MỞ ĐẦU Đại hội VII của Đảng (tháng 6 1991) khẳng định Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, đồng thời nêu rõ “Tư tưởng Hồ Chí Minh chín[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hànhđộng, đồng thời nêu rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụngsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta”.Dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, Đại hội IX củaĐảng (tháng 4 năm 2001) xác định tư tưởng Hồ Chí Minh gồm: Tư tưởng vềgiải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dântộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thờiđại; về sức mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền làmchủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốcphòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế vàvăn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; vềđạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồidưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.Trong giai đoạn hiện nay, để “tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quânnhận thức ngày càng sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tưtưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; làm cho tư tưởng, đạo đức, phongcách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xãhội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bềnvững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”, cần tập trung nghiên cứu, quán triệt nội dung cơ bản của
Mác-tư Mác-tưởng Hồ Chí Minh trong 6 nhóm vấn đề: về con đường của cách mạng ViệtNam; về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về nhân dân; đại đoàn kết toàndân tộc, về xây dựng văn hóa và con người, về phát huy dân chủ, xây dựng Nhànước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; về xây dựng Đảng
Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố con người theo quan điểm củaChủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức luôn đượcĐảng, Nhà nước quan tâm trên hết và được một trong những vấn đề có ý nghĩaquyết định đối với việc thành bại của sự nghiệp cách mạng Hiện nay, việc xâydựng đội ngũ công chức nhà nước ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh bêncạnh những ưu điểm, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm Chính vì vậy,việc trở lại nghiên cứu các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực của conngười trong cách mạng Việt Nam và việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chứcxứng tầm nhiệm vụ trong tình hình mới ở đất nước ta hiện nay là những vấn đềcấp bách, có ý nghĩa hết sức quan trọng Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn
trên, nhóm 7 lựa chọn đề tài: " Phân tích vai trò động lực của con người trong cách mạng Việt Nam theo tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh? Vấn đề xây
1
Trang 2dựng đội ngũ cán bộ, công chức xứng tầm nhiệm vụ trong tình hình mới ở đất nước ta hiện nay” là chủ đề bài tập nhóm.
NỘI DUNG
I Vai trò động lực của con người trong Cách mạng Việt Nam theo tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
1 Khái quát về vấn đề động lực của con người.
Dù ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế - xã hội nào thì con người cũngluôn giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch
sử xã hội Xuất phát từ quan điểm Mác-xít về con người cho thấy, khi con người
là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người nói chung biểu hiện ra trên nhiềuphương diện Chẳng hạn, con người tồn tại với tư cách là một nguồn lực đặc biệthay nguồn lực con người, tồn tại với tư cách là một nhân tố thúc đẩy đời sốngkinh tế - xã hội gọi là nhân tố con người1, hoặc con người còn tồn tại với tư cách
là một yếu tố tác động lớn đến Cách mạng gọi là động lực của con người… Bởivậy, khái niệm vấn đề động lực của con người là sự tiếp tục triển khai quan điểmcủa triết học Mác - Lênin về con người
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã được Hồ Chí Minh kế thừa từ truyềnthống lịch sử của cha ông ta Khi nhìn nhận về vai trò, sức mạnh của nhân dân,các bậc tiền nhân đã dạy: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó làthượng sách giữ nước” (Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn); tư tưởng thândân của Nguyễn Trãi: “Chúng chí thành thành” (Ý chí của nhân dân là thành lũyvững chắc); sức dân như nước, chở thuyền hay lật thuyền cũng do dân: "Lậtthuyền mới rõ dân như nước Cậy hiểm khôn xoay, mệnh ở trời" Kế thừa tưtưởng “trọng dân”, “thân dân” theo truyền thống của dân tộc, đồng thời Hồ ChíMinh tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng”, cho nên Người đặc biệt đánh giá cao vai trò, sức mạnh của nhândân trong sự nghiệp cách mạng2
Như vậy, kế thừa tư tưởng coi dân là gốc cùng quan điểm của chủ nghĩaMác – Lênin, đồng thời kết hợp với những tri thức trong 30 năm đi tìm chân lýcho cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã luôn khẳng định vai trò to lớn củacon người là động lực của Cách Mạng Việt Nam Đồng thời, thông qua tư tưởngnhân văn Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho chúng ta những bài học vô cùng
1 nguoi-trong.aspx
http://www.xaydungdang.org.vn/home/dien-dan/2018/12380/quan-diem-cua-dang-ve-phat-huy-nhan-to-con-2 cua-chu-tich-ho-chi-minh-(10-1949 -10-2019) hoc-va-lam-theo-phuong-phap-dan-van-ho-chi-minh.aspx
https://mt.gov.vn/Dang/tin-tuc/1122/63057/ky-niem-70-nam-tac-pham-%E2%80%9Cdan-van%E2%80%9D-2
Trang 3thấm thía về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội và sự nghiệp cáchmạng
2 Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về vai trò động lực của con người trong Cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò nhân tố con người, Người coicon người là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh phân chia nhân tố con người trong cáchmạng Việt Nam với ba cấp độ: nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, tríthức, bộ đội, cán bộ; và mỗi con người cụ thể (trừ bọn Việt gian, phản động).Người sử dụng “sức dân”, “sức người”, “quyền hành đều ở nơi dân” nhằmkhẳng định nhân dân luôn ở vị trí cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đềquan trọng nhất của cách mạng và xã hội Dân vừa là chủ, vừa là người thựchiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, là động lực, là mụctiêu của Cách mạng Việt Nam3 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh về vaitrò quan trọng của nhân dân như sau: “Trong bầu trời không có gì quý bằngnhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”4.Con người một khi được giác ngộ, được tổ chức, được lãnh đạo đi theo conđường đúng đắn thì sẽ làm được tất cả, sẽ đi đến thành công chung và tạo ranhững kết quả tốt đẹp Hồ Chí Minh luôn luôn giữ tư tưởng kính trọng, coi trọngnhân dân vì Hồ Chí Minh luôn tâm niệm rằng “Người là gốc của làng nước”5
Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh được biểu hiện trên thực tế bằng những hànhđộng và cách sống, cách đối xử của Người với mọi tầng lớp nhân dân, điều nàythể hiện qua nếp sống thanh bạch, cách ứng xử có văn hóa, sự chân thành lắngnghe ý kiến của nhân dân, sự trân trọng từng thành tích chiến đấu, lao động,công tác của các tầng lớp nhân dân, bất kể đó là những người tốt, việc tốt haynhững điều bình thường, giản dị nhất trong đời sống nhân dân Hồ Chí Minhluôn hết lòng động viên nhân dân, khuyến khích nhân dân tham gia công cuộccách mạng, cải thiện đời sống và hăng say chiến đấu trên mọi mặt trận ở ViệtNam, Người thực sự coi trọng nhân dân, coi nhân dân là vĩ đại Từ tư tưởng kínhtrọng nhân dân, Hồ Chí Minh không xa rời, không giữ khoảnh cách với nhândân, không dành đặc quyền, đặc lợi gì cho riêng mình, Người luôn gần gũi vàthân thiết với nhân dân như Người cha già dân tộc đối với những người con,người anh em ruột thịt của mình trên đất mẹ Việt Nam Đồng thời, Hồ Chí Minhluôn nhìn nhận mặt tiến bộ, tích cực của con người, tin vào bản chất thiện lươngcủa con người và Người cũng tin tưởng vào cả những con người lầm đường lạc
3 524/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-v8-eecf9a273a23571e.aspx
https://ubmttq.backan.gov.vn/Pages/tin-tuc-su-kien-387/cac-cuoc-van-dong-522/hoc-tap-va-lam-theo-tgdd-hcm-4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr.275.
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr.99.
3
Trang 4lối, Người tin rằng họ có thể quay đầu, sửa chữa sai lầm và hối cải Chủ tịch HồChí Minh vĩ đại luôn trân trọng mỗi phần lương thiện dù là nhỏ nhất trong bảnchất của mỗi con người, luôn dùng tình yêu bao la và sự bao dung cao cả củamình để đối đãi với con người Người nhìn nhận con người trong tính đa dạng,khác biệt và đặc biệt, Người coi con người như năm ngón tay dài ngắn khácnhau, mang trong mình những tính cách và đặc điểm không tương đồng Nhưmấy mươi triệu con người Việt Nam có người thế này, có người thế kia nhưngchúng ta đều có một điểm chung đều là con rồng cháu tiên, con dân đất Việt, dù
ít dù nhiều trong tim mỗi người đều sâu sắc lòng yêu nước6
Hồ Chí Minh khẳng định, con người là động lực to lớn quyết định mọithắng lợi của Cách mạng Việt Nam Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dântộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đềuphải bắt đầu từ con người, từ việc phát huy nhân tố con người: “Có lực lượngdân chúng việc to tát đến mấy cũng làm được Không có, việc gì làm cũngkhông xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mauchóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi khôngra”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong” HồChí Minh đồng thời cũng khẳng định động lực lớn nhất của Cách mạng ViệtNam chính là đại đoàn kết dân tộc, do đó: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công” Người căn dặn thanh niên rằng:
“Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí
ắt làm nên”7
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ hướng tới giải phóng dân tộc,giải phóng xã hội, giải phóng con người, thể hiện lòng yêu thương con ngườisâu sắc, mà tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh còn luôn khẳng định vai trò độnglực của con người trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Theo Người, sựnghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa có đi đến thắng lợi cuối cùng hay không đềuphụ thuộc rất nhiều vào sự đóng góp của từng người, của cả cộng đồng, của toànthể nhân dân lao động bởi cách mạng là sự nghiệp của họ Con người là độnglực cách mạng trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là những con người đượcđặt trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, trong quan hệ nghĩa vụ của họ đối với Tổquốc, đối với nhân dân cả nước, đối với giai cấp của mình và đối với chính bảnthân họ Hồ Chí Minh cho rằng, sống trên đời và làm người, suy cho cùng phảiyêu nước thương dân, thương đồng loại bị áp bức đau khổ Từ nhận thức về tìnhyêu thương đó đối với đồng loại của mình, con người phải thực hiện nghĩa vụcủa bản thân, phải tham gia sự nghiệp cách mạng dân tộc chủ nghĩa nhân dân,
6 TS Ngọ Văn Nhân, Tài liệu tham khảo Chuyên đề 06: Ý thức xã hội và triết học con người, tr.54.
7 TS Ngọ Văn Nhân, Tài liệu tham khảo Chuyên đề 06: Ý thức xã hội và triết học con người, tr.54.
4
Trang 5cách mạng chủ nghĩa xã hội, phải hướng đến thành công chung của toàn thểnhân dân, cống hiến vì sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc Hồ Chí Minh chẳng nhữngcoi nhân tố con người là điều kiện cần và đủ trong sự nghiệp cách mạng dân tộc,coi đây là nhân tố tất yếu góp phần biến đổi cách mạng xã hội phát triển tiến tớithành công, mà Người còn coi nhân tố con người với tư cách là chủ thể lịch sửtạo ra, phát triển, hoàn thiện, quy tụ các điều kiện đó lại nhằm mục đích thựchiện mục tiêu mà cách mạng đã đề ra: “Vô luận việc gì đều do người làm ra, và
từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả8”9
Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người viết rằng: “Muốn cách mệnh
thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc”10 Trong kháng chiến kiếnquốc, Hồ Chí Minh đã đặt vai trò của nhân dân lên một mức độ quan trọng hơn
“Nước lấy dân làm gốc”11 Hồ Chí Minh coi con người là động lực của cáchmạng Việt Nam, từ đó Người đã thành lập các hình thức mặt trận dân tộc thốngnhất, phù hợp với nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cụ thể để tập hợpđược lực lượng nhân dân và giúp phát huy tối đa nhân tố con người trong giaiđoạn đó Người nói: “Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kếtcủa nhân dân”12 Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Dân là gốc của nước”, làlực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông đảo, vì “mọi lựclượng đều ở nơi dân” Dân cũng là những người làm ra mọi của cải vật chất vàgiá trị văn hoá, nuôi sống bộ máy Nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho xã hộitồn tại và phát triển: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng,đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”13 Hồ Chí Minh luôn khẳng địnhcon người là vừa là sản phẩm của lịch sự, cũng đồng thời là mục tiêu, là độnglực phát triển của lịch sử Người chỉ rõ: “Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội cần phải có con người xã hội chủ nghĩa”14 Như vậy, chủ nghĩa xã hội chỉ
có thể thành công khi con người tự nguyện, tự giác thực hiện nghĩa vụ cáchmạng của mình, đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp cách mạng đấtnước Con người xã hội chủ nghĩa vừa là sản phẩm của chủ nghĩa xã hội tronggiai đoạn sự nghiệp đổi mới, mà còn là kết quả của hoạt động tập thể nhân dânchủ động, tích cực đóng góp, cống hiến cho xã hội
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội rất cụ thể, gần gũivới nhu cầu, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, do vậy con đường cách
8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr.241.
9 TS Ngọ Văn Nhân, Tài liệu tham khảo Chuyên đề 06: Ý thức xã hội và triết học con người, tr.54 và tr.55.
10 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr.10.
11 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr.409.
12 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr.276.
13 cua-chu-tich-ho-chi-minh-(10-1949 -10-2019) hoc-va-lam-theo-phuong-phap-dan-van-ho-chi-minh.aspx
https://mt.gov.vn/Dang/tin-tuc/1122/63057/ky-niem-70-nam-tac-pham-%E2%80%9Cdan-van%E2%80%9D-14 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr.276.
5
Trang 6mạng của Việt Nam là đưa đất nước tiến tới nhà nước xã hội chủ nghĩa, đâyđược coi là mục tiêu của toàn thể nhân dân ta Trên con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội đó, Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu và động lựccách mạng, giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu gần và mục tiêu xa, cụ thể hóatừng mục tiêu, phương hướng phát triển và nhiệm vụ sao cho phù hợp với từnggiai đoạn của cuộc cách mạng Người đã chủ trương đề ra những chính sáchthích hợp với từng bước tiến nhỏ để hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra Bên cạnh
đó, Hồ Chí Minh cũng luôn coi trọng và quan tâm đến việc song hành giữa lợiích vật chất và lợi ích tinh thần, Người không ngừng chỉ ra vai trò quan trọngcủa tinh thần, trách nhiệm trong con đường chính trị xây dựng Nhà nước xã hộichủ nghĩa, đồng thời Người luôn chú trọng tuyên truyền, giáo dục, khích lệ cáchành động tích cực của con người, và kịp thời phát hiện, lên tiếng răn dạy vềnhững biểu hiện suy đồi, thoái hóa của một bộ phận con người mang trong mìnhchủ nghĩa cá nhân, ích kỷ Như vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về vai tròđộng lực của con người trong Cách mạng Việt Nam là luôn khẳng định vị tríquan trọng của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và nhân tố không thể thiếu
đó là sự đoàn kết toàn dân
II Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xứng tầm nhiệm vụ trong tình hình mới ở nước ta hiện nay
1 Khái quát về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xứng tầm nhiệm vụ trong tình hình mới ở đất nước ta hiện nay
1.1 Vai trò của cán bộ, công chức trong việc xây dựng đất nước
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán
bộ, đảng viên sao cho thực sự là “công bộc” của Nhân dân Người đánh giá caovai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong sự nghiệp cách mạng và chỉ rõ:
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều
do cán bộ tốt hay kém”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ, coi cán bộ lànhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Người cho rằng một khi đã cóđường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định “công việc thành cônghay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”15, “Cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc”16 Cán bộ là những người đem đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủgiải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5, tr 313
16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr 309
6
Trang 7chúng báo cáo lại cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng.Thực tế là mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do cán bộnghiên cứu đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn Nhân dân thựchiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay không đềuphụ thuộc vào cán bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhândân mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ “Cán bộ là cái gốc của mọicông việc”17 chính là quan điểm về con người với tính cách vừa là chủ thể, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
1.2 Tiêu chuẩn của người cán bộ theo tư tưởng chủ tịch Hồ Chí Minh
Tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là đạo đức cách mạng Theo Người, đạođức cách mạng là quyết tâm suốt đời, đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, rasức làm việc cho Đảng, giữ vững kỉ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối,chính sách của Đảng thì phải đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lao động lên trên,lên trước lợi ích cá nhân mình Phải hết sức hết lòng phục vụ nhân dân, vì Đảng,
vì dân mà đấu tranh quên mình, luôn gương mẫu trong mọi công việc, ra sức họctập chủ nghĩa Mác - Lênin Người khẳng định làm cách mạng phải có đạo đứccách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.Người cán bộ có đạo đức cách mạng thì nghĩ, nói và làm phải thống nhất Nhândân thường đánh giá cán bộ thông qua những lời nói và việc làm cụ thể hàngngày “Nói một đằng, làm một nẻo” là điều tối kỵ đối với người cán bộ “Một sựbất tín, vạn sự bất tin”, người cán bộ một khi đã không được dân tin, dân phục,dân yêu thì chỉ là người “vô tích sự, không làm nên trò trống gì” Do vậy, “cũngnhư sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải cógốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạođức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[4]
Theo Người, người cán bộ có đạo đức nhưng lại phải có tài Cán bộ chỉ có đức
mà thiếu tài thì cũng chẳng khác nào “những ông bụt ngồi ở trong chùa” Có tài, theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm cả năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thựctiễn Muốn có được những năng lực đó, người cán bộ phải chịu khó học tập, rènluyện, trước hết là học tập lý luận Mác - Lênin, sau đó phải chịu khó lăn lộntrong thực tiễn Bởi vì theo Người, lý luận luôn được bổ sung bằng những kếtluận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động
Có đức, có tài vẫn chưa đủ Người cán bộ còn phải có phong cách công táckhoa học Theo Người, muốn có phong cách công tác khoa học phải chống bệnhchủ quan, tác phong quan liêu, đại khái; chống bệnh ham chuộng hình thức, chỉnhằm về hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai; chống cách làm việc
17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 5, tr 309
7
Trang 8theo lối bàn giấy, ngồi một nơi “chỉ tay năm ngón”, không chịu đi thực tế địaphương để nắm bắt tình hình, không lấy kết quả chăm lo đời sống Nhân dân làmthước đo.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất làngười đứng đầu phải: Hiểu rõ và đánh giá đúng cán bộ Hiểu rõ và đánh giáđúng cán bộ mới bố trí và sử dụng đúng cán bộ, mới phát hiện đúng ai là cán bộtốt, ai là cán bộ xấu, ai là người có tài, ai là kẻ bất tài; mới kích thích mặt tíchcực và hạn chế mặt tiêu cực trong con người cán bộ;… Muốn đánh giá đúng cán
bộ phải căn cứ vào những chuẩn mực nhất định, những chuẩn mực đó có thểthay đổi cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng.Như trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ hàng đầu của người cán bộ lànêu gương trong cuộc đấu tranh giữa cái sống và cái chết, phấn đấu hy sinh đểgiành độc lập, tự do cho Tổ quốc; trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụhàng đầu của người cán bộ là cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; ngày nay, cán bộ phải làngười đi tiên phong trong công cuộc đổi mới, có thái độ đúng đắn đối với côngcuộc đổi mới, có kiến thức và năng lực thực hiện đường lối đổi mới
Dùng cán bộ phải đặt người đúng việc, vì việc mà đặt người, chức không phải
vì người mà đặt việc Người thường căn dặn: “Chúng ta phải nhớ rằng, ngườiđời ai cũng có chỗ hay, chỗ dỡ Ta phải dùng chỗ hay của họ và giúp họ chữachỗ dỡ Dùng người cũng như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng,cong đều tùy chỗ mà dùng được Khéo dùng cán bộ còn thể hiện ở chỗ biết kếthợp các thế hệ cán bộ một cách đúng đắn”18 Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói:
“Trong đội ngũ cán bộ của Đảng có cán bộ già, cán bộ trẻ Cán bộ già là vốnquý của Đảng, họ có kinh nghiệm về mặt lãnh đạo, được rèn luyện, thử tháchnhiều trong thực tế đấu tranh Nhưng cũng có một số cán bộ già đến một thời kỳnào đấy là dừng lại, không tiến lên được, hay bám lấy cái cũ, không nhạy cảmvới cái mới Còn cán bộ trẻ tuy chưa có được ưu điểm như cán bộ già nhưng họlại hănghái, nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập cho nên tiến bộ rất nhanh”19
Vì vậy, “Đảng ta phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ Không nên coithường cán bộ trẻ, đảng viên trẻ nói gì cũng gạt đi, cho là “trứng khôn hơn vịt”,
“măng mọc quá tre” Thời đại của ta hiện nay rất oanh liệt Xã hội, thế giới pháttriển rất nhanh Thế mà các đồng chí lại coi thường cán bộ trẻ là không đúng.Còn cán bộ trẻ không được kêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già
có kinh nghiệm” Muốn dùng cán bộ cho đúng còn phải hết sức khách quan,công tâm và phải chống tư tưởng “địa phương chủ nghĩa”, “óc bè phái”, “óc hẹp
8
Trang 9hòi”, “ai hẩu với mình dù có tài cũng dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũngkhông nghe”,… Có gan cất nhắc cán bộ Có gan tức là phải mạnh dạn Sỡ dĩNgười nói như thế vì chúng ta quá rụt rè, quá khắt khe trong việc bổ nhiệm, đềbạt cán bộ Có gan không có nghĩa là làm vội, làm ẩu, làm liều Người thườngnói: “Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng Chẳng những xem xétcông tác của họ mà còn phải xem xét sinh hoạt của họ Chẳng những xem xétcách viết, cách nói của họ mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lờinói, bài viết của họ hay không Chẳng những xem xét họ đối với ta thế nào màcòn phải xem xét họ đối với người khác như thế nào Ta nhận họ tốt, còn phảixét số đông đồng chí có nhận họ tốt hay không Phải biết ưu điểm của họ, màcũng phải biết khuyết điểm của họ, không nên chỉ xem xét công việc của họtrong một lúc mà phải xem xét cả công việc của họ từ trước đến nay” Đối vớicán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi đề bạt, bổ nhiệm mà sau khi
đề bạt, bổ nhiệm còn phải tiếp tục bồi dưỡng, giúp đỡ họ để họ có thể hoànthành tố nhiệm vụ được giao “Có lên, có xuống, có vào, có ra” trong việc cấtnhắc, bổ nhiệm cán bộ nói chung là đúng Song, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó
là điều “vạn bất đắc dĩ” Người nói: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như giãgạo Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ Khi cất nhắc rồi không giúp
đỡ họ Khi họ có sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên Mộtcán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”
Học tập và làm theo Bác, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng,Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, như lời Tổng Bí thư Nguyễn PhúTrọng đã nói “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước tachưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”20.Cùng với đó, công tác cán bộ luôn được đề cao: “đội ngũ cán bộ, đảng viên đápứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới… xây dựng độingũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, ngang tầm nhiệmvụ… Hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng bổ sung, sửa đổi và banhành mới nhiều quy định mới về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm,giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền.Quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới…Công tác quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý đội ngũ cán
bộ các cấp, gắn liền với tiêu chuẩn, chức danh và quy hoạch cán bộ được quantâm, chú trọng và đầu tư tương xứng Công tác điều động, luân chuyển cán bộlãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn.Những cán bộ được điều động, luân chuyển cơ bản phù hợp, đáp ứng với yêu
Sự thật, Hà Nội, tr 25
9
Trang 10cầu được giao và khẳng định năng lực lãnh đạo, quản lý bằng những kết quả cụthể…”21.
Bên cạnh những kết quả đó, chúng ta cũng nghiêm túc thấy rằng còn có một
bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.Trong khi cách mạng đòi hỏi sự phấn đấu kiên định và bền bỉ để thực hiện mụctiêu lý tưởng thì một bộ phận cán bộ, đảng viên lại giảm sút ý chí, phai nhạt lítưởng, dao động, mơ hồ về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Đáng chú ý
có cả một số cán bộ, đảng viên cấp cao làm trái Cương lĩnh, Điều lệ đảng, viphạm pháp luật Nhà nước, thiếu tinh thần trách nhiệm khi giải quyết những vấn
đề của đất nước cũng như của địa phương mình, ngành mình, đơn vị mình; một
bộ phận làm việc cầm chừng, chờ đợi, thiếu tinh thần đồng cam cộng khổ, chỉ lovun vén cá nhân, tham nhũng, hối lộ, đặc quyền, đặc lợi, cục bộ địa phương, cơhội, chỉ coi trọng giá trị vật chất mà coi nhẹ giá trị tinh thần, nặng về lợi ích thựcdụng trước mắt, xem nhẹ lợi ích cơ bản lâu dài Hơn nữa, trong khi cách mạngđòi hỏi đảng viên và người lãnh đạo phải gần gũi nhân dân, đi sát cơ sở, đi sâuvào thực tiễn, thấu hiểu nguyện vọng của đồng bào, lắng nghe ý kiến và học tậpkinh nghiệm của quần chúng, tổ chức thực hiện cụ thể, giải quyết kịp thời cácvấn đề nóng hổi trong cuộc sống thì lại xa dân, quan liêu, đại khái, hống hách,sách nhiễu, không tôn trọng nhân dân, không lấy kết quả chăm lo đời sống Nhândân làm thước đo
Vì vậy, công việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được coi là “ then chốtcủa then chốt”càng cần được coi trọng hơn bao giờ hết, nhất là khi Việt Nam đãtiến hành xong Đại hội lần thứ XIII của Đảng và xác định: “Tăng cường xâydựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy ýchí và quyết tâm phát triển đất nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dântộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ côngcuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòabình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nướcphát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”22
Nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong sự nghiệp đổi mớicủa Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết trong thư gửi các đồng chícán bộ: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với
Trang 11nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặtlàm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấycủa chung làm của riêng) Thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dânoán đến Chính phủ và Đoàn thể” Tiếp đó, ngày 19/9/1945, Người viết bài
“Chính phủ là công bộc của dân” với yêu cầu: “Các công việc của Chính phủlàm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọingười Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lêntrên hết thảy Việc gì có lợi cho dân thì phải làm Việc gì có hại cho dân thì phảitránh” Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL banhành Quy chế công chức Việt Nam Trong Lời nói đầu của Quy chế công chứcViệt Nam viết: “Công chức Việt Nam là những công dân Việt Nam giữ mộtnhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân Công chức ViệtNam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ vànhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc” Điều 2 của Quy chế công chức ViệtNam quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành vớiChính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc
có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước.Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”
Từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt ra nhữngyêu cầu nhất định đối với đội ngũ cán bộ, công chức Theo đó, bộ máy nhà nước
ta phải có được đội ngũ cán bộ, công chức có tầm nhìn chiến lược, vừa hồng vừachuyên, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước.Thành tựu 35 năm đổi mới của nước ta rất đáng ghi nhận song ở bình diện tổchức, xây dựng Đảng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ công chứccán bộ, kể cả cán bộ cấp cao lại bị buông lỏng Một số không nhỏ cán bộ, đảngviên nhất là những người nằm trong tầng quyền lực lớn phai nhạt lý tưởng, đạođức suy đồi, lối sống buông thả là do “đức ít mà ân sủng nhiều, tài ít mà địa vịcao, công nhỏ mà bổng lộc lớn” - điều mà người xưa coi đó là tam đại họa Do
đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xứng tầm nhiệm vụ trong tìnhhình mới ở đất nước ta hiện nay ngày càng được chú trọng hơn nữa
2 Những nhiệm vụ đề ra khi xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xứng tầm nhiệm vụ trong tình hình mới ở đất nước ta hiện nay.
2.1 Tình hình thế giới và nước ta hiện nay:
Về dự báo tình hình thế giới, so với Đại hội XII, Văn kiện Đại hội XIII nêu
những dự báo mới: Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đangđứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn,
11
Trang 12xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và gay gắt hơn,làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế Toàncầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sựcạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộccực đoan Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trướcnhững thách thức lớn.
Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; cácnước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắthơn Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩathực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng Các nước đang phát triển, nhất là cácnước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới
Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thểcòn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19 Các quốc gia, nhất là các nướclớn điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài,làm thay đổi các chuỗi cung ứng Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại,tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượngcao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác độngmạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triểnmạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối vớimọi quốc gia, dân tộc
Về khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, Vănkiện Đại hội XIII nêu những dự báo mới: Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủquyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn Hòa bình, ổn định,
tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước tháchthức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trìhòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khókhăn
Về tình hình trong nước, Văn kiện Đại hội XIII nêu những dự báo mới: Sau
35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tincủa nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Năm năm tới, Việt Nam hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn và sẽ phải thựchiện đầy đủ, hiệu quả các cam kết khi tham gia các hiệp định thương mại tự do
12