách đối ngoại của nước lớn
Vai trò của luật pháp quốc tế và các cơ chế đa
phương, kể cả Liên hợp quốc, bị suy giảm trước tình
trạng nước lớn áp đặt, cường quyền, tuy nhiên “đa
phương” sẽ tiếp tục là mô thức hữu hiệu trong xử lý
quan hệ quốc tế Về hình thức, hợp tác đa phương đang
bị suy giảm nghiêm trọng trước chính sách áp đặt đơn
phương của nước lớn, xâm hại lợi ích nước nhỏ và đẩy
nước nhỏ vào tình thế phải “chọn bên” Tuy nhiên,
trạng thái này sẽ không kéo dài Do bản chất lợi ích các
quốc gia ngày càng tùy thuộc lẫn nhau hơn trong thời
đại mới nên phạm vi ảnh hưởng của các xung đột lợi ích
vốn có sẽ rộng lớn hơn, vì vậy việc xử lý xung đột lợi ích
cũng sẽ phải có sự can dự của nhiều bên liên quan,
thông qua phương thức “đa phương”, không thể đơn thuần “đơn phương” hoặc “song phương” Trong mô thức
đó, luật pháp quốc tế vẫn sẽ là công cụ hữu hiệu nhất
để xử lý xung đột lợi ích quốc tế
Đáng chú ý, gần đây nhóm các nước ASEAN biển đảo (AS-5)1 dưới nhiều hình thức như ra tuyên bố, đệ trình công hàm lên Liên hợp quốc công khai phản đối các tuyên bố và hành động của Trung Quốc liên quan
“chủ quyền đường lưỡi bò”, coi trọng phán quyết của Tòa trọng tài của Liên hợp quốc xử vụ kiện của Philíppin (năm 2016) cho thấy sức sống mạnh mẽ của UNCLOS 1982 và biện pháp pháp lý trong chính sách của các nước ASEAN đối với vấn đề Biển Đông Với xu thế mới này, trong thời gian tới, “đa phương” và luật pháp quốc tế sẽ từng bước trở lại là phương thức chủ đạo trong xử lý xung đột lợi ích, và điều này có nhiều ý nghĩa đối với lựa chọn chính sách của các nước nhỏ
trong quan hệ với nước lớn
Thứ ba, các nguy cơ an ninh phi truyền thống nổi lên với ý nghĩa vừa là mối đe dọa chung đối với loài người và
_
1 Nhóm AS-5 (ASEAN Sea) gồm 5 quốc đảo là thành viên ASEAN là: Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philíppin và Brunây Nhóm AM-5 (ASEAN Mêkông) gồm 5 nước thành viên ASEAN thuộc Tiểu vùng sông Mêkông là: Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam
Trang 20Thứ hai, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa biệt lập nổi
lên làm tăng những ứng xử cực đoan, cường quyền, làm
suy yếu mô thức hợp tác đa phương trong quan hệ quốc
tế; tuy nhiên cũng tạo điều kiện xuất hiện những mô
thức hợp tác đa phương mới
Lợi ích quốc gia được đẩy lên rất cao do tác động của
chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa biệt lập ở cả chiều chủ
động lẫn bị động Chủ nghĩa dân túy không còn là một
trào lưu xã hội mà mang màu sắc dân tộc cực đoan, áp
chế lợi ích của quốc gia, đơn phương, cường quyền trong
quan hệ quốc tế Xu hướng trên biểu hiện rõ trong triển
khai chính sách đối ngoại của nước lớn
Vai trò của luật pháp quốc tế và các cơ chế đa
phương, kể cả Liên hợp quốc, bị suy giảm trước tình
trạng nước lớn áp đặt, cường quyền, tuy nhiên “đa
phương” sẽ tiếp tục là mô thức hữu hiệu trong xử lý
quan hệ quốc tế Về hình thức, hợp tác đa phương đang
bị suy giảm nghiêm trọng trước chính sách áp đặt đơn
phương của nước lớn, xâm hại lợi ích nước nhỏ và đẩy
nước nhỏ vào tình thế phải “chọn bên” Tuy nhiên,
trạng thái này sẽ không kéo dài Do bản chất lợi ích các
quốc gia ngày càng tùy thuộc lẫn nhau hơn trong thời
đại mới nên phạm vi ảnh hưởng của các xung đột lợi ích
vốn có sẽ rộng lớn hơn, vì vậy việc xử lý xung đột lợi ích
cũng sẽ phải có sự can dự của nhiều bên liên quan,
thông qua phương thức “đa phương”, không thể đơn thuần “đơn phương” hoặc “song phương” Trong mô thức
đó, luật pháp quốc tế vẫn sẽ là công cụ hữu hiệu nhất
để xử lý xung đột lợi ích quốc tế
Đáng chú ý, gần đây nhóm các nước ASEAN biển đảo (AS-5)1 dưới nhiều hình thức như ra tuyên bố, đệ trình công hàm lên Liên hợp quốc công khai phản đối các tuyên bố và hành động của Trung Quốc liên quan
“chủ quyền đường lưỡi bò”, coi trọng phán quyết của Tòa trọng tài của Liên hợp quốc xử vụ kiện của Philíppin (năm 2016) cho thấy sức sống mạnh mẽ của UNCLOS 1982 và biện pháp pháp lý trong chính sách của các nước ASEAN đối với vấn đề Biển Đông Với xu thế mới này, trong thời gian tới, “đa phương” và luật pháp quốc tế sẽ từng bước trở lại là phương thức chủ đạo trong xử lý xung đột lợi ích, và điều này có nhiều ý nghĩa đối với lựa chọn chính sách của các nước nhỏ
trong quan hệ với nước lớn
Thứ ba, các nguy cơ an ninh phi truyền thống nổi lên với ý nghĩa vừa là mối đe dọa chung đối với loài người và
_
1 Nhóm AS-5 (ASEAN Sea) gồm 5 quốc đảo là thành viên ASEAN là: Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philíppin và Brunây Nhóm AM-5 (ASEAN Mêkông) gồm 5 nước thành viên ASEAN thuộc Tiểu vùng sông Mêkông là: Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam
Trang 21khuyến khích nỗ lực hợp tác tập thể, vừa là phương tiện
nhiều quốc gia lợi dụng để làm suy yếu lẫn nhau
Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng
đa dạng và phức tạp, tốc độ và phạm vi ảnh hưởng rất
nhanh chóng, tác động to lớn, trực tiếp, đa chiều đến
mọi mặt đời sống xã hội An ninh phi truyền thống có
tính phổ biến và toàn cầu, cơ bản thuộc các nhóm:
(1) Thiên tai, dịch bệnh và biến đổi môi trường; (2) Xung
đột lợi ích trong xã hội liên quan đến dân tộc, tôn giáo,
nhóm lợi ích; (3) Hoạt động tội phạm sử dụng công nghệ
cao Đặc điểm chung của những mối đe dọa này là
chúng có thể vượt ngoài dự báo và ứng phó của các quốc
gia Khả năng đối phó của mỗi quốc gia khác nhau tùy
thuộc vào hình thái tổ chức, quản trị xã hội và tiềm lực
tổng hợp, tuy nhiên dù là thuộc hình thái nào thì mỗi
quốc gia đều không thể tự mình đối phó thành công với
mối đe dọa an ninh dạng này Sự lan tỏa rộng rãi,
nhanh chóng và phức tạp của chúng đòi hỏi nỗ lực to
lớn, thống nhất và kịp thời của toàn cầu, trong đó trước
hết là sự hợp tác của những nước lớn Điều này cũng
nhấn mạnh hơn xu thế trở lại tất yếu của các nỗ lực hợp
tác “đa phương”
Bên cạnh đó, các nước có tiềm năng lớn và có lợi thế tự
nhiên cũng chú ý tạo ra hoặc lợi dụng những thách thức
an ninh phi truyền thống nhằm thúc đẩy lợi ích của mình bằng cách hy sinh lợi ích của quốc gia khác Điều
này ngày càng trở nên phổ biến trong quan hệ quốc tế,
từ việc tạo ra và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ cao để chiếm đoạt tài sản hoặc gây suy giảm sức mạnh của quốc gia khác đến việc lợi dụng hoặc làm trầm trọng hơn những thách thức an ninh sẵn có làm công cụ triển khai lợi ích chiến lược của mình đối với quốc gia, khu vực khác Mỹ, Nga và Trung Quốc là những nước lớn, có ưu thế về khoa học - công nghệ, là những quốc gia hàng đầu trên lĩnh vực này
Diễn biến của đại dịch Covid-19 đến nay cũng làm nổi lên một số đặc điểm mới như sự khác biệt trong khả năng đối phó của nhân loại, thể hiện rõ nét trong mô hình tổ chức xã hội của phương Tây (nhấn mạnh vai trò
tự do cá nhân) và mô hình phương Đông (đặt cao hơn vai trò tập trung của nhà nước) Nó cũng cho thấy không một quốc gia nào là an toàn nếu đứng một mình, cho dù tiềm lực khoa học - công nghệ mạnh đến đâu Điều này cũng cho thấy, đối với những thách thức an ninh phi truyền thống, việc thúc đẩy những mô hình hợp tác quốc tế là yêu cầu khách quan, trong đó lợi ích của mỗi quốc gia được bảo đảm hơn và hành vi của mọi quốc gia đều phải chịu sự điều chỉnh bởi các cam kết quốc tế, vì lợi ích cộng đồng
Trang 22khuyến khích nỗ lực hợp tác tập thể, vừa là phương tiện
nhiều quốc gia lợi dụng để làm suy yếu lẫn nhau
Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng
đa dạng và phức tạp, tốc độ và phạm vi ảnh hưởng rất
nhanh chóng, tác động to lớn, trực tiếp, đa chiều đến
mọi mặt đời sống xã hội An ninh phi truyền thống có
tính phổ biến và toàn cầu, cơ bản thuộc các nhóm:
(1) Thiên tai, dịch bệnh và biến đổi môi trường; (2) Xung
đột lợi ích trong xã hội liên quan đến dân tộc, tôn giáo,
nhóm lợi ích; (3) Hoạt động tội phạm sử dụng công nghệ
cao Đặc điểm chung của những mối đe dọa này là
chúng có thể vượt ngoài dự báo và ứng phó của các quốc
gia Khả năng đối phó của mỗi quốc gia khác nhau tùy
thuộc vào hình thái tổ chức, quản trị xã hội và tiềm lực
tổng hợp, tuy nhiên dù là thuộc hình thái nào thì mỗi
quốc gia đều không thể tự mình đối phó thành công với
mối đe dọa an ninh dạng này Sự lan tỏa rộng rãi,
nhanh chóng và phức tạp của chúng đòi hỏi nỗ lực to
lớn, thống nhất và kịp thời của toàn cầu, trong đó trước
hết là sự hợp tác của những nước lớn Điều này cũng
nhấn mạnh hơn xu thế trở lại tất yếu của các nỗ lực hợp
tác “đa phương”
Bên cạnh đó, các nước có tiềm năng lớn và có lợi thế tự
nhiên cũng chú ý tạo ra hoặc lợi dụng những thách thức
an ninh phi truyền thống nhằm thúc đẩy lợi ích của mình bằng cách hy sinh lợi ích của quốc gia khác Điều
này ngày càng trở nên phổ biến trong quan hệ quốc tế,
từ việc tạo ra và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ cao để chiếm đoạt tài sản hoặc gây suy giảm sức mạnh của quốc gia khác đến việc lợi dụng hoặc làm trầm trọng hơn những thách thức an ninh sẵn có làm công cụ triển khai lợi ích chiến lược của mình đối với quốc gia, khu vực khác Mỹ, Nga và Trung Quốc là những nước lớn, có ưu thế về khoa học - công nghệ, là những quốc gia hàng đầu trên lĩnh vực này
Diễn biến của đại dịch Covid-19 đến nay cũng làm nổi lên một số đặc điểm mới như sự khác biệt trong khả năng đối phó của nhân loại, thể hiện rõ nét trong mô hình tổ chức xã hội của phương Tây (nhấn mạnh vai trò
tự do cá nhân) và mô hình phương Đông (đặt cao hơn vai trò tập trung của nhà nước) Nó cũng cho thấy không một quốc gia nào là an toàn nếu đứng một mình, cho dù tiềm lực khoa học - công nghệ mạnh đến đâu Điều này cũng cho thấy, đối với những thách thức an ninh phi truyền thống, việc thúc đẩy những mô hình hợp tác quốc tế là yêu cầu khách quan, trong đó lợi ích của mỗi quốc gia được bảo đảm hơn và hành vi của mọi quốc gia đều phải chịu sự điều chỉnh bởi các cam kết quốc tế, vì lợi ích cộng đồng
Trang 23Thứ tư, phát triển về khoa học - kỹ thuật và công
nghệ trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay
đổi từ phương thức quản trị, quan hệ quốc tế đến cách
thức quốc gia xử lý những vấn đề về an ninh
Phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghệ trong
thời đại mới đang tạo nên sự thay đổi to lớn quan hệ
giữa các khu vực, quốc gia; quan hệ giữa các tầng lớp xã
hội trong từng quốc gia thông qua trình độ làm chủ
khoa học, công nghệ Những bước tiến trên một số lĩnh
vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3D, internet vạn
vật, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học làm thay
đổi khả năng của con người trong đáp ứng nhu cầu của
cá nhân, xã hội trên mọi mặt của cuộc sống, thay đổi
quan niệm về lợi ích, kéo theo sự thay đổi về định
hướng chính sách của nhiều quốc gia - dân tộc, trong đó
có chính sách bảo đảm an ninh, trật tự quốc gia Ví dụ,
vào thập niên đầu của thế kỷ XXI khi Mỹ làm chủ được
công nghệ khai thác dầu đá phiến, Mỹ đã giảm hẳn sự
lệ thuộc vào nguồn dầu từ Trung Đông, dẫn đến sự thay
đổi lớn về chính sách, chuyển trọng tâm chiến lược từ
Âu sang Á Vào cuối thập niên thứ hai, các nước lớn
như Mỹ, Trung Quốc, Nga đã coi năng lực làm chủ
không gian mạng là ưu tiên hàng đầu để bảo vệ, tăng
cường an ninh quốc gia và giành chiến thắng nhanh
chóng trong chiến tranh hiện đại với chi phí rất ít
Thực tế trên đã làm thay đổi căn bản tư duy quân sự truyền thống, làm thay đổi so sánh sức mạnh quân sự giữa các quốc gia
Tuy nhiên, chỉ nước nào nắm được bí quyết về kỹ
thuật, công nghệ cao mới có được những lợi thế đó, và
sự chênh lệch này đang giúp các nước có ưu thế áp đặt ảnh hưởng hơn hẳn của mình trong quan hệ quốc tế
Ưu thế về khoa học - công nghệ tạo cho Mỹ, Nga, Trung Quốc năng lực chi phối, điều khiển chính sách
và khai thác nguồn lực của nhiều quốc gia Các quan
hệ quốc tế vì thế cũng có nhiều biến động Cạnh tranh chiến lược nước lớn cũng trở nên gay gắt hơn giữa những nước đi đầu về khoa học - công nghệ; các nước lớn đều lấy việc làm chủ khoa học - công nghệ hiện đại làm cơ sở để xác lập địa vị của mình trong trật tự quốc
tế, điều này đang gây biến động đáng kể đối với cục diện thế giới và khu vực
Bên cạnh đó, các loại tội phạm cũng lợi dụng tiến
bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ để thay đổi phương thức, biện pháp hoạt động khiến cho công tác
phòng ngừa, đấu tranh trở nên khó khăn hơn nhiều, nhất là đối với những nước tiềm lực yếu Tội phạm về
an ninh chính trị, khủng bố, ly khai tổ chức hoạt động chống phá dưới nhiều hình thức tinh vi hơn, khả năng gây mất ổn định chính trị cục bộ, thậm chí ở quy mô
Trang 24Thứ tư, phát triển về khoa học - kỹ thuật và công
nghệ trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay
đổi từ phương thức quản trị, quan hệ quốc tế đến cách
thức quốc gia xử lý những vấn đề về an ninh
Phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghệ trong
thời đại mới đang tạo nên sự thay đổi to lớn quan hệ
giữa các khu vực, quốc gia; quan hệ giữa các tầng lớp xã
hội trong từng quốc gia thông qua trình độ làm chủ
khoa học, công nghệ Những bước tiến trên một số lĩnh
vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3D, internet vạn
vật, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học làm thay
đổi khả năng của con người trong đáp ứng nhu cầu của
cá nhân, xã hội trên mọi mặt của cuộc sống, thay đổi
quan niệm về lợi ích, kéo theo sự thay đổi về định
hướng chính sách của nhiều quốc gia - dân tộc, trong đó
có chính sách bảo đảm an ninh, trật tự quốc gia Ví dụ,
vào thập niên đầu của thế kỷ XXI khi Mỹ làm chủ được
công nghệ khai thác dầu đá phiến, Mỹ đã giảm hẳn sự
lệ thuộc vào nguồn dầu từ Trung Đông, dẫn đến sự thay
đổi lớn về chính sách, chuyển trọng tâm chiến lược từ
Âu sang Á Vào cuối thập niên thứ hai, các nước lớn
như Mỹ, Trung Quốc, Nga đã coi năng lực làm chủ
không gian mạng là ưu tiên hàng đầu để bảo vệ, tăng
cường an ninh quốc gia và giành chiến thắng nhanh
chóng trong chiến tranh hiện đại với chi phí rất ít
Thực tế trên đã làm thay đổi căn bản tư duy quân sự truyền thống, làm thay đổi so sánh sức mạnh quân sự giữa các quốc gia
Tuy nhiên, chỉ nước nào nắm được bí quyết về kỹ
thuật, công nghệ cao mới có được những lợi thế đó, và
sự chênh lệch này đang giúp các nước có ưu thế áp đặt ảnh hưởng hơn hẳn của mình trong quan hệ quốc tế
Ưu thế về khoa học - công nghệ tạo cho Mỹ, Nga, Trung Quốc năng lực chi phối, điều khiển chính sách
và khai thác nguồn lực của nhiều quốc gia Các quan
hệ quốc tế vì thế cũng có nhiều biến động Cạnh tranh chiến lược nước lớn cũng trở nên gay gắt hơn giữa những nước đi đầu về khoa học - công nghệ; các nước lớn đều lấy việc làm chủ khoa học - công nghệ hiện đại làm cơ sở để xác lập địa vị của mình trong trật tự quốc
tế, điều này đang gây biến động đáng kể đối với cục diện thế giới và khu vực
Bên cạnh đó, các loại tội phạm cũng lợi dụng tiến
bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ để thay đổi phương thức, biện pháp hoạt động khiến cho công tác
phòng ngừa, đấu tranh trở nên khó khăn hơn nhiều, nhất là đối với những nước tiềm lực yếu Tội phạm về
an ninh chính trị, khủng bố, ly khai tổ chức hoạt động chống phá dưới nhiều hình thức tinh vi hơn, khả năng gây mất ổn định chính trị cục bộ, thậm chí ở quy mô
Trang 25quốc gia và khu vực cũng nhanh chóng, nguy hiểm hơn
Tội phạm người nước ngoài, sử dụng công nghệ cao cũng
dễ dàng hơn trong thâm nhập vào lãnh thổ hoặc hệ
thống của quốc gia tiềm lực yếu để phạm tội Có thể nói,
trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các quốc
gia đều có cả cơ hội lẫn thách thức, đều dựa vào yếu tố
này để phát triển quốc gia và tạo ảnh hưởng quốc tế Các
nước phát triển có ưu thế hơn nhiều, trong khi các nước
nhỏ, các nước kém và đang phát triển tiềm lực yếu, nếu
không tận dụng được cơ hội, thì sẽ bị nước lớn tìm cách
thao túng, rất khó bảo đảm được lợi ích quốc gia
b) Khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khu vực
châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục có vị trí chiến lược
ngày càng quan trọng Tại Đông Nam Á, môi trường an
ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn
biến phức tạp”1 Để hiểu rõ hơn môi trường an ninh khu
vực sẽ chi phối an ninh quốc gia đối với Việt Nam trong
những năm tới, cần nhận biết rõ hơn một số vấn đề sau:
Một là, châu Á - Thái Bình Dương là động lực phát
triển toàn cầu trong thế kỷ XXI, tuy nhiên cũng là
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.31
địa bàn cạnh tranh chiến lược gay gắt nhất; cục diện khu vực đã bước sang một thời kỳ mới
Đến năm 2025, châu Á - Thái Bình Dương sẽ có 4/5 nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiếp tục là khu vực quyết định sự thịnh vượng toàn cầu Châu Á - Thái
Bình Dương là nơi tập trung 3/5 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu, lần lượt là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản; trong khi Ấn Độ đang phát triển nhanh chóng và dự kiến sẽ giành được vị trí thứ tư vào khoảng trước năm 2025 Các nền kinh tế thuộc châu Á - Thái Bình Dương chiếm hơn 60% GDP toàn thế giới Đây cũng là khu vực năng động nhất thế giới về giao lưu thương mại, chiếm 55,4% tổng số hiệp định tự do thương mại trên toàn cầu Vì vậy, các nước trên thế giới đều cho rằng châu Á - Thái Bình Dương quyết định sự thịnh vượng toàn cầu trong thế kỷ XXI và xây dựng những chiến lược lớn, đặt khu vực này vào trọng tâm chính sách Trung Quốc có chiến lược “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI), Mỹ có
“Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” (IPS), Nhật Bản có “Chính sách hướng Nam”, Ấn Độ có chính sách “Hành động phía Đông”, Nga cũng có “Chính sách hướng Đông” trong khi Ôxtrâylia có “Chính sách hướng Bắc” Đây đều là những chính sách lớn, thể hiện sự cam kết lâu dài đối với khu vực
Trang 26quốc gia và khu vực cũng nhanh chóng, nguy hiểm hơn
Tội phạm người nước ngoài, sử dụng công nghệ cao cũng
dễ dàng hơn trong thâm nhập vào lãnh thổ hoặc hệ
thống của quốc gia tiềm lực yếu để phạm tội Có thể nói,
trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các quốc
gia đều có cả cơ hội lẫn thách thức, đều dựa vào yếu tố
này để phát triển quốc gia và tạo ảnh hưởng quốc tế Các
nước phát triển có ưu thế hơn nhiều, trong khi các nước
nhỏ, các nước kém và đang phát triển tiềm lực yếu, nếu
không tận dụng được cơ hội, thì sẽ bị nước lớn tìm cách
thao túng, rất khó bảo đảm được lợi ích quốc gia
b) Khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khu vực
châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục có vị trí chiến lược
ngày càng quan trọng Tại Đông Nam Á, môi trường an
ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn
biến phức tạp”1 Để hiểu rõ hơn môi trường an ninh khu
vực sẽ chi phối an ninh quốc gia đối với Việt Nam trong
những năm tới, cần nhận biết rõ hơn một số vấn đề sau:
Một là, châu Á - Thái Bình Dương là động lực phát
triển toàn cầu trong thế kỷ XXI, tuy nhiên cũng là
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.31
địa bàn cạnh tranh chiến lược gay gắt nhất; cục diện khu vực đã bước sang một thời kỳ mới
Đến năm 2025, châu Á - Thái Bình Dương sẽ có 4/5 nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiếp tục là khu vực quyết định sự thịnh vượng toàn cầu Châu Á - Thái
Bình Dương là nơi tập trung 3/5 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu, lần lượt là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản; trong khi Ấn Độ đang phát triển nhanh chóng và dự kiến sẽ giành được vị trí thứ tư vào khoảng trước năm 2025 Các nền kinh tế thuộc châu Á - Thái Bình Dương chiếm hơn 60% GDP toàn thế giới Đây cũng là khu vực năng động nhất thế giới về giao lưu thương mại, chiếm 55,4% tổng số hiệp định tự do thương mại trên toàn cầu Vì vậy, các nước trên thế giới đều cho rằng châu Á - Thái Bình Dương quyết định sự thịnh vượng toàn cầu trong thế kỷ XXI và xây dựng những chiến lược lớn, đặt khu vực này vào trọng tâm chính sách Trung Quốc có chiến lược “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI), Mỹ có
“Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” (IPS), Nhật Bản có “Chính sách hướng Nam”, Ấn Độ có chính sách “Hành động phía Đông”, Nga cũng có “Chính sách hướng Đông” trong khi Ôxtrâylia có “Chính sách hướng Bắc” Đây đều là những chính sách lớn, thể hiện sự cam kết lâu dài đối với khu vực
Trang 27Tuy nhiên, khu vực này cũng chứa đựng nhiều nhất
số “điểm nóng” có thể biến thành xung đột, chiến tranh
liên quan đến tranh chấp về chủ quyền, lãnh thổ song
phương và đa phương như Biển Đông, biển Hoa Đông,
eo biển Đài Loan, biên giới Trung - Ấn, bán đảo Triều
Tiên Với sự phát triển thần kỳ trong hơn bốn thập
niên, Trung Quốc đã nâng địa vị quốc gia lên tầm cao
và làm thay đổi hoàn toàn tương quan lực lượng với Mỹ
tại khu vực1 Cho đến gần đây Mỹ nhận biết được sự
thay đổi lớn về tình hình khu vực trước sự nổi lên của
Trung Quốc, vì thế đã điều chỉnh mạnh về chiến lược,
đặt Trung Quốc vào vị trí đối tượng cạnh tranh trung
tâm và thực thi những chính sách đối đầu, bao vây,
kiềm chế nước này Chính sách trên thể hiện rất rõ nét
dưới thời Chính quyền D Trump và đang được tiếp nối
dưới Chính quyền J Biden Cục diện Chiến tranh lạnh
mới của thế giới thể hiện tập trung nhất tại châu Á -
Thái Bình Dương, với Mỹ và Trung Quốc đóng vai hai
“cực”, tạo nên tiến trình tập hợp lực lượng mới rất
phức tạp Đây là đặc điểm nổi bật của cục diện khu vực
châu Á - Thái Bình Dương hiện nay và ít nhất trong
khoảng thời gian 5 năm tới
_
1 Đến năm 2018, GDP của Trung Quốc tăng 93 lần so với
năm 1978 (từ 194,5 tỉ USD lên 13.895 tỉ USD), trong khi Mỹ chỉ
tăng 8,7 lần (từ 2.352 tỉ USD lên 20.529 tỉ USD); quy mô nền kinh
tế Trung Quốc từ chỗ kém Mỹ 15,7 lần được rút ngắn còn 1,4 lần
Hai là, Đông Nam Á là tâm điểm cạnh tranh của nước lớn, với Biển Đông là “chiến trường” hàng đầu, tác động nghiêm trọng đến môi trường an ninh khu vực nói chung, an ninh Việt Nam nói riêng
Chính sách của các nước lớn với châu Á - Thái Bình Dương có điểm chung là đều lấy Đông Nam Á làm trọng điểm, về cơ bản, các chính sách này đều ủng hộ xử lý hòa
bình các vấn đề an ninh tại khu vực; tuy nhiên, do xung đột về lợi ích nên tiến trình triển khai có những điểm
đối kháng và triệt tiêu nhau, điển hình là BRI và IPS
Cả hai chiến lược lớn này đều được triển khai trên phạm
vi khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đều lấy Đông Nam Á làm địa bàn trọng điểm và đều được triển khai trên cả ba lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh Trung Quốc triển khai BRI theo trục chính là từ Bắc xuống Nam; tiếp cận với Đông Nam Á/ASEAN theo hướng song phương, lấy kinh tế làm trụ cột, qua đó triển khai có hiệu quả các mục tiêu về chính trị và an ninh
Mỹ triển khai IPS theo trục từ Tây sang Đông; tiếp cận với Đông Nam Á/ASEAN theo hướng tập hợp sức mạnh chung ASEAN, tạo điều kiện cho “đồng thuận ASEAN” trên những vấn đề an ninh khu vực
Giá trị địa - chiến lược của Đông Nam Á gia tăng, kéo theo vai trò của tổ chức và từng nước thành viên ASEAN cũng tăng lên tại khu vực Về cơ bản, các nước lớn đều
thừa nhận và ủng hộ vai trò “trung tâm” của ASEAN,
Trang 28Tuy nhiên, khu vực này cũng chứa đựng nhiều nhất
số “điểm nóng” có thể biến thành xung đột, chiến tranh
liên quan đến tranh chấp về chủ quyền, lãnh thổ song
phương và đa phương như Biển Đông, biển Hoa Đông,
eo biển Đài Loan, biên giới Trung - Ấn, bán đảo Triều
Tiên Với sự phát triển thần kỳ trong hơn bốn thập
niên, Trung Quốc đã nâng địa vị quốc gia lên tầm cao
và làm thay đổi hoàn toàn tương quan lực lượng với Mỹ
tại khu vực1 Cho đến gần đây Mỹ nhận biết được sự
thay đổi lớn về tình hình khu vực trước sự nổi lên của
Trung Quốc, vì thế đã điều chỉnh mạnh về chiến lược,
đặt Trung Quốc vào vị trí đối tượng cạnh tranh trung
tâm và thực thi những chính sách đối đầu, bao vây,
kiềm chế nước này Chính sách trên thể hiện rất rõ nét
dưới thời Chính quyền D Trump và đang được tiếp nối
dưới Chính quyền J Biden Cục diện Chiến tranh lạnh
mới của thế giới thể hiện tập trung nhất tại châu Á -
Thái Bình Dương, với Mỹ và Trung Quốc đóng vai hai
“cực”, tạo nên tiến trình tập hợp lực lượng mới rất
phức tạp Đây là đặc điểm nổi bật của cục diện khu vực
châu Á - Thái Bình Dương hiện nay và ít nhất trong
khoảng thời gian 5 năm tới
_
1 Đến năm 2018, GDP của Trung Quốc tăng 93 lần so với
năm 1978 (từ 194,5 tỉ USD lên 13.895 tỉ USD), trong khi Mỹ chỉ
tăng 8,7 lần (từ 2.352 tỉ USD lên 20.529 tỉ USD); quy mô nền kinh
tế Trung Quốc từ chỗ kém Mỹ 15,7 lần được rút ngắn còn 1,4 lần
Hai là, Đông Nam Á là tâm điểm cạnh tranh của nước lớn, với Biển Đông là “chiến trường” hàng đầu, tác động nghiêm trọng đến môi trường an ninh khu vực nói chung, an ninh Việt Nam nói riêng
Chính sách của các nước lớn với châu Á - Thái Bình Dương có điểm chung là đều lấy Đông Nam Á làm trọng điểm, về cơ bản, các chính sách này đều ủng hộ xử lý hòa
bình các vấn đề an ninh tại khu vực; tuy nhiên, do xung đột về lợi ích nên tiến trình triển khai có những điểm
đối kháng và triệt tiêu nhau, điển hình là BRI và IPS
Cả hai chiến lược lớn này đều được triển khai trên phạm
vi khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đều lấy Đông Nam Á làm địa bàn trọng điểm và đều được triển khai trên cả ba lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh Trung Quốc triển khai BRI theo trục chính là từ Bắc xuống Nam; tiếp cận với Đông Nam Á/ASEAN theo hướng song phương, lấy kinh tế làm trụ cột, qua đó triển khai có hiệu quả các mục tiêu về chính trị và an ninh
Mỹ triển khai IPS theo trục từ Tây sang Đông; tiếp cận với Đông Nam Á/ASEAN theo hướng tập hợp sức mạnh chung ASEAN, tạo điều kiện cho “đồng thuận ASEAN” trên những vấn đề an ninh khu vực
Giá trị địa - chiến lược của Đông Nam Á gia tăng, kéo theo vai trò của tổ chức và từng nước thành viên ASEAN cũng tăng lên tại khu vực Về cơ bản, các nước lớn đều
thừa nhận và ủng hộ vai trò “trung tâm” của ASEAN,
Trang 29tranh thủ các cơ chế, diễn đàn của ASEAN để triển khai
chính sách của mình Tuy nhiên, do tác động từ triển
khai chiến lược nước lớn, ASEAN cũng đứng trước nguy
cơ bị chia rẽ, khó phối hợp, thống nhất chính sách trên
nhiều vấn đề chung, đặc biệt rõ trong tiến trình xử lý
vấn đề Biển Đông Mặt khác, giữa các quốc gia thành viên
ASEAN vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn, tranh chấp liên
quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ chưa được giải quyết
dứt điểm nên nội bộ ASEAN còn nhiều vấn đề Triển vọng
của ASEAN sẽ còn phụ thuộc nhiều hơn vào quan hệ giữa
các nước lớn (chủ yếu là Mỹ - Trung), cách thức triển khai
chiến lược của nước lớn và việc các nước ASEAN xử lý
mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ như thế nào Điều này cũng
phụ thuộc vào vai trò của các nước thành viên hàng đầu
trong ASEAN đối với tổ chức này
c) Việt Nam
Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Đất nước ta chưa
bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế
như ngày nay”1 Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt
được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát
triển mạnh mẽ, toàn diện”; “chính trị - xã hội ổn định;
quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan
hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.25
đạt nhiều thành tựu nổi bật”; “sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy”; “công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt”; “công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ”1 Việt Nam ứng phó thành công trước ba làn sóng đại dịch Covid-19, được Tổ chức Y tế thế giới, Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, coi là hình mẫu, đã góp phần củng cố lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước2 Hiện nay, mặc dù tình hình đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp với biến thể mới Delta, song Đảng và Chính phủ đã có sự
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.67, 70, 73, 76, 103
2 Tỷ lệ người dân tín nhiệm với cách ứng phó của Chính phủ Việt Nam ở mức cao nhất trên thế giới (62%) Cùng với đó, tỷ lệ người dân Việt Nam đánh giá Chính phủ “làm quá ít” chỉ chiếm 13%, thấp nhất thế giới Chỉ số tín nhiệm này rất cao, trong bối cảnh gần một nửa (43%) dân số thế giới “không hài lòng” với cách ứng phó của chính phủ nước mình (Cuộc khảo sát
do Dalia Research (Đức) tiến hành lấy ý kiến của 32.631 người dân tại 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ ngày 23 đến ngày 27/3/2020 Theo https://daliareserch.com/blog/dailia-assesses- how-the-world-ranhk-their-goverments-response-to-covid-19/)
Trang 30tranh thủ các cơ chế, diễn đàn của ASEAN để triển khai
chính sách của mình Tuy nhiên, do tác động từ triển
khai chiến lược nước lớn, ASEAN cũng đứng trước nguy
cơ bị chia rẽ, khó phối hợp, thống nhất chính sách trên
nhiều vấn đề chung, đặc biệt rõ trong tiến trình xử lý
vấn đề Biển Đông Mặt khác, giữa các quốc gia thành viên
ASEAN vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn, tranh chấp liên
quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ chưa được giải quyết
dứt điểm nên nội bộ ASEAN còn nhiều vấn đề Triển vọng
của ASEAN sẽ còn phụ thuộc nhiều hơn vào quan hệ giữa
các nước lớn (chủ yếu là Mỹ - Trung), cách thức triển khai
chiến lược của nước lớn và việc các nước ASEAN xử lý
mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ như thế nào Điều này cũng
phụ thuộc vào vai trò của các nước thành viên hàng đầu
trong ASEAN đối với tổ chức này
c) Việt Nam
Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Đất nước ta chưa
bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế
như ngày nay”1 Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt
được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát
triển mạnh mẽ, toàn diện”; “chính trị - xã hội ổn định;
quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan
hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.25
đạt nhiều thành tựu nổi bật”; “sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy”; “công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt”; “công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ”1 Việt Nam ứng phó thành công trước ba làn sóng đại dịch Covid-19, được Tổ chức Y tế thế giới, Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, coi là hình mẫu, đã góp phần củng cố lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước2 Hiện nay, mặc dù tình hình đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp với biến thể mới Delta, song Đảng và Chính phủ đã có sự
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.67, 70, 73, 76, 103
2 Tỷ lệ người dân tín nhiệm với cách ứng phó của Chính phủ Việt Nam ở mức cao nhất trên thế giới (62%) Cùng với đó, tỷ lệ người dân Việt Nam đánh giá Chính phủ “làm quá ít” chỉ chiếm 13%, thấp nhất thế giới Chỉ số tín nhiệm này rất cao, trong bối cảnh gần một nửa (43%) dân số thế giới “không hài lòng” với cách ứng phó của chính phủ nước mình (Cuộc khảo sát
do Dalia Research (Đức) tiến hành lấy ý kiến của 32.631 người dân tại 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ ngày 23 đến ngày 27/3/2020 Theo https://daliareserch.com/blog/dailia-assesses- how-the-world-ranhk-their-goverments-response-to-covid-19/)
Trang 31lãnh đạo sáng suốt, sự điều hành quyết liệt, hiệu quả,
kịp thời, thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ và
khả năng quản lý tốt xã hội trong khủng hoảng
Thành tựu xây dựng đất nước sau 35 năm đổi mới là
hết sức to lớn, được đánh giá đậm nét trong Văn kiện
Đại hội XIII của Đảng Tuy nhiên, còn nhiều yếu tố
tiềm ẩn đối với an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
của đất nước trong thời gian tới, có thể khái quát trên
bốn vấn đề sau: (1) Tình trạng kinh tế quốc gia; (2) Sức
mạnh của hệ thống chính trị; (3) Vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế và (4) Tình hình Biển Đông
Về tình trạng kinh tế quốc gia, Việt Nam đã thực
hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung
bình, có nền kinh tế năng động; kinh tế vĩ mô ổn định,
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện1 “Việt Nam là
_
1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn
2016 - 2020 đạt khá cao, ở mức bình quân 6,8%/năm Mặc dù chịu
ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lụt
nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân
5 năm 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm và thuộc nhóm các nước
tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới Quy mô GDP tiếp tục
được mở rộng, năm 2020 ước đạt 271,2 tỉ USD, tăng khoảng
1,4 lần so với năm 2015; GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt
2.779 USD, gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2020 (Đảng Cộng sản
Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd,
t.II, tr.8-9)
một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới; là điểm sáng trên toàn cầu trong việc thực hiện thành công “mục tiêu kép”, vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh
xã hội và đời sống nhân dân”1 Tuy nhiên, như Chính phủ đánh giá, phát triển kinh tế quốc gia chưa thực sự bền vững2 Bên cạnh đó,
từ đầu năm 2020, kinh tế Việt Nam chịu tác động nặng
nề bởi đại dịch Covid-19, suy thoái kinh tế theo xu hướng chung toàn cầu và tác động này có thể còn kéo dài trong vài năm tới
Về ngoại thương, mặc dù Việt Nam đã rất chủ động,
nỗ lực để tạo ra sự cân bằng hơn, song thực tế Việt Nam
_
1 Xem Chuyên đề “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm 2021 - 2030 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025” do Thủ tướng Phạm Minh Chính
trình bày tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 27/3/2021
2 Một số yếu tố kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; cơ cấu lại nền kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu; tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công chậm; khu vực nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là do thiên tai, dịch bệnh; tình trạng ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp; nguồn lực cho ứng phó với biến đổi
khí hậu, phòng, chống thiên tai còn hạn chế (Theo Báo cáo tình
hình kinh tế - xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc
trình bày tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV)
Trang 32lãnh đạo sáng suốt, sự điều hành quyết liệt, hiệu quả,
kịp thời, thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ và
khả năng quản lý tốt xã hội trong khủng hoảng
Thành tựu xây dựng đất nước sau 35 năm đổi mới là
hết sức to lớn, được đánh giá đậm nét trong Văn kiện
Đại hội XIII của Đảng Tuy nhiên, còn nhiều yếu tố
tiềm ẩn đối với an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
của đất nước trong thời gian tới, có thể khái quát trên
bốn vấn đề sau: (1) Tình trạng kinh tế quốc gia; (2) Sức
mạnh của hệ thống chính trị; (3) Vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế và (4) Tình hình Biển Đông
Về tình trạng kinh tế quốc gia, Việt Nam đã thực
hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung
bình, có nền kinh tế năng động; kinh tế vĩ mô ổn định,
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện1 “Việt Nam là
_
1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn
2016 - 2020 đạt khá cao, ở mức bình quân 6,8%/năm Mặc dù chịu
ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lụt
nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân
5 năm 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm và thuộc nhóm các nước
tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới Quy mô GDP tiếp tục
được mở rộng, năm 2020 ước đạt 271,2 tỉ USD, tăng khoảng
1,4 lần so với năm 2015; GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt
2.779 USD, gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2020 (Đảng Cộng sản
Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd,
t.II, tr.8-9)
một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới; là điểm sáng trên toàn cầu trong việc thực hiện thành công “mục tiêu kép”, vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh
xã hội và đời sống nhân dân”1 Tuy nhiên, như Chính phủ đánh giá, phát triển kinh tế quốc gia chưa thực sự bền vững2 Bên cạnh đó,
từ đầu năm 2020, kinh tế Việt Nam chịu tác động nặng
nề bởi đại dịch Covid-19, suy thoái kinh tế theo xu hướng chung toàn cầu và tác động này có thể còn kéo dài trong vài năm tới
Về ngoại thương, mặc dù Việt Nam đã rất chủ động,
nỗ lực để tạo ra sự cân bằng hơn, song thực tế Việt Nam
_
1 Xem Chuyên đề “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm 2021 - 2030 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025” do Thủ tướng Phạm Minh Chính
trình bày tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 27/3/2021
2 Một số yếu tố kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; cơ cấu lại nền kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu; tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công chậm; khu vực nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là do thiên tai, dịch bệnh; tình trạng ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp; nguồn lực cho ứng phó với biến đổi
khí hậu, phòng, chống thiên tai còn hạn chế (Theo Báo cáo tình
hình kinh tế - xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc
trình bày tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV)
Trang 33phụ thuộc lớn vào hai thị trường Mỹ và Trung Quốc,
khiến cho nền kinh tế khó có thể chủ động trước biến
động bất thường của các quan hệ song phương, đa
phương Hiệp định EVFTA phát huy tác dụng sẽ phần
nào giúp giảm nhẹ vấn đề trên, tuy nhiên tác động tiêu
cực của đại dịch Covid-19 có thể làm giảm nhiều tác
dụng của các quan hệ tích cực về kinh tế của Việt Nam
với Mỹ và châu Âu trong thời gian không ngắn
Về sức mạnh của hệ thống chính trị không ngừng
được tăng cường Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, chính trị - xã hội ổn định,
an sinh xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện; dân
chủ, quyền con người, tự do tín ngưỡng, tôn giáo được
tôn trọng và bảo đảm; khối đại đoàn kết các dân tộc
được củng cố “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, đạt nhiều
kết quả tích cực Công tác đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ,
có bước đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả,
ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây”
và “chống””1 Tuy nhiên, “Một số tổ chức cơ sở đảng, một
bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.77
gương mẫu Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt
lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa””1 ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của một bộ phận trong xã hội2
Hoạt động của người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam diễn biến rất phức tạp và ngày càng gia tăng; các vấn đề an ninh phi truyền thống như an ninh mạng,
an ninh kinh tế, an ninh môi trường cũng diễn ra phức tạp, việc đấu tranh ngăn chặn ngày càng khó khăn hơn Hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn các loại tội phạm trên
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.92
2 “Cuộc đấu tranh do Đảng phát động, dẫn dắt chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu,
xa dân đang được toàn xã hội hưởng ứng, đạt nhiều bước tiến lớn, tuy nhiên việc giải quyết căn cơ các vấn đề này cần có thời gian Trong khi đó, các thế lực thù địch tìm mọi cách phá hoại
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta, đánh thẳng vào hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm” (Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 03/02/2020)
Trang 34phụ thuộc lớn vào hai thị trường Mỹ và Trung Quốc,
khiến cho nền kinh tế khó có thể chủ động trước biến
động bất thường của các quan hệ song phương, đa
phương Hiệp định EVFTA phát huy tác dụng sẽ phần
nào giúp giảm nhẹ vấn đề trên, tuy nhiên tác động tiêu
cực của đại dịch Covid-19 có thể làm giảm nhiều tác
dụng của các quan hệ tích cực về kinh tế của Việt Nam
với Mỹ và châu Âu trong thời gian không ngắn
Về sức mạnh của hệ thống chính trị không ngừng
được tăng cường Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, chính trị - xã hội ổn định,
an sinh xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện; dân
chủ, quyền con người, tự do tín ngưỡng, tôn giáo được
tôn trọng và bảo đảm; khối đại đoàn kết các dân tộc
được củng cố “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, đạt nhiều
kết quả tích cực Công tác đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ,
có bước đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả,
ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây”
và “chống””1 Tuy nhiên, “Một số tổ chức cơ sở đảng, một
bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.77
gương mẫu Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt
lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa””1 ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của một bộ phận trong xã hội2
Hoạt động của người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam diễn biến rất phức tạp và ngày càng gia tăng; các vấn đề an ninh phi truyền thống như an ninh mạng,
an ninh kinh tế, an ninh môi trường cũng diễn ra phức tạp, việc đấu tranh ngăn chặn ngày càng khó khăn hơn Hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn các loại tội phạm trên
_
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.92
2 “Cuộc đấu tranh do Đảng phát động, dẫn dắt chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu,
xa dân đang được toàn xã hội hưởng ứng, đạt nhiều bước tiến lớn, tuy nhiên việc giải quyết căn cơ các vấn đề này cần có thời gian Trong khi đó, các thế lực thù địch tìm mọi cách phá hoại
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta, đánh thẳng vào hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm” (Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 03/02/2020)
Trang 35thâm nhập, với tình trạng bảo kê, dung túng của một bộ
phận trong bộ máy công quyền đều tác động đến uy
tín của cả hệ thống chính trị quốc gia
Về vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được
nâng cao; giá trị địa - chiến lược của Việt Nam gia tăng
tại khu vực, tuy nhiên Việt Nam cũng gặp khó khăn
hơn trong xử lý các vấn đề an ninh khu vực thiết thân
Đại hội XIII của Đảng đánh giá trong 35 năm qua
đất nước ta chưa bao giờ có được vị thế và uy tín quốc tế
như ngày nay Đây là kết quả của một chính sách ngoại
giao nhất quán và kiên trì, đa phương hóa, đa dạng hóa
các quan hệ quốc tế; Việt Nam làm bạn với tất cả các
nước, là thành viên có trách nhiệm đối với các vấn đề
quốc tế Chỉ trong hơn 10 năm qua, ngoài việc hai lần
làm Chủ tịch luân phiên của ASEAN, Việt Nam đã hai
lần được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc với kết quả tín nhiệm lần
sau cao hơn lần trước Điều này diễn ra trong bối cảnh
sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược vào Đông Nam
Á/ASEAN trong bức tranh toàn cầu
Việt Nam có một giá trị địa - chiến lược đặc thù mà
không nước ASEAN nào có được Về địa - chính trị,
Việt Nam có mối quan hệ gần gũi nhất về tư tưởng
với Trung Quốc, đồng thời lại là quốc gia có lịch sử đối
phó thành công nhất đối với chính sách nước lớn của
quốc gia này Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có quan hệ đặc biệt với 3 nước, quan
hệ đối tác chiến lược, toàn diện với 30 nước (trong đó có
3 nước là đối tác chiến lược toàn diện, 14 nước là đối tác chiến lược và 13 nước là đối tác toàn diện); là nước duy nhất trong ASEAN có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với cả 5 nước thành viên Thường trực (P5) của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; là thành viên đầy
đủ, tích cực của trên 70 tổ chức quốc tế; có quan hệ với
hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới Về địa -
kinh tế, Việt Nam nằm ở giao điểm của các triển khai
chiến lược lớn, là địa bàn xuất phát của “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI” trong BRI1, đồng thời là điểm nối quan trọng nhất trong Hành lang kinh tế Đông - Tây mà Nhật Bản và các nước trong “Bộ Tứ”2 đang tích cực triển khai trong tổng thể IPS Hơn nữa, Việt Nam
là nước duy nhất trong AM-5 có bờ biển dài, trực tiếp với toàn Biển Đông với những giá trị kinh tế lớn Thêm vào đó là sức mạnh tự thân của một nền kinh tế thị trường năng động với gần 100 triệu người tiêu dùng
_
1 BRI có 2 nhánh, gồm: Vành đai kinh tế con đường tơ lụa (SREB) và Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI (MSR)
2 Bộ Tứ gồm: Mỹ, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Ấn Độ
Trang 36thâm nhập, với tình trạng bảo kê, dung túng của một bộ
phận trong bộ máy công quyền đều tác động đến uy
tín của cả hệ thống chính trị quốc gia
Về vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được
nâng cao; giá trị địa - chiến lược của Việt Nam gia tăng
tại khu vực, tuy nhiên Việt Nam cũng gặp khó khăn
hơn trong xử lý các vấn đề an ninh khu vực thiết thân
Đại hội XIII của Đảng đánh giá trong 35 năm qua
đất nước ta chưa bao giờ có được vị thế và uy tín quốc tế
như ngày nay Đây là kết quả của một chính sách ngoại
giao nhất quán và kiên trì, đa phương hóa, đa dạng hóa
các quan hệ quốc tế; Việt Nam làm bạn với tất cả các
nước, là thành viên có trách nhiệm đối với các vấn đề
quốc tế Chỉ trong hơn 10 năm qua, ngoài việc hai lần
làm Chủ tịch luân phiên của ASEAN, Việt Nam đã hai
lần được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc với kết quả tín nhiệm lần
sau cao hơn lần trước Điều này diễn ra trong bối cảnh
sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược vào Đông Nam
Á/ASEAN trong bức tranh toàn cầu
Việt Nam có một giá trị địa - chiến lược đặc thù mà
không nước ASEAN nào có được Về địa - chính trị,
Việt Nam có mối quan hệ gần gũi nhất về tư tưởng
với Trung Quốc, đồng thời lại là quốc gia có lịch sử đối
phó thành công nhất đối với chính sách nước lớn của
quốc gia này Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có quan hệ đặc biệt với 3 nước, quan
hệ đối tác chiến lược, toàn diện với 30 nước (trong đó có
3 nước là đối tác chiến lược toàn diện, 14 nước là đối tác chiến lược và 13 nước là đối tác toàn diện); là nước duy nhất trong ASEAN có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với cả 5 nước thành viên Thường trực (P5) của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; là thành viên đầy
đủ, tích cực của trên 70 tổ chức quốc tế; có quan hệ với
hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới Về địa -
kinh tế, Việt Nam nằm ở giao điểm của các triển khai
chiến lược lớn, là địa bàn xuất phát của “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI” trong BRI1, đồng thời là điểm nối quan trọng nhất trong Hành lang kinh tế Đông - Tây mà Nhật Bản và các nước trong “Bộ Tứ”2 đang tích cực triển khai trong tổng thể IPS Hơn nữa, Việt Nam
là nước duy nhất trong AM-5 có bờ biển dài, trực tiếp với toàn Biển Đông với những giá trị kinh tế lớn Thêm vào đó là sức mạnh tự thân của một nền kinh tế thị trường năng động với gần 100 triệu người tiêu dùng
_
1 BRI có 2 nhánh, gồm: Vành đai kinh tế con đường tơ lụa (SREB) và Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI (MSR)
2 Bộ Tứ gồm: Mỹ, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Ấn Độ
Trang 37Về địa - an ninh, riêng vị trí địa lý tiếp giáp Trung
Quốc, Lào, Campuchia ở phía Bắc và phía Tây, án ngữ
tuyến đường biển dài ở phía Đông và phía Nam với
những cảng nước sâu hàng đầu khu vực; là nước nối
liền hai nửa của Đông Nam Á đã đem lại cho Việt Nam
một giá trị “có một không hai” trong chiến lược của các
nước lớn Cạnh tranh chiến lược nước lớn gay gắt hơn
cũng làm tăng giá trị này Đây là tiềm năng tự nhiên
rất quý giá của Việt Nam và cần triệt để khai thác, biến
thành sức mạnh vật chất nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia -
dân tộc trong tình hình mới Tuy nhiên, cạnh tranh
chiến lược nước lớn gia tăng cũng đặt ra cho Việt Nam
những khó khăn, thách thức cần giải quyết
Biển Đông luôn là vấn đề đặc biệt nhạy cảm, tiềm
ẩn nguy cơ bùng phát gây mất ổn định xã hội, thậm
chí gây mất an ninh cục bộ Tình hình Biển Đông thời
gian gần đây, mặc dù đã có một số chuyển biến tích
cực, nhưng các yếu tố gây mất ổn định, căng thẳng vẫn
tồn tại và diễn biến phức tạp đang đặt ra những thách
thức mới đối với việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, bảo
vệ hòa bình, ổn định của Việt Nam Những diễn biến
mới trên Biển Đông, trong đó có các hành động đơn
phương, áp đặt dựa trên sức mạnh, bất chấp luật pháp
quốc tế và các hoạt động quân sự hóa, làm thay đổi
nguyên trạng, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán của Việt Nam theo luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến lợi ích của các quốc gia liên quan, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trong khu vực Bên cạnh đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, làm cho Biển Đông có thời điểm trở thành “điểm nóng”, thậm chí có nguy cơ dẫn đến xung đột
Căng thẳng quân sự leo thang ở Biển Đông
Có nhiều yếu tố gây khó khăn cho Việt Nam trong chủ động kiểm soát tình hình ở Biển Đông: (1) Tiến trình giải quyết tranh chấp Biển Đông không phụ thuộc
Trang 38Về địa - an ninh, riêng vị trí địa lý tiếp giáp Trung
Quốc, Lào, Campuchia ở phía Bắc và phía Tây, án ngữ
tuyến đường biển dài ở phía Đông và phía Nam với
những cảng nước sâu hàng đầu khu vực; là nước nối
liền hai nửa của Đông Nam Á đã đem lại cho Việt Nam
một giá trị “có một không hai” trong chiến lược của các
nước lớn Cạnh tranh chiến lược nước lớn gay gắt hơn
cũng làm tăng giá trị này Đây là tiềm năng tự nhiên
rất quý giá của Việt Nam và cần triệt để khai thác, biến
thành sức mạnh vật chất nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia -
dân tộc trong tình hình mới Tuy nhiên, cạnh tranh
chiến lược nước lớn gia tăng cũng đặt ra cho Việt Nam
những khó khăn, thách thức cần giải quyết
Biển Đông luôn là vấn đề đặc biệt nhạy cảm, tiềm
ẩn nguy cơ bùng phát gây mất ổn định xã hội, thậm
chí gây mất an ninh cục bộ Tình hình Biển Đông thời
gian gần đây, mặc dù đã có một số chuyển biến tích
cực, nhưng các yếu tố gây mất ổn định, căng thẳng vẫn
tồn tại và diễn biến phức tạp đang đặt ra những thách
thức mới đối với việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, bảo
vệ hòa bình, ổn định của Việt Nam Những diễn biến
mới trên Biển Đông, trong đó có các hành động đơn
phương, áp đặt dựa trên sức mạnh, bất chấp luật pháp
quốc tế và các hoạt động quân sự hóa, làm thay đổi
nguyên trạng, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán của Việt Nam theo luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến lợi ích của các quốc gia liên quan, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trong khu vực Bên cạnh đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, làm cho Biển Đông có thời điểm trở thành “điểm nóng”, thậm chí có nguy cơ dẫn đến xung đột
Căng thẳng quân sự leo thang ở Biển Đông
Có nhiều yếu tố gây khó khăn cho Việt Nam trong chủ động kiểm soát tình hình ở Biển Đông: (1) Tiến trình giải quyết tranh chấp Biển Đông không phụ thuộc
Trang 39nhiều vào bản thân nỗ lực của Việt Nam mà nằm trong
sự nhất quán chiến lược của Trung Quốc và phản ứng
của các nước có lợi ích trực tiếp, nhất là Mỹ (2) Nhận
thức trong nhân dân về vấn đề chủ quyền hợp pháp tại
Biển Đông và quan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ còn chưa
đầy đủ, dẫn đến những hành động cảm tính, gây trở
ngại cho việc triển khai chính sách đúng đắn của Đảng,
Nhà nước về đối ngoại, an ninh, quốc phòng (3) Các lực
lượng thù địch, phản động bên trong và bên ngoài lợi
dụng kích động một bộ phận nhân dân ở trong và ngoài
nước chống lại chính sách của Đảng, Nhà nước Việt
Nam, phá hoại quan hệ Việt - Trung, gây mất ổn định
chính trị trong nước và ảnh hưởng xấu đến quan hệ đối
ngoại của quốc gia
Sự khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc trong
vấn đề chủ quyền trên Biển Đông cần được xử lý hết sức
tỉnh táo, cẩn trọng, trên tinh thần hữu nghị và hợp tác
phát triển của hai nước
Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là một quá
trình lâu dài, khó khăn, phức tạp vì liên quan đồng thời
đến nhiều nước, nhiều bên và nhiều lĩnh vực Trong khi
chờ đạt được một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề
Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc cần nỗ lực giữ ổn
định tình hình ở Biển Đông; tuân thủ luật pháp quốc tế,
trong đó có UNCLOS 1982 mà cả hai nước đều là thành
viên ký kết; thực hiện DOC, tiến tới xây dựng COC
giữa ASEAN và Trung Quốc; tuân thủ thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước
Trong ba vấn đề trên, Biển Đông là vấn đề nhạy cảm nhất, có khả năng gây tác động nhanh chóng, lan rộng nhất theo cả hai chiều tiêu cực lẫn tích cực Giới nghiên cứu chiến lược quốc tế cho rằng, cho đến nay Việt Nam là quốc gia xử lý hiệu quả nhất vấn đề Biển Đông, không để lãnh thổ bị xâm lấn thêm, cơ bản duy trì được quan hệ tốt với Trung Quốc và tranh thủ được
sự ủng hộ của quốc tế, đồng thời cơ bản kiểm soát được phản ứng cảm tính ở trong nước Tuy nhiên, tình hình
sẽ còn diễn biến rất phức tạp, khó lường trong thời gian tới, tùy thuộc chủ yếu vào tiến độ, quy mô Trung Quốc
áp đặt chính sách tại vùng biển này
Quét mã để đọc nhận định này trong
bài viết “Vị thế chiến lược của Đông
Nam Á và Việt Nam trong cấu trúc an ninh tại châu Á - Thái Bình Dương”
của Thiếu tướng, TS Đỗ Lê Chi.
“Trong bối cảnh mới, Đông Nam Á trở thành địa bàn tranh chấp chiến lược hàng đầu của các nước lớn Là quốc gia có diện tích, dân số lớn ở Đông Nam Á, với truyền thống lịch
sử, văn hóa lâu đời, Việt Nam là tâm điểm chú ý trong chính sách của các nước lớn”.
Trang 40nhiều vào bản thân nỗ lực của Việt Nam mà nằm trong
sự nhất quán chiến lược của Trung Quốc và phản ứng
của các nước có lợi ích trực tiếp, nhất là Mỹ (2) Nhận
thức trong nhân dân về vấn đề chủ quyền hợp pháp tại
Biển Đông và quan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ còn chưa
đầy đủ, dẫn đến những hành động cảm tính, gây trở
ngại cho việc triển khai chính sách đúng đắn của Đảng,
Nhà nước về đối ngoại, an ninh, quốc phòng (3) Các lực
lượng thù địch, phản động bên trong và bên ngoài lợi
dụng kích động một bộ phận nhân dân ở trong và ngoài
nước chống lại chính sách của Đảng, Nhà nước Việt
Nam, phá hoại quan hệ Việt - Trung, gây mất ổn định
chính trị trong nước và ảnh hưởng xấu đến quan hệ đối
ngoại của quốc gia
Sự khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc trong
vấn đề chủ quyền trên Biển Đông cần được xử lý hết sức
tỉnh táo, cẩn trọng, trên tinh thần hữu nghị và hợp tác
phát triển của hai nước
Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là một quá
trình lâu dài, khó khăn, phức tạp vì liên quan đồng thời
đến nhiều nước, nhiều bên và nhiều lĩnh vực Trong khi
chờ đạt được một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề
Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc cần nỗ lực giữ ổn
định tình hình ở Biển Đông; tuân thủ luật pháp quốc tế,
trong đó có UNCLOS 1982 mà cả hai nước đều là thành
viên ký kết; thực hiện DOC, tiến tới xây dựng COC
giữa ASEAN và Trung Quốc; tuân thủ thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước
Trong ba vấn đề trên, Biển Đông là vấn đề nhạy cảm nhất, có khả năng gây tác động nhanh chóng, lan rộng nhất theo cả hai chiều tiêu cực lẫn tích cực Giới nghiên cứu chiến lược quốc tế cho rằng, cho đến nay Việt Nam là quốc gia xử lý hiệu quả nhất vấn đề Biển Đông, không để lãnh thổ bị xâm lấn thêm, cơ bản duy trì được quan hệ tốt với Trung Quốc và tranh thủ được
sự ủng hộ của quốc tế, đồng thời cơ bản kiểm soát được phản ứng cảm tính ở trong nước Tuy nhiên, tình hình
sẽ còn diễn biến rất phức tạp, khó lường trong thời gian tới, tùy thuộc chủ yếu vào tiến độ, quy mô Trung Quốc
áp đặt chính sách tại vùng biển này
Quét mã để đọc nhận định này trong
bài viết “Vị thế chiến lược của Đông
Nam Á và Việt Nam trong cấu trúc an ninh tại châu Á - Thái Bình Dương”
của Thiếu tướng, TS Đỗ Lê Chi.
“Trong bối cảnh mới, Đông Nam Á trở thành địa bàn tranh chấp chiến lược hàng đầu của các nước lớn Là quốc gia có diện tích, dân số lớn ở Đông Nam Á, với truyền thống lịch
sử, văn hóa lâu đời, Việt Nam là tâm điểm chú ý trong chính sách của các nước lớn”.