1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tình hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an toàn của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế

6 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an toàn của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả Ngụ Viết Lộc, Phạm Thị Nhật Giang, Vừ Minh Hoàng, Trương Như Sơn
Người hướng dẫn Ngụ Viết Lộc
Trường học Trường Đại học Y Dược Huế
Chuyên ngành Y học công cộng / Sức khỏe cộng đồng
Thể loại Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Năm xuất bản 2021
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 501,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh s¸ch ký nhËn lµm thªm ngoµi giê vietnam medical journal n01 MAY 2021 158 thiệp tốt hơn so với nhóm chứng Hiệu quả can thiệp ở thời điểm 6 tháng sau can thiệp đạt 17,0%, ở thời điểm 1 năm sau can[.]

Trang 1

thiệp tốt hơn so với nhóm chứng Hiệu quả can

thiệp ở thời điểm 6 tháng sau can thiệp đạt 17,0%,

ở thời điểm 1 năm sau can thiệp đạt 28,0%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Văn Chương (2010), Phục hồi chức năng

bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu

não, Nhà xuất bản Y học

2 Nguyễn Tấn Dũng (2012), Nghiên cứu chất

lượng cuộc sống và hiệu quả phục hồi chức năng

nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh

sau tai biến mạch máu não tại Đà Nẵng, Luận án

Tiến sỹ, Trường Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội

3 Trần Thị Mỹ Luật (2008), Đánh giá kết quả

phục hồi chức năng vận động của bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện điều dưỡng - PHCN tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại Học Y Dược Thái Nguyên, Thái Nguyên

4 Trịnh Viết Thắng (2012), Nghiên cứu một số

đặc điểm dịch tễ học đột quỵ não và hiệu quả bài tập phục hồi chức năng tại nhà ở Khánh Hòa, Luận

Án Tiến Sỹ Y Học, Học Viện Quân Y, Hà Nội

5 Nakao S., et al (2010), "Relationship between

Barthel Index scores during the acute phase of rehabilitation and subsequent ADL in stroke patients", J Med Invest 57(1-2), pp 81-8

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ LÀM MẸ AN TOÀN CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 1 TUỔI TẠI HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Ngô Viết Lộc*, Phạm Thị Nhật Giang*,

Võ Minh Hoàng*, Trương Như Sơn** TÓM TẮT38

Mở đầu: Làm mẹ an toàn là tất cả các phụ nữ đều

được nhận sự chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn

khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và

sau đẻ, bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có

tai biến xảy ra Ở Việt Nam, mỗi nămcó tới 600 ca tử

vong mẹ, hơn 10.000 ca tử vong trẻ sơ sinh, mà

nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề tiếp cận, sử dụng

dịch vụ làm mẹ an toàn của các bà mẹ còn nhiều hạn

chế Mục tiêu: Mô tả tình hình sử dụng dịch vụ làm

mẹ an toàn và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến

tình hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an toàn của các bà

mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa

Thiên Huế Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu

mô tả cắt ngang trên 320 bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại

8 xã/thị trấn ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

từ ngày01/07/2018 đến ngày 30/04/2019 Kết quả:

Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh

(87,8%), chăm sóc trong sinh (97,8%), chăm sóc sau

sinh (58,1%).Tìm thấy mối liên quan giữa tình hình sử

dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh và nghề nghiệp,

kiến thức trước sinh; tình hình sử dụng dịch vụ chăm

sóc trong sinh và số con, tuổi kết hôn, kiến thức trong

sinh; tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh và

tuổi đời, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi kết hôn,

kiến thức sau sinh Kết luận: Dựa vàomột số yếu tố

liên quan đến tình hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an

toàn để có biện pháp tác động thích hợp

Từ khóa: làm mẹ, an toàn, làm mẹ an toàn

SUMMARY

*Trường Ðại học Y Dược Huế

**Trung tâm Y tế huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chịu trách nhiệm chính: Ngô Viết Lộc

Email: ngovietloc@gmail.com

Ngày nhận bài: 5.3.2021

Ngày phản biện khoa học: 27.4.2021

Ngày duyệt bài: 7.5.2021

STUDY ONUSING SAFE MOTHERHOOD SERVICES SITUATIONS AMONG MOTHERS OF CHILDREN UNDER 1 YEAR OLD IN PHU VANG DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE

Background: Safe motherhood is that all women

receive the care they need to be completely healthy during pregnancy, childbirth and postpartum, including emergency obstetric treatment when there are complications In Vietnam, each year there are

600 maternal deaths, more than 10,000 infant deaths and 100 children under 5 years of age die each day, mainly due to the problem of approaching and using safe motherhood services of mothers with many

limitations Objectives: Describe the situation of

using safe motherhood services and explore some factors related to the situation of using safe motherhood services of mothers with children under 1 year old in Phu Vang district, Thua Thien Hue

Province Method: Across-sectionaldescriptive study

on 320 mothers with children under 1 year old in 8 communes/towns in Phu Vang district, Thua Thien Hue province from July 1st, 2018 to April 30th, 2019

Result: The situation of using antenatal care services

(87,8%), birth care (97,8%), postpartum care (58,1%) Finding the relationship between the situation using antenatal and occupational care services, prenatal knowledge; situation of using birth care and number of children, age of marriage and knowledge in birth; the situation of using postpartum care and age, occupation, education level, age of

marriage and postpartum knowledge Conclusion:

Based on some factors related to the using of safe motherhood services to take appropriate measures

Keywords: motherhood, safe, safe motherhood

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, làm mẹ an toàn

là tất cả các phụ nữ đều được nhận sự chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong

Trang 2

suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ, bao

gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có tai biến

xảy ra Tuy nhiên, đây vẫn là vấn đề sức khỏe

quan trọng của nhân loại khi hằng năm có tới

303.000 bà mẹ trên toàn thế giới tử vong liên

quan đến thai nghén và sinh đẻ, 99% số đó là ở

các nước đang phát triển

Tại Việt Nam, có tới 600 ca tử vong mẹ, hơn

10.000 ca tử vong trẻ sơ sinh được ghi nhận mỗi

năm và 100 trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi ngày vì

những nguyên nhân có thể phòng tránh được

[10] Tại Thừa Thiên Huế, ước tính mỗi năm vẫn

còn trường hợp tử vong mẹ và khoảng 20 - 30

trường hợp tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, trong đó,

tỷ lệ tử vong sơ sinh vẫn còn khá cao, chiếm đến

62% số tử vong trẻ em dưới 1 tuổi Nguyên

nhân chủ yếu của tình trạng này là do việc tiếp

cận dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh

của người dân cũng như chất lượng dịch vụ vẫn

còn nhiều hạn chế [7]

Phú Vang là một huyện đồng bằng ven biển

và đầm phá của tỉnh Thừa Thiên Huế Dân cư

phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các

đồng bằng ven thành phố Huế, thị trấn, ven biển

và ven các trục đường giao thông Nền kinh tế

cũng như đời sống nhân dân chủ yếu là sản xuất

nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy sản

Chính đây là những nguy cơ có thể dẫn đến

không ít khó khăn trong việc tiếp cận, sử dụng

các dịch vụ làm mẹ an toàn, cụ thể là vấn đề

nuôi con bằng sữa mẹ và vấn đề sử dụng các

biện pháp tránh thai sau sinh vẫn chưa đạt hiệu

quả cao [9] Từ những lý do trên, chúng tôi tiến

hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình sử

dụng dịch vụ làm mẹ an toàn của các bà mẹ có

con dưới 1 tuổi tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa

toàn của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện

Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2018

hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an toàn của đối

tượng nghiên cứu

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả

cắt ngang trên 320 bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại

8 xã/thị trấn ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên

Huế từ ngày 01/07/2018 đến ngày 30/04/2019

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô

tả cắt ngang

Chúng tôi tiến hành xây dựng phiếu điều tra

và thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực

tiếp đối tượng nghiên cứu với phiếu điều tra đã

xây dựng

Từ đó mô tả tình hình sử dụng dịch vụ làm

mẹ an toàn của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2018

và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an toàn của đối tượng nghiên cứu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (n=320)

Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Nhóm tuổi 15-24 25-34 202 88 27,5 63,1

Nghề nghiệp

Công chức, viên

Nông dân 22 6,9 Công nhân 112 35,0 Buôn bán 54 16,9 Nội trợ 74 23,1

Trình độ học vấn

Tiểu học 39 12,2 Trung học 203 63,4 Trung cấp/cao

Đại học/sau đại

Kinh tế gia đình Trung bình trở lên Nghèo/cận nghèo 305 15 95,3 4,7 Tuổi kết

hôn

18-24 166 51,9 25-30 139 43,4

Số con hiện có

1 con 135 42,2

2 con 117 36,6

≥3 con 68 21,2 Khoảng

cách từ nhà đến CSYT gần nhất

≤5 km 255 79,7

>5 km 65 20,3

Độ tuổi của các bà mẹ trong nghiên cứu chúng tôi tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hà [3] Về trình độ học vấn, đáng lưu ý, tỷ

lệ bà mẹ có trình độ tiểu học là 12,2%, đây sẽ là những cản trở nhất định trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản.Về kinh

tế gia đình, có 4,7% ĐTNC thuộc hộ nghèo/cận nghèo, tỷ lệ này thấp hơnnghiên cứu của Tôn Thất Chiểu [1] Trong nghiên cứu, hầu hết các

bà mẹ kết hôn từ 18 tuổi trở lên (98,1%) và phần lớn hiện đang có 1 – 2 con (78,8%), tương

tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Nhi [6]

Trang 3

Khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất của

ĐTNC đa số là ≤ 5 km (79,7%)

Bảng 2 Kiến thức làm mẹ an toàn của

đối tượng nghiên cứu (n=320)

Kiến thức Số Đạt Không đạt

lượng (n)

Tỷ

lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ

lệ (%)

Chăm sóc

trước sinh 255 79,7 65 20,3

Chăm sóc

trong sinh 316 98,8 4 1,2

Chăm sóc

sau sinh 190 59,4 130 40,6

Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chăm sóc trước sinh

đạt cao gấp 4 lần so với tỷ lệ không đạt

(79,7%), tương tự so với nghiên cứu của

Nguyễn Xuân Hà [3].Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức

chăm sóc trong sinh đạt rất cao (98,8%) Tuy

nhiên, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chăm sóc sau

sinh đạt có tỷ lệ khá thấp (59,4%) Vì vậy, cần

phải đẩy mạnh công tác CSSKSS tại địa phương

để nâng cao kiến thức cho các bà mẹ

2 Tình hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an

toàn của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 Tình hình sử dụng dịch vụ chăm

sóc trước sinh (n=320)

Tình hình sử

dụng dịch vụ

chăm sóc

trước sinh

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Khám thai 313 97,8 7 2,2

Tiêm phòng

uốn ván 288 90,0 32 10,0

Uống viên sắt 286 89,3 34 10,7

Chế độ dinh

dưỡng 247 77,2 73 22,8

Chế độ làm việc 250 78,1 70 21,9

Chế độ vệ sinh 274 85,6 46 14,4

Sử dụng dịch

vụ chăm sóc

trước sinh 281 87,8 39 12,2

Nghiên cứu cho thấy có 97,1% bà mẹ có sử

dụng dịch vụ khám thai, cao hơn so với nhiều

nghiên cứu tương tự như Lê Thị Kim Loan, Tôn

Thất Chiểu[5][1][3][6] Kết quả tiêm phòng uốn

ván đầy đủ là 90,0%, phù hợp với nghiên cứu

của Nguyễn Thị Thùy Linh [4] Kết quả uống

viên sắt đầy đủ là 89,3%, tương tự với nghiên

cứu của Nguyễn Xuân Hà, Trần Nhật Tân [3],

[8] Chế độ dinh dưỡng, làm việc, vệ sinh hợp lý

khi mang thai có tỷ lệ lần lượt là 77,2%; 78,1%;

87,8%.Nhìn chung, tỷ lệ bà mẹ có sử dụng dịch

vụ chăm sóc trước sinh là 87,8%, tương tự với

nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hà [3]

Bảng 4 Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc trong sinh (n=320)

Thực hành chăm sóc trong sinh

Số lượng (n)

Tỷ

lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ

lệ (%)

Nơi sinh 313 97,8 7 2,2 Người đỡ đẻ 318 99,4 2 0,6

Sử dụng dịch

vụ chăm sóc trong sinh 313 97,8 7 2,2 Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 97,8% bà

mẹ sinh con tại các cơ sở y tế Tuy nhiên, có đến 99,4% bà mẹ được cán bộ y tế đỡ đẻ là do rơi vào trường hợp bà mẹ sinh con ở nhà nhưng có mời cán bộ y tế đến Vì chọn nơi sinh và người

đỡ đẻ như trên nên đánh giá chung lại thì tỷ lệ

bà mẹ có sử dụng dịch vụ chăm sóc trong sinh rất cao với 97,8%; cao hơn so với nghiên cứu

của Tôn Thất Chiểu [1]

Bảng 5 Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh (n=320)

Thực hành chăm sóc sau sinh

Có Không

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Chăm sóc sau sinh bởi CBYT 315 98,4 5 1,6 Nuôi con bằng sữa

mẹ 114 35,6 206 64,4

Sử dụng BPTT 133 41,5 187 58,5 Cân trẻ 282 88,1 38 11,9 Tiêm vacxin lần

đầu cho trẻ 256 80,0 64 20,0

Sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh 186 58,1 134 41,9 Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc sau sinh bởi CBYT là rất cao (98,4%), cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Phạm Đình Đạt [2] Tuy nhiên, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ lại khá thấp (35,6%), là do phần lớn các bà mẹ đều không cho con bú hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu (cho uống nước, uống kèm sữa công thức,…) Chưa tới một nửa bà mẹ

sử dụng các BPTT sau sinh (41,5%), giải thích cho tình trạng này là do đối ĐTNC ở đây là những bà mẹ có con dưới 1 tuổi nên có nhiều bà

mẹ chưa sinh hoạt tình dục trở lại Tỷ lệ cân trẻ

và tiêm vacxin lần đầu cho trẻ khá cao với 88,1% và 80,0% Nhìn chung, tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh có tỷ lệ là 58,1%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Tôn Thất Chiểu [1]

Trang 4

3 Một số yếu tố liên quan đến tình hình sử dụng dịch vụ làm mẹ an toàn

Bảng 6 Một số yếu tố liên quan đến tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh (n=320)

Sử dụng dịch vụ chămsóc trước sinh Đặc điểm

Tổng P

Số lượng(n) Tỉ lệ (%) lượng(n) Số Tỉ lệ (%)

Tuổi 18- 24 25- 34 184 72 81,8 91,1 16 18 18,2 8,9 202 88 >0,05

Nghề nghiệp

Công chức viên chức 55 94,8 3 5,2 58

<0,05

Trình độ học

vấn

>0,05

Kinh tế gia

đình Trung bình trở lên Nghèo/cận nghèo 268 13 86,7 87,9 37 2 13,3 12,1 305 15 >0,05 Tuổi kết hôn

>0,05

Số con hiện

có ≤2 con >2 con 221 60 87,7 88,2 31 8 12,3 11,8 252 68 >0,05 Khoảng cách từ

nhà đến CSYT

gần nhất

>0,05

Kiến thức

trước sinh Không đạt Đạt 244 37 95,7 56,9 11 28 43,1 4,3 255 65 <0,05 Tìm thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp, kiến thức trước sinh và tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh (p<0,05) Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Tôn Thất Chiểu

và Nguyễn Xuân Hà [1], [3]

Bảng 7 Một số yếu tố liên quan đến tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc trong sinh (n=320)

Sử dụng dịch vụ chăm

sóc trong sinh Đặc điểm

Tổng P

Số lượng(n) Tỉ lệ (%) lượng(n) Số Tỉ lệ (%)

Tuổi 18- 24 25- 34 198 85 96,6 98,0 3 4 3,4 2,0 202 88 >0,05

Nghề nghiệp

Công chức viên chức 58 100,0 0 0,0 58

>0,05

Trình độ học vấn

>0,05

Kinh tế gia đình Trung bình trở lên Nghèo/cận nghèo 298 15 100,0 97,7 0 7 0,0 2,3 305 15 >0,05 Tuổi kết hôn 18- 24 < 18 143 22 91,7 96,6 2 5 8,3 3,4 148 24 <0,05

Trang 5

25- 30 139 100,0 0 0,0 139

Số con hiện có ≤2 con >2 con 250 63 99,2 92,6 2 5 0,8 7,4 252 68 <0,05 Khoảng cách từ

nhà đến CSYT

gần nhất

Kiến thức chăm

sóc trong sinh Không đạt Đạt 312 1 98,7 25,0 4 3 1,3 75,0 316 4 <0,05 Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa tuổi kết hôn, số con hiện có, kiến thức trong sinh và tình

hình sử dụng dịch vụ chăm sóc trong sinh (p<0,05)

Bảng 8 Một số yếu tố liên quan đến tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh (n=320)

Sử dụng dịch vụ chăm sóc

sau sinh Đặc điểm

Tổng P

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Tuổi 18- 24 25- 34 130 38 43,2 64,4 50 72 56,8 35,6 202 88 <0,05

Nghề nghiệp

Công chức viên chức 48 82,8 10 17,2 58

<0,05

Trình độ học

vấn

<0,05

THCS/THPT 115 56,7 88 43,3 203 Trung cấp/CĐ 28 77,8 8 22,2 36

Kinh tếgia đình Trung bình trở lên Nghèo/cận nghèo 179 7 46,7 58,7 126 8 53,3 41,3 305 15 >0,05 Tuổi kết hôn

<0,05

Số con hiện có ≤2 con >2 con 150 36 59,5 52,9 102 32 40,5 47,1 252 68 >0,05 Khoảng cách từ

nhà đến CSYT

gần nhất

>0,05

Kiến thức sau

sinh Không đạt Đạt 123 63 64,7 48,5 67 67 35,3 51,5 190 130 <0,05 Tìm thấy mối liên quan giữa tuổi đời, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi kết hôn, kiến thức sau

sinh và tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh (p<0,05)

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 320 bà mẹ có con dưới 1 tuổi

tại 8 xã/thị trấn thuộc huyện Phú Vang, chúng

tôi có những kết luận sau: Tình hình sử dụng

dịch vụ chăm sóc trước sinh (87,8%), chăm sóc

trong sinh (97,8%), chăm sóc sau sinh (58,1%)

Tìm thấy mối liên quan giữa tình hình sử dụng

dịch vụ chăm sóc trước sinh và nghề nghiệp,

kiến thức trước sinh; tình hình sử dụng dịch vụ

chăm sóc trong sinh và số con, tuổi kết hôn, kiến

thức trong sinh; tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh và tuổi đời, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi kết hôn, kiến thức sau sinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tôn Thất Chiểu (2012), Nghiên cứu tình hình sử

dụng dịch vụ làm mẹ an toàn của các bà mẹ có con dưới 01 tuổi thuộc ven biển, đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Huế

2 Phạm Đình Đạt (2013), Nghiên cứu kiến thức

và thực hành trước, trong và sau sinh của các bà

Trang 6

mẹ có con dưới 1 tuổi tại tỉnh Yên Bái năm 2012,

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân y khoa, Trường Đại

học Y Hà Nội

3 Nguyễn Xuân Hà (2014), Nghiên cứu kiến thức,

thái độ, thực hành về chăm sóc trước sinh của phụ

nữ có con dưới 1 tuổi tại phường Thủy Biều, thành

phố Huế, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y học dự

phòng, Trường Đại học Y Dược Huế

4 Nguyễn Thị Thùy Linh (2017), Nghiên cứu tình

hình tiêm phòng vacxin uốn ván ở phụ nữ mang

thai phường Thủy Biều, thành phố Huế năm 2016,

Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y học dự phòng,

Trường Đại học Y Dược Huế

5 Lê Thị Kim Loan (2012), Khảo sát tình hình

chăm sóc trước sinh của bà mẹ có con dưới 1 tuổi

tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An năm 2011,

Luận văn chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Y

Dược Huế

6 Nguyễn Thị Hoài Nhi (2014), Nghiên cứu tình

hình cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc trước

sinh tại xã Thủy Vân, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y học dự phòng, Trường Đại học Y Dược Huế

7 Sở Y tế Thừa Thiên Huế (2017),Hành động

chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em nhằm giảm tử vong mẹ, tử vong sơ sinh giai đoạn

2017 - 2020, https://syt.thuathienhue.gov.vn/

?gd=62&cn=1&id=466&tc=6645, truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018

8 Trần Nhật Tân (2011), Nghiên cứu kiến thức và

thực hành về làm mẹ an toàn của các bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị năm 2010, Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Y Dược Huế

9 UBND huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (2017), Hiệu quả của Đề án 52: Góp phần nâng

chất lượng dân số vùng ven biển, đầm phá huyện Phú Vang, https:// phuvang.thuathienhue.gov.vn/

?gd=12&cn=91&tc=1268, truy cập ngày 4 tháng

11 năm 2018

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI GAN CHUỘT NHIỄM MỠ

SAU UỐNG NƯỚC SẮC LÁ SEN

Bùi Thanh Thủy1, Phạm Minh Huệ1,

Lê Phong Thu1, Hoàng Ngọc Hằng1 TÓM TẮT39

Nghiên cứu mô tả thực nghiệm được tiến hành

trên 25 chuột cống trắng với mục tiêu mô tả sự thay

đổi cấu trúc hình thái gan chuột nhiễm mỡ sau uống

nước sắc lá sen Kết quả nghiên cứu cho thấy: có sự

thay đổi lipid trong bào tương tế bào gan chuột khi

uống nước sắc lá sen khô Lượng lipid giảm dần theo

số ngày chuột được uống nước sắc lá sen Cần tiếp

tục nghiên cứu định lượng để kết quả đánh giá tốt hơn

Từ khóa: hình thái, chuột, gan nhiễm mỡ, lá sen

SUMMARY

MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF

FATTY RAT LIVER AFTER DRINKING LOTUS

LEAF EXTRACT

Descriptive experimental study was performed on

25 white rats Objective: to describe the structural

changes in fatty liver morphology after rats ingested

lotus leaf extract The results showed that: when the

rats drank lotus leaf extract, there was a change in

lipid in hepatocellular cytoplasm Lipid decreases with

the number of days rats drink lotus leaf extract Need

further quantitative study to better evaluate results

Keywords: morphology, rat, fatty liver, lotus leaf

1Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên

Chịu trách nhiệm chính: Bùi Thanh Thủy

Email: thuyhptn@gmail.com

Ngày nhận bài: 2.3.2021

Ngày phản biện khoa học: 23.4.2021

Ngày duyệt bài: 5.5.2021

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ xa xưa, cây sen đã được sử dụng làm thức ăn và là một cây thuốc quen thuộc Trong

lá sen có chứa hàm lượng flavonoid cao, có tác dụng đẩy nhanh quá trình trao đổi chất lipid nên làm giảm lượng cholesterol xấu (LDL - nguyên nhân chính dẫn đến mỡ máu, gan nhiễm mỡ) Một số bác sĩ cho rằng hoạt chất flavonoid còn làm gia tăng cholesterol tốt (HDL), qua đó làm bền thành mạch, không những thế flavonoid còn kéo các mô mỡ trong cơ quan phủ tạng ra chuyển hóa thành dạng tự do để thải trừ ra ngoài Trong cơ thể, gan là cơ quan đóng vai trò trung tâm trong sự tích trữ và chuyển hóa các chất béo Gan nhiễm mỡ là sự tích lũy của chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan Trong thực tế hiện nay, đa số người dân có cách dùng chưa đúng, nhiều người uống nước sắc lá sen tươi hoặc lá sen khô để giảm béo một cách tùy tiện, không đảm bảo vệ sinh, hiệu quả không phát huy được tối đa, việc sử dụng liều lượng quá nhiều có ảnh hưởng đến cấu trúc các

cơ quan không, việc sử dụng nước sắc lá sen làm giảm mỡ trong gan là vấn đề đã được một

số tác giả nghiên cứu, nhưng chưa đầy đủ Theo nghiên cứu của nhóm nhà khoa học đến từ Đại học Tohoku, Nhật Bản trên mô hình thực nghiệm chuột được gây béo phì bằng chế độ ăn đặc biệt, sử dụng dịch chiết lá sen có tác dụng

Ngày đăng: 28/02/2023, 20:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w