1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân Tích Khái Niệm, Cấu Trúc Của Ý Thức Tôn Giáo Và Ý Thức Đạo Đức?.Docx

14 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Khái Niệm, Cấu Trúc Của Ý Thức Tôn Giáo Và Ý Thức Đạo Đức
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 39,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M C L CỤC LỤC ỤC LỤC A LỜI MỞ ĐẦU 6 B NỘI DUNG 6 I Ý thức tôn giáo 6 1 Khái niệm 6 2 Cấu trúc của ý thức tôn giáo 7 2 1 Tâm lý tôn giáo 7 2 2 Hệ tư tưởng tôn giáo 8 II Ý thức đạo đức 8 1 Khái niệm 8 2[.]

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 6

B NỘI DUNG: 6

I Ý thức tôn giáo: 6

1 Khái niệm: 6

2 Cấu trúc của ý thức tôn giáo: 7

2.1 Tâm lý tôn giáo: 7

2.2 Hệ tư tưởng tôn giáo: 8

II Ý thức đạo đức: 8

1 Khái niệm: 8

2 Cấu trúc ý thức đạo đức: 9

2.1 Tri thức đạo đức: 9

2.2 Tình cảm đạo đức: 10

2.3 Lý trí đạo đức: 10

2.4 Ý chí đạo đức: 11

III Vai trò của ý thức tôn giáo và ý thức đạo đức đối với hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay: 11

1 Khái quát hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay: 11

1.1 Xây dựng pháp luật: 11

1.2 Thực hiện pháp luật: 12

2 Vai trò của ý thức tôn giáo và ý thức đạo đức: 13

C KẾT LUẬN 17

Trang 2

A LỜI MỞ ĐẦU

Theo quan điểm duy vật về lịch sử của triết học Mác – Lê nin, nếu tồn tại

xã hội là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất (hoạt động thực tiễn) và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, là những điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn, phát triển của xã hội, thì ý thức xã hội

là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống…của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định Đó là hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một thể thống nhất,

có mối liên hệ bản chất, quy định và tác động lẫn nhau một cách tất yếu theo những quy luật khách quan; thông qua nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người nhằm giải thích cho sự vận động, hình thành và phát triển của lịch sử xã hội loài người Trong mối quan hệ có tính biện chứng đó, ý thức đạo đức và ý thức tôn giáo với tính cách là các hình thái ý thức xã hội có vai trò, ý nghĩa quan trọng (phản ánh tính thứ hai) đối với thực tiễn hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay

B NỘI DUNG:

I Ý thức tôn giáo:

1 Khái niệm:

Ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh thế giới hiện thực một các hoang đường, hư ảo và thần thánh hóa Sự phản ánh của ý thức thức tôn giáo thực hiện chức năng đền bù – hư ảo trong một xã hội cần đến sự đền bù –

hư ảo mà trong đó người còn bất lực trước những sức mạnh tự nhiên và những điều kiện khách quan của đời sống xã hội (nguồn gốc nhận thức do tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, tách ý thức ra khỏi con người) Những mâu thuẫn của đời sống hiện thực, những bất lực thực tiễn của con người được giải quyết một cách

hư ảo trong ý thức của họ với những ước mơ, khát vọng được giải thoát (nguồn gốc xã hội) Trong ý thức tôn giáo, những hiện tượng xã hội được thần bí hóa và

Trang 3

mang dáng vẻ của những lực lượng siêu nhiên, như Ăngghen đã nêu: “ Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người ta sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh ở thế gian đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian” Vì vậy, tôn giáo luôn được các giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ áp bức tinh thần, một phương tiện củng cố địa vị thống trị của họ

2 Cấu trúc của ý thức tôn giáo:

Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức tôn giáo bao gồm tâm lý tôn giáo và

hệ tư tưởng tôn giáo Về mặt lịch sử, tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo là hai giai đoạn phát triển của ý thức tôn giáo, nhưng chúng liên hệ tác động và bổ sung nhau Tâm lý tôn giáo đem lại cho hệ tư tưởng tôn giáo một tính chất đặc trưng, một sắc thái tình cảm riêng Hệ tư tưởng tôn giáo “thuyết minh” những hiện tượng tâm lý tôn giáo, khái quát chúng, làm cho chúng biến đổi theo những chiều hướng nhất định

2.1 Tâm lý tôn giáo:

Tâm lý tôn giáo là toàn bộ những biểu tượng, tình cảm, niềm tin, tập quán tâm trạng, thói quen của quần chúng về tín ngưỡng, tôn giáo Những biểu tượng, tình cảm, tâm trạng thói quen của quần chúng về hiện thực khách quan một cách

hư ảo như là sự tôn thờ, niềm tin vào một thế lực siêu nhiên… khi đã trở thành yếu tố bền vững trong cộng đồng người thì nó thường được thể hiện trong các phong tục, tập quán của cộng đồng đó Khi đó, chúng đã được văn hóa hóa và trở thành các tín ngưỡng, tôn giáo, là những yếu tố quan trọng trong nền văn hóa truyền thống Trong thực tế, tâm lý tôn giáo thể hiện trong những tín ngưỡng tại Việt Nam Chẳng hạn:

Trong tín ngưỡng phồn thực, đó là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người Tín ngưỡng phồn thực hình thành từ

xa xưa, trên cơ sở tư duy trực quan, cảm tính của con người trước sự sinh sôi để duy trì sự sống Họ nhìn thấy ở thực tiễn có một sức mạnh siêu nhiên và sùng bái các hiện vật, các hiện thực đó như thần thánh Từ những niềm tin, cảm xúc

đó của con người Việt Nam mà hình thành lên việc thờ sinh thực khí gọi là thờ

Trang 4

cúng Nõ Nường (Nõ tượng trưng cho bộ phận sinh dục nam, Nường tượng trưng cho bộ phận sinh dục nữ) Ngoài ra, tín ngưỡng phồn thực còn có các biến thể như: Thờ cột đá tự nhiên, thờ các kẽ đá nứt tự nhiên có hình dáng như bộ phận sinh dục nam, nữ;…

Hay như trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, người Việt Nam thường có thói quen thờ Tam phủ, Tứ phủ Tam phủ thờ ba vị thánh thần: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải) Tứ phủ gồm ba vị Mẫu đã nêu cộng thêm Mẫu Địa phủ…

2.2 Hệ tư tưởng tôn giáo:

Hệ tư tưởng là trình độ cao của ý thức xã hội, được hình thành khi con người nhận thức sâu sắc hơn về những điều kiện sinh hoạt vật chất của mình.

Hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất các mối quan hệ xã hội Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng, kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác, nghĩa là được tạo ra bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và được truyền bá trong xã hội Hệ tư tưởng tôn giáo được hiều là hệ thống giáo lý, tín điều do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo

ra và truyền bá trong xã hội.

Giáo lý, tín điều theo nghĩa rộng là bất cứ niềm tin xác tín nào không thể nghi vấn Giáo điều là những nguyên lý mà người ta tiếp thu một cách mù quáng, bằng sự tín ngưỡng, không có phê phán Giáo điều chỉ tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường, hạ thấp thực tiễn, hoặc áp dụng lý luận

mà không tính tới kinh nghiệm thực tiễn Dựa trên những giáo lý, tín điều, con người tuân theo với niềm tin tuyệt đối không sẵn sàng tham gia thảo luận một cách có lý trí Theo như giáo lý, tín điều của Thiên chúa giáo, nguồn gốc của con người là sinh ra từ mối tình của Adam và Eva được Chúa trời tạo ra Từ đây, những tín đồ Thiên chúa giáo có niềm tin và có cái nhìn rằng con người được tạo ra từ Chúa trời… Nhưng thực tế, con người chưa có bằng chứng chứng minh

về sự tồn tại của Chúa trời

II Ý thức đạo đức:

Trang 5

1 Khái niệm:

Cùng với ý thức tôn giáo, hình thái ý thức đạo đức ra đời từ rất sớm, ngay

từ xã hội nguyên thủy; biểu hiện trong quan niệm về đạo và đức và những quy tắc đơn giản điều chỉnh hành vi của con người Đó là khả năng đánh giá, xét đoán những hành vi theo tiêu chuẩn đúng sai hoặc thiện ác mang tính người; đồng thời, đó cũng là khả năng thúc đẩy, hướng dẫn con người biết làm điều lành, tránh điều xấu xa, biết lựa chọn đâu là nẻo đúng, đường sai - đánh giá các trạng thái ý thức, các phán đoán theo tiêu chuẩn thiện ác, đúng sai

Khi xã hội xuất hiện các giai cấp, ý thức đạo đức được hình thành và phát triển như một hình thái ý thức xã hội riêng có tính giai cấp Ý thức đạo đức và đạo đức nói chung không phát triển tách rời, mà gắn liền với sự phát triển của xã hội Nó phản ánh sự tồn tại xã hội dưới dạng các quy tắc điều chỉnh hành vi của con người chủ yếu bằng dư luận xã hội Sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng… phản ánh khả năng tự chủ của con người là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản quy định gương mặt đạo đức của con người, cũng là biểu hiện bản chất xã hội

Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, tri thức, hiểu biết và trạng thái xúc cảm tâm lý chung của các cộng đồng người về những giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, nghĩa vụ, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân và cá nhân trong xã hội

2 Cấu trúc ý thức đạo đức:

Ý thức đạo đức phản ánh tồn tại xã hội theo một cách riêng so với các hình thái ý thức xã hội khác Ý thức đạo đức có cấu trúc bao gồm: Tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức, lý trí đạo đức và ý chí đạo đức

2.1 Tri thức đạo đức:

Tri thức đạo đức là kết quả của quá trình con người nhận thức về những giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, nghĩa vụ, hạnh phúc, công bằng… và tư tưởng về những giá trị đó; về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử

Trang 6

giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân và cá nhân trong xã hội và với bản thân mình Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi trong cấu trúc ý thức đạo đức

2.2 Tình cảm đạo đức:

Tình cảm đạo đức là những rung động cảm xúc của con người khi có sự tác động trực tiếp từ hiện thực những hành vi, ứng xử đạo đức, các quan hệ đạo đức

- xã hội Tình cảm đạo đức là yếu tố đặc biệt quan trọng, nếu thiếu nó thì những khái niệm, phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức thu nhận bằng con đường

lý tính không thể chuyển hóa thành hành vi đạo đức

Khi ta thực hiện việc ác hoặc có các hành vi xấu xa, ta cảm thấy xấu hổ, hối tiếc, cắn rứt, ăn năn… Nhờ đó, việc tu tỉnh, hối cải về sự sai trái trong con người

ta sẽ dễ hơn Hành vi thiện, ác, tốt, xấu của những người khác cũng gây ra trong lương tâm ta những tình cảm đạo đức khác nhau như quý trọng, cảm phục, kính

nể, khen ngợi hoặc bức xúc, thương hại, khinh bỉ, chê bai, v.v

Các bậc hiền triết, các nhà tư tưởng xem yếu tố tình cảm rất quan trọng để

có ý thức đạo đức Chẳng hạn, Khổng Tử luôn đề cao đức Nhân; Malebranche

đề cao “tình yêu được soi sáng, biết lựa chọn”; Max Scheler lại đề cao loại tình yêu thuần khiết hướng về nhân loại Cho nên, khi thiếu yếu tố tình cảm hay một loại người mà ta hay gọi là “vô cảm” sẽ khó có được ý thức đạo đức, khó có được lương tâm

2.3 Lý trí đạo đức:

Yếu tố tình cảm của lương tâm tùy thuộc vào yếu tố lý trí Sự suy tư của lý trí đưa đến những phán đoán về giá trị, nhờ đó con người mới khái quát thành các nguyên lý, đưa ra các khái niệm về đạo đức như điều thiện, bổn phận, quyền lợi, công bình, nhân ái, v.v

Renouvier (Triết gia Pháp 1815-1903) cho rằng các ý niệm về đạo đức có tính cách tuyệt đối và lý tưởng như các ý niệm toán học (hình tròn, đường thẳng…), nghĩa là chúng giữ nguyên giá trị của mình một cách trừu tượng, thuần

lý mà không cần để ý đến trong thực tế có đáp ứng được hay không

Lalande (nhà thiên văn toán học Pháp 1732-1807) lại chứng minh lý trí có tính cách quy phạm Lý trí thiết lập và định đẳng cấp giá trị nên nó đóng một vai

Trang 7

trò quan trọng trong đời sống đạo đức: Trước khi hành động, lý trí giúp ta nhận định, tính toán về công việc sẽ làm Sau hành vi đạo đức, lý trí giúp ta phán đoán về giá trị hành động của ta

2.4 Ý chí đạo đức:

Ý chí là yếu tố không kém phần quan trọng nhằm thúc đẩy lương tâm con người hướng tới điều thiện và hành động theo những gì lương tâm cho là tốt đẹp dưới sự hướng dẫn của lý trí

I Kant (Triết gia Đức 1724-1804) cho rằng thiện ý và thiện chí (bonne volonté) với ý chí bao hàm bên trong đã thúc đẩy chúng ta làm điều thiện Nó có giá trị vừa là sự hiểu biết sự việc, vừa là hành động đi kèm (tri đi đôi với hành) Ngoài ra, Kant cũng xác định đạo đức là hiện thân của lý trí nhưng là lý trí thuần túy (raison pure) chuyển sang thực hành (raison pratique) biểu lộ qua thiện chí

Và những mệnh lệnh của lương tâm đều là những qui luật của lý trí nên có tính cách phổ biến và tất yếu

III Vai trò của ý thức tôn giáo và ý thức đạo đức đối với hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay:

1 Khái quát hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay:

1.1 Xây dựng pháp luật:

Xây dựng pháp luật là hoạt động phức hợp bao gồm phạm vi rộng lớn các hành vi kế tiếp nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau; do nhiều chủ thể có vị trí, chức năng, quyền hạn khác nhau tiến hành nhằm chuyển hóa ý chí của giai cấp cầm quyền thành những quy tắc pháp lý, thể hiện chúng dưới những hình thức pháp luật Thực chất của quá trình này là hoạt động xuất phát từ nhận thức và những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn khách quan và vì nhu cầu, lợi ích của xã hội nói chung và của giai cấp cầm quyền nói riêng để từ đó làm thế nào tạo ra một khuôn khổ pháp lý có tính áp đặt bằng quyền lực của Nhà nước đối với các cơ quan nhà nước và các giai tầng trong xã hội Mục đích là nhằm quản lý chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả mọi phương diện, lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 8

Hoạt động xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, thể hiện quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn các quy luật xã hội, nhất

là quy luật về lợi ích, đánh giá đúng đắn tầm quan trọng của các quan hệ xã hội

cơ bản cần có pháp luật điều chỉnh; trên cơ sở đó, xác định phạm vi và phương pháp điều chỉnh phù hợp với từng loại quan hệ xã hội Thông qua việc sử dụng các quy tắc đặc thù của kĩ thuật lập pháp, nhà nước chuyển ý chí của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân thành các chuẩn mực pháp luật có tính bắt buộc thực hiện chung Các chuẩn mực đó được chứa đựng trong các hình thức văn bản pháp luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật dưới luật

Bản chất đặc thù của hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay là vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính dân chủ rộng rãi, vừa là hoạt động có tính chất nghề nghiệp Do có sự thống nhất cao về mặt lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động xây dựng pháp luật hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, phản ánh và thể hiện lợi ích của dân tộc, của nhân dân trong công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

1.2 Thực hiện pháp luật:

Thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với những quy định và yêu cầu của pháp luật, không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự có tính chủ động, được tiến hành bằng một thao tác nhất định (hành động) nhưng đó cũng có thể là một xử sự có tính thụ động, tức là không tiến hành vượt quá xử sự bị pháp luật cấm (không hành động) Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách thức khác nhau

Thực hiện pháp luật có bao gồm 04 hình thức:

- Tuân thủ pháp luật:

Trang 9

Đây là hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động, trong đó các chủ thể kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm; những quy phạm pháp luật cấm đoán được thực hiện ở hình thức này

- Thi hành pháp luật (hay chấp hành pháp luật):

Đây là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực; những quy phạm pháp luật bắt buộc, những quy phạm quy định nghĩa vụ được thực hiện ở hình thức này

- Sử dụng pháp luật:

Đây là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động, trong đó các chủ thể thực hiện các quyền của mình mà pháp luật cho phép (có thể thực hiện hoặc không thực hiện tuỳ theo ý chí của mình, chứ không bắt buộc phải thực hiện); những quy phạm pháp luật quy định về các quyền và tự do pháp lý của các tổ chức, cá nhân được thực hiện ở hình thức này

- Áp dụng pháp luật:

Đây là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ

quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để ban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, một số tổ chức xã hội cũng có thể được thực hiện hoạt động này

2 Vai trò của ý thức tôn giáo và ý thức đạo đức:

Với tính cách là các hình thái ý thức xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội, với các điều kiện vật chất khách quan cũng như hoạt động thực tiễn của con người mà một dạng thức cụ thể là hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật Hình thái ý thức tôn giáo và hình thái ý thức đạo đức tồn tại trong xã hội có vai trò thực tế rất to lớn là có thể điều chỉnh, khuôn phép những hành vi, xử sự của một cá thể người, một bộ phận người, một cộng đồng tôn giáo… theo những quy ước, chuẩn mực tôn giáo hay đạo đức xã

Trang 10

hội mà không cần đến việc sử dụng quyền lực nhà nước can thiệp, mục đích là nhằm làm cho con người tốt đẹp hơn, xã hội ngày càng ổn định và phát triển hơn Những điểm tích cực, tiến bộ đó cùng với những quy tắc, quan niệm, tri thức… thuộc ý thức tôn giáo, ý thức đạo đức mà đến nay vẫn còn có giá trị, được cả cộng đồng, xã hội thừa nhận và thực hiện Trong khi đó, pháp luật vẫn chưa hoàn thiện, chưa kịp thời điều chỉnh, bổ sung thì nhiệm vụ của pháp luật, của những nhà làm luật là phải tìm tòi, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, để kịp thời thể chế hóa chúng thành các quy phạm pháp luật Ở đây, ý thức tôn giáo và

ý thức pháp luật có vai trò định hướng đồng thời là cơ sở và động lực thúc đẩy hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật ở nước ta

Ý thức tôn giáo, ý thức đạo đức hỗ trợ hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật ở nước ta phát triển hoàn thiện và đi vào chiều sâu, có hiệu lực, hiệu quả

Thứ nhất, hầu hết các tôn giáo đều có giáo lý, giáo điều luôn khuyên răn con người làm việc thiện, góp phần xây dựng tình đoàn kết nội bộ, giải quyết linh hoạt, kịp thời, có tình, có lý các mâu thuẫn trong cộng đồng, điều này hỗ trợ cho việc hoàn thiện cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật Xuất phát từ tình hình thực tế, các cơ quan pháp luật và nhà chức trách có thể dự báo trước được nguy cơ mà tôn giáo đem đến hay phát hiện ra những bất cập thiếu sót trong hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó pháp luật sẽ được điều chỉnh để hoàn thiện hơn Ngoài ra, với những tín điều, giáo lý hầu hết là khuyên con người hướng thiện

và khi các tín đồ tôn giáo thực hiện theo những tín điều này thì phần nào giúp cho xã hội ổn định, phát triển Bên cạnh đó, có một số tín điều tôn giáo đã được nâng lên thành luật nên chỉ cần các tín đồ nghe theo các tín điều tôn giáo đó thì cũng như là họ đã thực hiện pháp luật Như vậy, có thể thấy nhờ tôn giáo mà công việc quản lý, kiểm soát xã hội của pháp luật nhẹ đi phần nào

Việt Nam là một nước đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, tục lệ…

Vì vậy, khi thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội của mình, pháp luật đã có những quy định nhằm quản lý tôn giáo, nhưng điều tốt đẹp của tôn giáo sẽ được pháp luật thừa nhận, bảo vệ và đảm báo thực thực thi Ví dụ: nhiều quy định tiến

Ngày đăng: 28/02/2023, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w