EMAIL MRT ÔN THI NGỮ VĂN 0973958358 SỐ 04 LÊ NGỌC HÂN MRT MỞ BÀI 1 Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học hiện đại Việt Nam với những thành tựu xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945 Sá.
Trang 1MRT
MỞ BÀI
1 Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của
văn học hiện đại Việt Nam với những thành tựu
xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau năm
1945 Sáng tác của Nguyễn Tuân mang phong
cách riêng độc đáo trong đó nổi bật chất tài hoa
uyên bác Là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái
đẹp, Nguyễn Tuân thường khám phá thế giới ở
phương diện văn hoá thẩm mĩ, thường miêu tả
con người trọng vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ
2 Người lái đò Sông Đà là bài tuỳ bút xuất
sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập Sông
Đà năm 1960 Sồng Đà là thành quả chuyến đi
gian khổ và hào hứng của Nguyễn Tuân lên
miền đất Tây Bắc xa xôi và rộng lớn những
năm 1958 - 1960, chuyến đi không chỉ nhằm
thoả mãn niềm khát khao xê dịch mà chủ yếu
để tìm kiếm chất vàng trong vẻ đẹp hùng vĩ và
thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, phát hiện
thứ vàng mười đã qua thử lửa của tâm hồn con
người Tây Bắc trong cuộc sống hàng ngày của
họ Tác phẩm đã thể hiện những nét đặc sắc
nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn
Tuân
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
NGUYỄN TUÂN
LỜI ĐỀ TỪ
- Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông (Wladyslaw Broniwski - Ba Lan): Nhà văn đã mượn câu thơ mang cấu trúc cảm thán để bộc lộ những xúc cảm đang trào dâng mãnh liệt trong lòng Tiếng hát trên dòng sông có thể là tiếng hát của những người chèo đò, kéo thuyền, vượt thác, tiếng hát thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên và cuộc sống lao động của con người Tây Bắc; cũng có thể hiểu là tiếng hát say mê, phấn khích đầy ngưỡng mộ của nhà văn trước vẻ đẹp của dòng sông Lời đề từ do đó đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của tuỳ bút, đó là tình yêu đắm say, tha thiết của nhà văn với thiên nhiên và con người trên dòng sông Đà
- Chúng thuỷ giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu (Nguyễn Quang Bích) Hai câu thơ chữ Hán đã đề cập tới một nét độc đáo của sông Đà khi mọi dòng sông đều chảy về hướng đông, chỉ có sông Đà một mình chảy theo hướng bắc - đó cũng
là đặc điểm khơi gợi hứng thú khám phá và chiêm ngưỡng của một nhà văn suốt đời kiếm tìm cái Đẹp
và sự độc đáo Nhưng khi mượn câu thơ xưa làm lời đề từ, có lẽ tác giả Người lái đò sông Đà không chỉ muốn nhắc đến sự ngược ngạo của dòng sông
mà còn nhằm khẳng định cá tính độc đáo của mình trong dòng sông văn chương, đó là văn phong đầy sáng tạo của một nhà văn có ý thức sâu sắc về cái Tôi cá nhân, về Bản Ngã, về cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật
Trang 2MRT ÔN THI NGỮ VĂN
II PHÂN TÍCH
1 Hình tượng dòng sông Đà
Qua ngòi bút của một nhà văn luôn khám phá thế giới ở phương diện văn hoá, thẩm mĩ, trong tuỳ bút Người lái đò sông Đà, dòng sông Đà đã hiện lên như một công trình mĩ thuật kì vĩ, tuyệt vời của tạo hoá với hai ấn tượng sâu đậm: dữ dằn, hung bạo và thơ mộng, trữ tình
1.1 Dòng sông hung bạo
Là nhà văn của những cảm giác mãnh liệt luôn có hứng thú đặc biệt với núi cao, rừng thiêng, với gió bão và thác ghềnh dữ dội, ngòi bút của Nguyễn Tuân tung hoành sảng khoái giữa dòng thác ngôn từ Nhà văn tài hoa đã khiến ngôn từ dựng lên ghềnh thác, khiến nhịp điệu tạo thành sóng gió, dùng những thao tác so sánh, nhân hoá dẫn dắt người đọc tới trùng điệp những hình dung, liên tưởng khiến cho sự hung bạo của sông Đà hiện lên đặc biệt sống động và truyền cảm
a Vách thành:
Một trong những hình ảnh đầu tiên gợi lên sự hùng vĩ của sông Đà chính là cảnh đá bờ sông dựng vách thành
+ Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh vách thành đã phần nào thể hiện sự vững chãi, thâm nghiêm
và những sức mạnh bí ẩn đầy đe doạ của sông Đà với vách đá như thành cao, vực thẳm như hào sâu Tác giả đã dùng những chi tiết tưởng như bâng quơ, ngẫu nhiên nhưng lại có giá trị gợi tả gián tiếp độ hẹp của lòng sông, độ cao của vách đá, như chi tiết mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới
có mặt trời đến việc đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đả sang bên kia vách Độ hẹp của lòng sông
Đà khi bị những vách đá lớn bên bờ sông chèn ép tới nghẹt thở còn được tái hiện một cách tài hoa
khi nhà văn sử dụng đông từ “chẹt” trong một hình ảnh so sánh rất ấn tượng về cái yết hầu: vách đá
thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu
Trang 3MRT ÔN THI NGỮ VĂN
+ Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả sự vật thông qua cảm giác rất quen thuộc của Nguyễn Tuân đã được thể hiện độc đáo khi nhà văn tạo ra ấn tượng tương phản của xúc giác với chi tiết: “ngồi trong
lấy hè phố tả mặt sông, lấy nhà cao gợi ra vách đá, truyền cho người đọc những hình dung về cái tăm tối, lạnh lẽo đột ngột khi con thuyền trôi từ ngoài vào khúc sông có đá dựng vách thành Những hình ảnh so sánh độc đáo kết hợp với cấu trúc trùng điệp của kiểu ngôn từ không xác định như “nào, mấy” trong so sánh về một khung cửa sổ nào trên cái tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt điện đã làm tăng thêm cảm giác về độ cao hun hút, thăm thẳm của vách đá qua cái nhìn chới với rợn ngợp của người quan sát
b Gềnh sông:
Sự hung bạo của sông Đà tiếp tục được đẩy cao hơn trong đoạn văn miêu tả cảnh mặt ghềnh Hát Loóng Nhịp ngắt ngắn, nhanh, dồn dập, sự xuất hiện dày đặc các thanh trắc, những hình ảnh
điệp nối tiếp luân chuyển, thế chỗ nhau trong cụm từ ngữ hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng
xô gió đã tái hiện sinh động quần thế những sức mạnh thiên nhiên dữ dội nhất của nước, sóng, gió
và đá sông Đà Động từ “xô” điệp lại trong cả ba vế câu gây ấn tượng về những chuyển động vĩnh hằng và sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên, ghềnh thác; kết cấu ngôn ngữ đặc sắc như mô phỏng hình ảnh những con sóng dữ cuồn cuộn chồm lên nhau theo chiều ngang, vút lên cao theo chiều dọc rồi đổ ập xuống, trùng điệp ghê rợn trên mặt ghềnh Từ láy “gùn ghè” và hình ảnh so sánh mang đậm sắc thái nhân hoá về việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loóng lúc nào cũng như đòi nợ xuýt bất
cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đây đã thể hiện sinh động sự hung hãn, lì lợm và cuồng bạo của dòng sông ngày đêm hăm doạ, uy hiếp con người
c Hút nước
Trang 4MRT ÔN THI NGỮ VĂN
Đem lại những ấn tượng mạnh mẽ hơn nữa cho sự hung bạo của sông Đà là hình ảnh những cái hút nước trên sông Một loạt những so sánh sống động, đặc sắc khiến hút nước hiện ra trong hình ảnh cái giếng bê tông xoáy tít, trong âm thanh ghê sợ của cửa cống cái bị sặc , hoặc trong
cả hình ảnh và âm thanh khi tưởng tượng ra mặt nước đang bị rót dầu sôi - đó là những hình ảnh và
âm thanh cho thấy cả sức mạnh và sự hung bạo của hút nước
Từ láy tượng hình “lừ lừ”, từ láy tượng thanh tăng nghĩa “ặc ặc” cùng những chi tiết so sánh mang sắc thái nhân hoá khi miêu tả nước thở và kêu như cửa cống cái , tất cả đều góp phần làm hiện ra cả hình ảnh và âm thanh của hút nước như một quái vật đang giận dữ đến ghê người Nhà văn đã phát huy trí tưởng tượng phong phú khi hình dung ra những bè gỗ to lớn, nghênh ngang bị lôi tuột xuống đáy hút nước hay chiếc thuyền bị hút trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi và tan xác ở khuỳnh sông dưới - đó là những hình ảnh chỉ có trong tưởng tượng nhung lại đưa đến một
ấn tượng thật sâu đậm về những sức mạnh khủng khiếp của hút nước sông Đà
Không dừng lại trong hình dung, tưởng tượng về những cái bè hay một con thuyền bất hạnh nào đó phải làm mồi cho hút nước, nhà văn còn tạo ra một giả tưởng li kì dẫn dụ người đọc vào trò chơi cảm giác, kéo họ xuống tận đáy hút nước xoáy tít, sâu hoắm cùng anh bạn quay phim táo tợn Hút nước vì thế đã được miêu tả bằng thủ pháp điện ảnh, hất ngược từ dưới lên một cách sống động, truyền cảm từ hình khối của một thành giếng xây toàn bằng nước cho đến màu sắc của dòng sông nước xanh ve, thậm chí cho đến cả cảm giác sợ hãi chân thực của con người khi phải đứng trong lòng một khối pha lê xanh như sắp vỡ tan và bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ụp vào người
d Thác nước:
Nhưng có lẽ khủng khiếp nhất trong diện mạo và tâm địa của thứ kẻ thù số một của con người phải là thác đá sông Đà
Khi còn xa mới tới thác
Trang 5MRT ÔN THI NGỮ VĂN
Nguyễn Tuân đã miêu tả âm thanh tiếng nước thác bằng những từ ngữ chỉ cảm xúc, thái độ, tâm trạng của con người: khi oán trách van xin, khi khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo khi rống lên Nghệ thuật nhân hoá đã khiến thác nước sông Đà thực sự trở thành một sinh thể sống đang giận dữ gầm gào, đe doạ con người ngay cả khi nó chưa xuất hiện Sự tài hoa tinh tế của Nguyễn Tuân còn thể hiện qua cách nhà văn dùng một hệ thống những từ ngữ gợi tả âm thanh theo những cung bậc tăng dần cả về sắc thái cảm xúc và âm lượng để vừa miêu tả sống động sự đe doạ hung hãn của dòng sông, vừa gợi tả khoảng cách ngắn dần giữa người quan sát với thác đá sông Đà; mặt khác, đây cũng là cách làm tăng dần cảm giác hãi hùng, hồi hộp đầy hứng thú cho người đọc Đặc sắc nhất là những phép so sánh kì thú trong một câu văn dài đầy ắp những hình ảnh dữ dội với “hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lửa rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” nhà văn đã thể hiện tài hoa độc đáo khi lấy hình ảnh gợi tả âm thanh, khi đặt những hình ảnh tương phản trong một trường liên tưởng bất ngờ, thú vị: lấy lửa tả nước, lấy rừng tả sông Qua so sánh, tiếng thác đá sông Đà được hiện lên như những âm thanh man dại, bản năng của một loài động vật hung dữ đang cuồng loạn tìm lối thoát thân, lại kết hợp với âm thanh của những thân cây vầu, tre khô, rỗng, nổ dữ dội trong lửa, cách miêu tả ấy khiến âm thanh của thác đá không chỉ được cảm nhận bằng thính giác, không chỉ được hình dung qua trí tưởng tượng mà còn được gợi tả qua những ấn tượng đặc biệt sống động của thị giác, xúc giác
Khi thác hiện ra
Sau câu văn ngắn giống như tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú: Tới cái thác rồi, nhà văn đã đồng thời tả cả đá và nước thác trong hình ảnh: sóng bọt đã trăng xoá cả một chân trời đá Tính từ trắng xoá lặp lại nhiều lần gây ấn tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào sôi mãnh liệt, gợi tả làn hơi nước như mờ đi trên mặt sóng, trên một diện rộng mênh mông của mặt sông; cùng với hình ảnh
Trang 6MRT ÔN THI NGỮ VĂN
chân trời đá, câu văn miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện ra sự hùng vĩ tới choáng ngợp của thác
đá sông Đà ngày trong những ấn tượng đầu tiên khi vừa gặp mặt
e Đá:
Đá sông Đà cùng với nước, với sóng và gió kết hợp với nhau cùng lúc tấn công uy hiếp con người đã được nhà văn miêu tả qua một hình ảnh nhân hoá đặc sắc: đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Sử dụng thuật ngữ của quân sự, trên cơ sở những quan sát thực tế, Nguyễn Tuân đã gợi dậy cái bí ẩn hiểm ác của đá sông Đà trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên khi ngàn năm mai phục, khi dữ dằn đột ngột hiện ra sau cái dập dềnh của sóng để nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Chúng biết sử dụng binh pháp như binh pháp tôn tử, biết lừa, biết dụ, biết đánh đối phương Một loạt những thuật ngữ của quân sự, thể thao, võ thuật như thạch trận, cuộc giáp lá cà, hàng tiền vệ, boong ke, pháo đài , một
hệ thống dày đặc những động từ mang sắc thái nhân hoá đặt trong những nhịp câu ngắn, nhanh, dồn dập: mặt sông rung tít, nước thác reo hò hò la ùa vào bẻ gãy thúc gối đội thuyền đánh miếng đòn độc hiếm bám lẩy thuyền đánh khuýp quật vu hồi .khiến thác đá sông Đà thực sự trở thành một chiến trường với những trận hỗn chiến ác liệt giữa con người và thiên nhiên
=> Nghệ thuật nhân hoá cùng những từ láy gợi hình đầy sức biểu cảm và nhất là những tính
từ chỉ tính cách, thái độ, cảm xúc của con người đã giúp Nguyễn Tuân làm hiện lên một trong những phần khủng khiếp của sông Đà, đó là thác đá trên dòng sông Kết hợp với sóng gió, với nước thác,
đá sông Đà không im lìm và bất động như đặc tính vốn có tự ngàn năm mà thét gào sống động; không vô tri mà ác hiểm, dữ dằn, đá sông Đà đã không chỉ lộ diện mạo mà cả tâm địa của thứ kẻ thù số một của con người
1.2 Dòng sông trữ tình
Trang 7MRT ÔN THI NGỮ VĂN
Cảm hứng lãng mạn luôn có xu hướng tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ bởi sự tương phản Trong tuỳ bút Người lái đò sông Đà, sự tương phản hiện hữu ngay trong đối tượng miêu tả bởi làm nên dòng sông Đà thực sự, ngoài chất hung bạo, không thể không nhắc đến chất thi vị trữ tình đằm thắm, vẫn là dòng sông ấy, nhưng sau khi dòng sông vặn mình vào một cái bến cát, khi chút bọt nước cuối cùng của sóng gió thượng nguồn xèo xèo tan trên cát, ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân
đã bất ngờ dẫn người đọc đến một sông Đà êm đềm như một giấc mơ, dịu hiền như một miền cổ tích
a Miêu tả bao quát:
Làm nên nét trữ tình đầu tiên là hình ảnh “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ
tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Chính nhịp câu, lời văn và nghĩa chữ đã góp phần gợi tả
những nét thi vị thật đặc biệt của dòng sông Câu văn rất dài chỉ có một dấu ngắt duy nhất kết hợp với điệp ngữ tuôn dài, tuôn dài vừa gợi tả sinh động độ dài của dòng sông, vừa đem đến cảm giác
về sự liền mạch bất tận, gợi hình ảnh dòng sông uốn lượn tuôn chảy từ những dãy núi hùng vĩ của vùng biên giới Tây Bắc, miên man chảy xuống đồng bằng, lặng lẽ hoà vào sông Hồng rồi thao thiết
đổ ra biển Những thanh bằng liên tiếp ở đầu câu văn cũng làm tăng thêm sự yên ả, êm đềm, bình lặng cho dòng sông khúc hạ nguồn Khi so sánh dòng sông như một áng tóc trữ tình, nhà văn đã đem đến cho sông Đà nét mềm mại, đằm thắm, vẻ duyên dáng đầy nữ tính, nhưng lại không làm mất đi vẻ đẹp hùng vĩ, lớn lao của dòng sông Trong câu văn miêu tả rất tài hoa của Nguyễn Tuân,
có thể thấy sông Đà đã nhận thêm vào dòng chảy của mình nét thơ mộng, huyền ảo của mây trời,
sự tươi tắn rực rỡ của hoa ban hoa gạo tháng hai, và đặc biệt là cái ấm áp thật gần gũi thân yêu của làn khói núi Mèo đốt nương xuân Cách miêu tả của Nguyễn Tuân đã cho thấy vẻ đẹp của sông Đà làm say mê trái tim nghệ sĩ trước hết vì nó là vẻ đẹp của đất nước Tổ Quốc bao la, sau nữa vì nó
Trang 8MRT ÔN THI NGỮ VĂN
gắn bó gần gũi thân thiết với cuộc sống con người Nhà văn của những vẻ đẹp vang bóng một thời nay đã có sự thay đổi cơ bản trong quan niệm thẩm mĩ: Cái đẹp không còn cô đơn lạc lõng, xa xôi, cái đẹp hiện ra ấm áp giữa cuộc đời bình dị, cái đẹp hiện diện ngay trong cuộc sống đời thường của những người lao động bình thường
b Màu nước:
Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà còn hiện ra qua những màu sắc đầy biến ảo khi vì niềm yêu và sự say mê, Nguyễn Tuân đã quan sát dòng sông một cách công phu và tinh tế trong những thòi điểm khác nhau, với những sắc thái khác nhau Đó là dòng xanh ngọc bích trong sáng, quí giá và êm nhẹ của sông Đà mùa xuân; việc so sánh màu xanh ngọc bích của sông Đà với màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô không chỉ là biểu hiện khá quen thuộc của một nhà văn thị tài, thích khoe tài hoa, khoe uyên bác mà còn là sự thiên vị của một niềm yêu!
Đó còn là dòng sông Đà lừ lừ chín đỏ vào mùa thu - những từ ngữ tượng hình đã gợi tả dòng chảy nặng nề, điềm đạm và chậm rãi của con sông đầy nặng phù sa thượng nguồn Hình ảnh so sánh nước sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bấtt mãn bực bội gì moi độ thu về đã không chỉ làm hiện lên màu sắc rất đặc trưng của nước sông Đà trong mùa thu mà còn thể hiện sức mạnh tiềm tàng ẩn chứa những đe doạ của một dòng sông vẫn năm năm báo oán, đời đời đánh ghen với con người Vậy là, ngay khi dừng lại miêu tả nét thơ mộng, trữ tình của dòng sông, hình ảnh của một sông Đà hung bạo hình như vẫn ám ảnh đâu đây trong sự quan sát và cảm nhận của nhà văn luôn say mê những cảm giác mạnh
c Trong niềm yêu nhớ của Nguyễn Tuân, sông Đà gợi cảm như một cố nhân:
Để thể hiện sự gợi cảm của một dòng sông gần thương xa nhớ, nhà văn đã tạo ra một tình huống đặc biệt cho nỗi nhớ, niềm yêu, cho những bồn chồn, khát khao, vồ vập Đó là tình huống
đi rừng lâu ngày, bắt đầu thèm chỗ thoáng, thèm một không gian phóng khoáng mênh mông, và
Trang 9MRT ÔN THI NGỮ VĂN
nhất là thèm được gặp lại sông Đà - cố nhân Hai chữ cố nhân vừa là hình ảnh nhân hoá dòng sông như một người bạn cũ, vừa đưa đến cho dòng sông chút vương vấn cổ kính, xưa cũ của Đường thi Khi liên tưởng mặt sông giống như cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thỉ, Nguyễn Tuân đã đem đến cho sông Đà vẻ lãng mạn huyền ảo của hoa khói, sự trong sáng rực rỡ của sắc xuân, cái bâng khuâng vời vợi nhớ nhung trong câu thơ được coi là thiên cồ lệ cú của Lí Bạch: “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Liên tưởng của nhà văn làm xao xuyến những tâm hồn luôn yêu nhớ phong vị Đường thi cổ điển, để rồi nỗi xao xuyến ấy mơ hồ lan toả trên dòng sông gợi cảm, khiến sông Đà không chỉ chảy trong không gian mà như còn trôi chảy trong dòng thời gian miên viễn, xa xăm của thế giới Đường thi
Cảm xúc gặp lại sông Đà cũng được cụ thể hoá trong những so sánh bất ngờ, thú vị: “Chao ôi! trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”
Có thể thấy hình ảnh sông Đà gợi cảm vô cùng trong tâm hồn nhà văn qua so sánh trông con sông, vui như thấy nang giòn tan sau kì mưa dầm
Và cuối cùng, trong hình ảnh so sánh về cảm giác gặp lại sông Đà, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, sông Đà đã thực sự trở thành người bạn cũ, người tri âm với bao kỉ niệm gắn bó trong quá khứ, bao nhớ thương trong hiện tại, bao hẹn hò chung thuỷ trong tương lai, với sự gợi cảm của mình, sông Đà đã thực sự trở thành một cố nhân, một tình nhân, dẫu trái tính mà vẫn có sức hấp dẫn, mê hoặc lòng người đến kì lạ
d Và có lẽ nét trữ tình thi vị nhất của sông Đà chính là ở sắc thái lặng tờ hoang dại của nó
Mở đầu đoạn là một câu văn êm ru trong những thanh bằng: Thuyền tôi trôi trên sông Đà Câu văn đã đưa con thuyền, nhà văn và cả người đọc vào một cõi mơ êm đềm, yên ả, một cõi hoang sơ vắng lặng như chưa từng có dấu vết của con người Tính từ lặng tờ lặp lại tới hai lần cùng câu văn
mang ý nghĩa khẳng định: Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến
Trang 10MRT ÔN THI NGỮ VĂN
thế mà thôi khiến cho sự êm đềm, tĩnh lặng của dòng sông dày thêm không chỉ vì cái yên ả trong
không gian mà như còn vì cái thăm thẳm xa xăm của thời gian
Bờ sông tiếp tục được miêu tả trong những hình ảnh so sánh độc đáo: bờ sông hoang dại như
một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Cách so sánh của Nguyễn
Tuân đã không hề làm rõ, làm hiện hữu hình ảnh của bờ sông, cũng không làm cụ thể hoá những khái niệm trừu tượng mà thậm chí chỉ càng đẩy dòng sông trôi xa thêm vào miền mộng ảo, phiêu diêu trong cõi hồng hoang xa xôi, trong thế giới cổ tích huyền hoặc của tuổi thơ, và chính trong thế giới ấy mà người đọc cảm nhận rõ hơn sự lặng tờ, hoang dại của một dòng sông trong trẻo, êm đềm
Sự yên ả êm đềm đến mức mơ hồ của sông Đà khúc hạ nguồn tiếp tục được nhà văn tô đậm hơn bởi những hình ảnh thật mong manh, nhỏ bé, những hình ảnh chỉ có thể nhận ra trong một không gian trong lành, nguyên sơ, thuần khiết với mấy lá ngô non đầu mùa mới nhú, mẩy nõn búp
cỏ gianh đẫm sương đêm và nhất là được gợi tả qua âm thanh khẽ khàng, dịu nhẹ của tiếng cá dầm xanh quẫy nước
Đặc biệt nhất là hình ảnh con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, cất tiếng hỏi nhà văn bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành Chi tiết này làm tăng thêm ảo giác như nhà văn bước lạc vào một cõi trong trẻo, an lành, thuần hậu, và không có thực của thế giới cổ tích, ảo giác mãnh liệt đến mức nhà văn bỗng thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của chuyến xe lửa, niềm khao khát này không chỉ là ước mơ hiện đại hoá miền Tây Bắc mà còn là cách để âm thanh của cuộc sống hiện tại giúp nhà văn nhận ra rằng mình vẫn đang ở thế giới thực của hiện tại, vẫn là con người trong nền văn minh hiện đại Không một sự miêu tả trực tiếp nào lại khiến sự lặng tờ, hoang dại của dòng sông hiện lên rõ nét đến thế như trong lời ao ước của Nguyễn Tuân khi đứng bên một dòng sông quá đỗi êm đềm