1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx

34 1,3K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx
Tác giả Nhóm 4
Người hướng dẫn P. ThS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 654 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại Học Thương Mại-Khóa 47N Chủ đề thảo luận Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian

Trang 1

Trường Đại Học Thương Mại-Khóa 47N

Chủ đề thảo luận

Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ

mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua

Trang 2

NHÓM 4 BẢNG DANH SÁCH VÀ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

Trang 3

Lời mở đầu

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng với những tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền kinh tế nước ta đã có những biến động về phương diện kinh tế vĩ mô.

Những lo ngại về nguy cơ lạm phát lại được nhiều người quan tâm trong thời gian gần đây.Mặc dù nước ta đã phần nào kiềm chế được lạm phát.Tuy nhiên, lạm phát đang có dấu hiệu quay trở lại.

Vừa qua Ngân hàng nhà nước (NHNN) thực hiện những chính sách quyết liệt như: điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn Các biện pháp này có mục đích ngăn chặn nguy cơ về lạm phát

và bong bóng tài sản Nhiều chuyên gia kinh tế trong nước cũng cảnh báo những bất ổn vĩ mô do lạm phát cao có thể xảy ra vào năm nay.

Lạm phát nổi lên như một vấn đề kinh tế vĩ mô được quan tâm.

Trang 4

2.1.3 Cụ thể tình hình lạm phát ở Việt Nam từ năm 2007 – 2010 12

2.2 Tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà 15

Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong

Trang 5

lạm phát trong tương lai.

Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định

1.1.2. Phân loại lạm phát

a, Phân loại theo quy mô

Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm phát Việc phân loại lạm phát theo tính chất sẽ được đề cập khi bàn về tác động của lạm phát, còn trong mục này chúng ta sẽ phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát Theo tiêu thức này các nhà kinh tế thường phân biêt 3 loại lạm phát: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát

Lạm phát vừa phải

Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ gây lạm phát dưới 10% một năm Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi mức giá tăng chậm vànhìn chung có thể dự đoán trước được vì tương đối ổn định Đối với

Trang 6

các nước đang phát triển lạm phát ở mức một con số thường được coi

là vừa phải Đó là mức lạm phát mà bình thường nền kinh tế trải qua

và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trong bối cảnh đó, mọi người vẫn sẵn sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch và ký các hợp đồng dài hạn tính bằng tiền vì họ tin rằng giá và chi phí của hàng hóa mà họ mua và bán sẽ không đi chệch quá xa

Lạm phát phi mã

Là loại lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số trong một năm Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đổi mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách

Nhìn chung lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồngtiền bị mất giá rất nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tíchtrữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc cácngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải

Trang 7

Siêu lạm phát ở Zimbabwe

b, Phân loại theo nguyên nhân.

Lạm phát do cầu kéo

Trang 8

Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leothang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường

Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa

là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao hơn

Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả của mộthoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên.Các xí nghiệp vì muốn bảo toànmức lợi nhuận của mình sẽ tănggiá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng

Lạm phát tiền tệ

Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào

để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát

Trang 9

Lạm phát dự kiến hay còn gọi là lạm phát ì:

Là loại lạm phát xảy ra do mọi

1.2.1. Khái niệm chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tếcủa nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định

Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kỳ tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế

dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hoá

Trang 10

1.2.2. Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát

Để thấy rõ tác động của chính sách tiền tệ tới tỷ lệ lạm phát ta sẽ đi tìm hiểu từng công cụ một của chính sách tiền tệ.

Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng thương mại

Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạntrên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh

hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫnđến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ

Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là 1 công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định

Là 1 công cụ can thiệptrực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế

Trang 11

2 THỰC TRẠNG

2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế toàn cầu.

Đã bốn năm trôi qua kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùngphát, song kinh tế thế giới vẫn đang phục hồi chật vật Gam màu chủ đạo của bức tranh kinh tế thế giới năm 2012 là “xám tối” trong bối cảnh nhịp độ tăng trưởng trên toàn cầu tiếp tục yếu

Châu Âu loay hoay tìm lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công dai dẳng ba năm qua, kinh tế Mỹ và Nhật Bản tăng trưởng ì ạch Các nền kinh tếmới nổi tăng trưởng khá nhanh như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, đều không giữ được “phong độ”

Người dân Pháp xuống đường biểu tình phản đối các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” nhằm đối phó với khủng hoảng nợ công của chính phủ

Giới phân tích nhận định trong tình cảnh còn nhiều bất ổn, nguy cơ thách thức rình rập và triển vọng bị chi phối bởi không ít rủi ro, mà trước mắt là việc đưa ra kịp thời các quyết sách liên quan đến cuộc khủng hoảng nợ tại Eurozone và "vách đá tài chính" ở Mỹ, bức tranh kinh tế thế giới sẽ khó chuyển sang “gam sáng” trong hai năm tới

Trang 12

2.1.2. Sơ lược diễn biến lạm phát ở Việt Nam từ 1976 đến nay

Trong 36 năm qua (tính từ năm 1976), lạm phát tại Việt Nam chỉ có 1 năm giảm (2000), 12 năm tăng 1 chữ số, 20 năm tăng 2 chữ số, 3 năm tăng 3chữ số

Thời kỳ 1976-1985, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng rất cao Nguyên

nhân chủ yếu là do kinh tế tăng trưởng chậm, có năm bị giảm, làm mất cân đối cung cầu (thiếu cung), tiền nhiều hơn hàng

Thời kỳ 1986-1991, lạm phát phi mã, trong đó 1986-1988 tăng tới

402,1%/năm Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế bị khủng hoảng, tăngtrưởng thấp, làm cho thị trường bị thiếu cung, tiền nhiều hơn hàng.

Lạm phát 487,2% 301,3% 308,2% 74,3%

Thời kỳ 1992-1995, lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với

các thời kỳ trước Nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng (tăng trưởng kinh tế 1991-1995 đạt 8,2%/năm, đặc biệt lương thực vượt nhu cầu trong nước, đã có xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi; đối với ngân hàngthì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt

Lạm phát 67,6% 17,6% 5,2% 14,4% 12,7% 4,5%Tăng trưởng 6,0% 8,65% 8,07% 8,5% 9,5% 9,34%

Thời kỳ 1996-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp (mặc

dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực, với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương thực tăng 23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6% Nhưng nhìn chung cả thời

kỳ này đã có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng thấp

Thời kỳ từ 2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp

đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn

Trang 13

2.1.3. Cụ thể diễn biến lạm phát 2007-2010

- Khởi đầu kế hoạch 2006-2010, với tỷ lệ lạm phát 2006 là 6,6% Đây

là con số lý tưởng báo hiệu cho một thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên bước sang năm 2007 lạm phát của Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63% Nếu so sánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần cao hơn Nhìn vào biểu đồ có thể nhận thấy tỷ lệ lạm phát năm

2007 tăng dần qua các tháng với mức đỉnh điểm là tháng 12 với tỷ lệ 2,9% Lạm phát 2007 báo hiệu một năm đầy khó khăn cho nền kinh tếtrong 2008

Hình 2.1: CPI qua các tháng năm 2007-2010

Bước sang năm 2008, lạm phát diễn biến phức tạp Thời kỳ này lạm phát chia

làm 3 giai đoạn: Lạm phát nóng, kiềm chế lạm phát và giai đoạn giảm phát

Giai đoạn 1: Lạm phát nóng

Trong hơn nửa đầu năm 2008, lạm phát là vấn đề số một của nền kinh tế ViệtNam Tốc độ tăng giá tiêu dùng liên tục tăng ở mức 2%/tháng với đỉnh điểm vàotháng 2 và tháng 5 (tăng trên 3%) Lạm phát được xác định là do cả 3 nhân tố: chiphí đẩy,cầu kéo và tăng cung tiền

Giai đoạn 2: Kiềm chế lạm phát

Trước những ảnh hưởng sâu rộng của lạm phát, chính phủ đã đưa ra 8 nhóm

Trang 14

giải pháp kiềm chế lạm phát, tập trung vào việc thắt chặt cung tiền và giảm bớt đầu

tư công và hạn chế nhập siêu Được sự trợ giúp từ việc hàng hóa trên thế giới bắtđầu giảm từ mức đỉnh tháng 6/2008, tốc độ tăng lạm phát đưa xuống mức dưới2%/tháng (tháng 7-8/2008) và xấp xỉ 0%/tháng trong tháng 9/2008

Giai đoạn 3: Giảm phát

Cuộc khủng hoảng tài chính tòan cầu bước vào giai đoạn bùng phát vào tháng9/2008 và nhanh chóng lan tỏa tới các lĩnh vực kinh tế khác, dẫn đến suy thoáikinh tế toàn cầu Việc cắt giảm đầu tư và tiêu dùng dẫn tới một sự giảm đột ngột vềcầu khiến cho giá nhiều mặt hàng giảm mạnh Tính trong 4 tháng từ tháng 8 đếntháng 11/2008, giá nguyên liệu thế giới giảm 58% với đà giảm gia tăng Giảm phát

ở Việt Nam có độ trễ 2 tháng so với nước ngoài và chính thức bắt đầu từ tháng10/2008, với một trong những nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp nhập khẩuvới giá cao trong những tháng trước (phân bón,sắt thép…) cố gắng giữ giá bán đểgiảm thiểu thiệt hại do chi phí đầu vào lớn hơn giá bán hoặc tăng giá bán (sữa…).Giống như nhiều nước khác, mối lo ngại của Việt Nam đã chuyển trạng thái từ lạmphát sang giảm phát khi giảm phát xảy ra trong 3 tháng của quý IV/2008

Năm 2009, mở ra với bao khó khăn đối với nền kinh tế, tuy nhiên bằng những

giải pháp và quyết sách kịp thời chính phủ đã kiềm chế lạm phát ở mức thấp với tỷ

lệ lạm phát là 6,52% Diễn biến lạm phát qua giai đoạn này cũng ko có gì phức tạpkhi mà tỷ lệ lạm phát cao nhất chỉ là 1,38% (Tháng 12) Trong 8 tháng đầu tiên,diễn biến chỉ số giá là biểu hiện của kìm nén, ít nhiều theo tính quy luật và chocảm nhận an toàn Tuy nhiên trong 4 tháng còn lại, đường biểu diễn xóc nhẹ, báohiệu những đột biến, để rồi tăng dần và dựng ngược lên trong tháng tận cùng củanăm, hiện thực hóa phần cảm nhận lơ lửng đâu đó về nguy cơ tái lạm phát

Năm 2010, là năm diễn biến lạm phát có nhiều đột biến, khi có đến nửa số

tháng trong năm 2010, mức tăng CPI đã vượt qua 1% Các tháng từ 9 đến 11, chỉ

số giá tiêu dùng đều đạt kỷ lục của 15 năm trở lại đây

Đột biến thứ nhất: Xuống chậm sau Tết

Tết Canh Dần rơi vào đầu tháng 2/2010, các mức tăng CPI hai tháng đầu nămđều trên 1% và tiến gần 2% cũng không phải quá bất thường, nhưng khác biệttrong lại rơi vào tháng 3, khi chỉ số giá tiêu dùng không chịu xuống mạnh như các

Trang 15

năm trước So với tháng 12/2009, CPI tháng 3/2010 đã tăng 4,12% Đây là điều rấtđáng lo ngại, bởi ở những năm bình thường, chỉ số giá tiêu dùng quý 1 thườngchiếm khoảng một nửa mức tăng cả năm.

Đột biến thứ hai: “Giấc ngủ” kéo dài

Việc “nằm sàn” trong 5 tháng kế tiếp cũng là một đột biến đáng nhắc đến củalạm phát 2010 Trong khoảng 5 tháng từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ số giá tiêu dùngliên tục tăng rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6).Xét về cao độ, các mức tăng này lập kỷ lục về độ thấp kể từ 2004 đến nay

Đột biến thứ ba: “Bốc đầu” tăng mạnh

4 tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng liên tục duy trì ở mức cao Có tới 3tháng đạt kỷ lục về cao độ, cho thấy sức nóng của lạm phát Mức tăng chỉ số giátiêu dùng trong tháng 12 là 1,98% góp phần đưa tốc độ tăng cả năm lên gần 12%.Như vậy, mức lạm phát 2 con số của Việt Nam trong năm 2010 đã chính thức đượckhẳng định, vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra đầu năm gần 5%

Nguồn: Tổng cục thống kê

Xét giai đoạn 2001-2010 thì bình quân 4 năm 2007-2010 chỉ số giá tiêu dùngtăng 12,70%/năm gấp gần 2,5 lần so với tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2001-2006(5,38%)

Việc tỷ lệ lạm phát gia tăng và biến động thất thường trong giai đoạn này là một mối nguy hại lớn đối với nền kinh tế

Trang 16

2.2 Tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian 2007 – 2010(Thân trang)

2.2.1 Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam từ năm 2007-2010.

a, Công cụ lãi suất

Ngày 26/2/2010 NHNNVN đã ban hành Thông tư số 07/2010/TTNHNN quyđịnh việc cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận của các TCTD đối với kháchhàng Việc ban hành Thông tư 07 giúp lãi suất dẫn được trả về cho thị trường, qua

đó khơi thông được nguồn vốn tín dụng trung – dài hạn, mang lại nhiều lợi ích chocác TCTD (doanh thu, cơ hội kinh doanh, v.v ), cho doanh nghiệp (tiếp cận vốn

dễ dàng, sử dụng vốn một cách hợp lý hơn, v.v…) và cho nền kinh tế Đây là dấuhiệu của việc nới lỏng CSTT của NHNNVN trong những tháng đầu năm 2010.Cùng điểm lại những thay đổi về lãi suất của NHNNVN đã áp dụng trong giai đoạn

từ năm 2007 đến nay để thấy những thay đổi trong việc điều hành CSTT củaNHNNVN

Đồ thị 2.4: Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng năm

2007 (Đơn vị : %/tháng)

Nguồn : NHNNVN.

Trang 17

hưởng tiêu cực từ các diễn biến phức tạp và hậu quả nặng nề của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu Lãi suất huy động VND liên tục tăng tại các TCTD, nhucầu về vốn tăng nhanh khiến các TCTD đua nhau tăng lãi suất huy động tiền gửi.Trước tình hình đó, NHNNVN đã ra công điện số 02/CĐ – NHNN về việc yêu cầucác NHTM không được tăng lãi suất quá 12%/năm Ngày 11/6/2008, NHNNVNđiều chỉnh lãi suất từ 12% lên 14%/năm , nhiều NHTM đã điều chỉnh lãi suất ởmức cao, 17,5 – 18,5%/năm Càng về cuối năm lãi suất huy động tiền gửi giảmmạnh, cho đến tháng 11/2008, mức lãi suất huy động tiền gửi vào mức thấp nhất,giảm khoảng 9 - 9.5% so với thời điểm cao nhất của năm(17.5 – 18.5%/năm)

Lãi suất cơ bản năm 2009 không biến động nhiều như năm 2008 nhưng lạiđược giữ khá lâu ở mức 7% khiến cho hoạt động ngân hàng có nhiều lúc trở nênkhó khăn khi lãi suất cho vay bị khống chế ở mức trần 10,5% còn lãi suất huy độngthì đã lên tới 9,99%, nhưng hệ thống ngân hàng vẫn cố gắng phát huy tốt nhất vaitrò của mình là kênh truyền dẫn vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là dòng vốn hỗ trợ lãisuất của Chính phủ Đó thực sự là một nỗ lực không thể phủ nhận của hệ thốngNgân hàng Việt Nam

Năm 2010, trong 10 tháng đầu năm trước bối cảnh kinh tế vĩ mô có nhiềuchuyển biến tích cực, NHNN giữ ổn định lãi suất điều hành, cụ thể: lãi suất cơbản ở mức 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu

ở mức 6%/năm Từ ngày 5/11/2010, điều chỉnh tăng thêm 1%/năm các mức lãisuất điều hành, theo đó, lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng từ 8%/năm lên9%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 8%/năm lên 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ6%/năm lên 7%/năm; đồng thời, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằngUSD của tổ chức kinh tế tại TCTD là 1%/năm Đặc biệt, triển khai cơ chế chovay theo lãi suất thỏa thuận từ tháng 4/2010, thu hẹp chênh lệch giữa lãi suấtVNĐ và ngoại tệ

Như vậy, có thể kết luận rằng xu hướng chung trong việc điều chỉnh công cụlãi suất nhằm chống lại sự gia tăng của CPI qua các năm là sự tăng lên của lãi suất

Để giữ cho nền kinh tế không bị thừa cung về tiền tệ, NHTƯ đã liên tục điều chỉnhtăng lãi suất nhằm thu hút nguồn vốn trên nền kinh tế, từ đó giảm cung về tiền tệ,góp phần giảm bớt sức ép tăng giá.,

Ngày đăng: 01/04/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: CPI qua các tháng năm 2007-2010 - Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx
Hình 2.1 CPI qua các tháng năm 2007-2010 (Trang 13)
Đồ thị  2.4: Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng năm - Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx
th ị 2.4: Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng năm (Trang 16)
Đồ thị 2.5: Tăng trưởng tín dụng từ năm 2001 đến nay - Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx
th ị 2.5: Tăng trưởng tín dụng từ năm 2001 đến nay (Trang 19)
Bảng 2.3: Các lần điều chỉnh tỷ giá từ 2007-2010 - Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx
Bảng 2.3 Các lần điều chỉnh tỷ giá từ 2007-2010 (Trang 23)
Bảng 2.4: Kết quả giao dịch nghiệp vụ thị trường mở năm 2008 - Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx
Bảng 2.4 Kết quả giao dịch nghiệp vụ thị trường mở năm 2008 (Trang 25)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w