1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích tình hình sử dụng thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh tăng huyết áp cho bệnh nhân nội trú tại khoa nội tim mạch bệnh viện quân y 103

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tình hình sử dụng thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh tăng huyết áp cho bệnh nhân nội trú tại khoa nội tim mạch bệnh viện quân y 103
Tác giả Nguyễn Cẩm Vân, Vũ Thị Hà, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Tấn Quang, Hoàng Xuân Cường, Đỗ Thế Khánh
Trường học Học viện Quân y
Chuyên ngành Nội Tim Mạch
Thể loại Nghiên cứu lâm sàng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 285,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG 140 TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM | SỐ 19+20/2020 Ngày nhận bài 11/09/2020 Ngày phản biện 06/10/2020 Ngày chấp nhận đăng 15/10/2020 Phân tích tình hình sử dụng thuốc lợi tiểu trong điề[.]

Trang 1

Ngày nhận bài: 11/09/2020

Ngày phản biện: 06/10/2020

Ngày chấp nhận đăng: 15/10/2020

Phân tích tình hình sử dụng thuốc lợi tiểu

trong điều trị bệnh tăng huyết áp cho bệnh nhân nội trú tại Khoa Nội Tim mạch -

Bệnh viện Quân y 103

Nguyễn Cẩm Vân, Vũ Thị Hà, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Tuấn Quang, Hoàng Xuân Cường, Đỗ Thế Khánh

Học viện Quân y TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến

việc kê đơn thuốc lợi tiểu trong điều trị tăng huyết

áp (THA) của bệnh nhân (BN) nội trú tại Khoa

Nội tim mạch - Bệnh viện Quân y 103 (BVQY 103)

Phân tích tình hình sử dụng thuốc lợi tiểu trong

điều trị THA của BN nội trú tại Khoa Nội tim

mạch, BVQY 103

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sử

dụng phương pháp nghiên cứu hồi cứu trên 478 hồ sơ

bệnh án (HSBA) của BN điều trị THA nội trú tại Khoa

Nội tim mạch - BVQY 103 đạt tiêu chuẩn lựa chọn

Kết quả: Số thuốc trung bình trong 1 bệnh án

(BA) là 9,3 thuốc, số thuốc lợi tiểu trung bình trong

1 BA là 1,39 thuốc 65,06% BA kê 1 thuốc lợi tiểu

Furosemid là hoạt chất được kê nhiều nhất (55,63%)

70,66% phác đồ điều trị là kiểu phối hợp 1 thuốc

lợi niệu quai - 1 thuốc đối lập với aldosteron BA sử

dụng 5 nhóm thuốc có tác dụng hạ áp phối hợp cùng

thuốc lợi tiểu, trong đó nhóm ức chế men chuyển

(ƯCMC) có tỷ lệ sử dụng cao nhất (33,68%)

Kết luận: Sử dụng thuốc lợi tiểu có phối hợp với

thuốc hạ áp trong điều trị bệnh THA cho BN nội

trú tại Khoa Nội tim mạch - BVQY103 đã cho kết

quả điều trị tích cực Đây là kết quả của việc phối

hợp thuốc hợp lý trong phác đồ điều trị

Từ khóa: Tăng huyết áp, thuốc lợi tiểu, Bệnh

viện Quân y 103

ĐẶT VẤN ĐỀ

THA là bệnh lý thường gặp nhất trong các bệnh

lý tim mạch Các số liệu nghiên cứu gần đây cho thấy, người có huyết áp bình thường ở tuổi 55, sẽ có 90% nguy cơ phát triển tăng huyết áp trong tương lai [1] Tại Việt Nam, tần suất THA gia tăng trong những năm trở lại đây, tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp ở cộng đồng năm 1998 là 16,09% [2], năm 2001 - 2002 là 16,32% [3], độ tuổi từ 18 - 69 tuổi tại 63 tỉnh/thành phố mắc THA là 18,9% [4] Trong nhiều năm qua, các nhóm thuốc chống THA đã được phát minh và

sử dụng, trong đó có sự phối hợp của nhiều nhóm thuốc với nhau Thuốc lợi tiểu là một trong những nhóm được kê đơn hàng đầu trong phối hợp để điều trị bệnh THA, nhưng cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về tình hình sử dụng thuốc này trong điều trị bệnh THA tại Khoa Nội tim mạch - BVQY 103,

do đó nghiên cứu đã được tiến hành

ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

HSBA của BN bị bệnh THA được theo dõi và điều trị nội trú tại Khoa Nội Tim mạch/BVQY 103

Trang 2

từ 1/1/2019 đến 31/12/2019 với các tiêu chuẩn

lựa chọn mẫu nghiên cứu và loại trừ sau:

Tiêu chuẩn lựa chọn: HSBA của BN được chẩn

đoán mắc bệnh THA có sử dụng thuốc lợi tiểu và

điều trị THA là bệnh chính, điều trị nội trú tại Khoa

Nội tim mạch liên tục tối thiểu 4 ngày, đã ra viện và

có kết luận của bác sĩ

Tiêu chuẩn loại trừ: HSBA điều trị THA nhưng

không dùng thuốc lợi tiểu, thời gian điều trị bị gián

đoạn Loại trừ những HSBA của BN không tuân thủ

điều trị: tự ý xuất viện, tự ý quay lại viện, thời gian nằm

viện dưới 4 ngày, BN có bệnh THA nhưng chuyển

từ khoa khác sang HSBA của những BN được chẩn

đoán có mắc bệnh THA mắc các bệnh kèm khác

nhưng việc điều trị THA không phải là bệnh chính

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp hồi cứu trên tất cả các

HSBA của những BN THA đang điều trị nội trú, có

chỉ định dùng thuốc lợi tiểu tại Khoa Nội tim mạch

- BVQY 103 từ 1/1/2019 đến 31/12/2019 Theo

các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ, đã thu thập được

478 HSBA đạt yêu cầu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến việc kê đơn

- Về giới: không có sự chênh lệch lớn về giới tính

ở các BN trong nghiên cứu, có 205 BN nam, chiếm 42,89%; 273 BN nữ, chiếm 57,11%

- Về tuổi: Độ tuổi của BN dao động từ 41-100 tuổi, trong đó độ tuổi từ 71- 80 và 81-90 có tỷ lệ lớn nhất (lần lượt là 144 BN, 30,13% và 131 BN, 27,4%), độ tuổi dưới 41 có tỷ lệ thấp nhất (12 BN, 2,51%)

- Về tiền sử bệnh THA: trong số các BN nghiên cứu, BN có tiền sử THA chiếm tỷ lệ cao nhất (76,36%), không rõ tiền sử THA thấp nhất (5,02%)

- Về mức độ THA của BN: BN mắc THA độ

2 và 3 chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 44,56% và 40,59% Thấp nhất là BN chỉ THA tâm thu đơn độc, với 21 BN (4,40%)

- Về cơ cấu bệnh, triệu chứng mắc kèm: có sự đa dạng và phân bố không đồng đều Nhóm bbệnh lý

về tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất (44,72%), thấp nhất là nhóm bệnh khác (2,37%)

Bảng 1 Đặc điểm cơ cấu bệnh và triệu chứng mắc kèm

Bệnh thuộc yếu tố nguy cơ

Bệnh tổn thương cơ quan đích

Tim

(502 lượt, 44,72%)

Não

(164 lượt, 15,58%)

Trang 3

Thận

(120 lượt, 11,40%)

Phổi

(56 lượt, 5,32%)

- Về thời gian điều trị: Các BN trong NC có thời gian điều trị từ 4-40 ngày, trong đó tỷ lệ số ngày điều trị

từ 5-9 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất, dao động từ 40-60 BN

Phân tích tình hình sử dụng thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh THA cho BN nội trú tại Khoa Nội tim mạch - BVQY 103

Số thuốc trung bình trong một bệnh án

Bảng 2 Số thuốc trong một bệnh án

Trang 4

BA kê 22 thuốc 3 0,63 66

Số thuốc trung bình trong một bệnh án là:

Tổng số thuốc/ Tổng số BA = 4446/478 = 9,3 (thuốc)

Nhận xét: Số thuốc trung bình trong một BA của bệnh nhân nội trú điều trị THA có sử dụng thuốc lợi

tiểu là 9,3 thuốc BA kê 9 thuốc có tỷ lệ cao nhất (12,76%)

Số thuốc lợi tiểu trung bình trong một bệnh án

Bảng 3 Số thuốc lợi tiểu trong một bệnh án

Số thuốc lợi tiểu trung bình trong một bệnh án là:

Tổng số lươt kê/ Tổng số BA = 1,39 (thuốc)

Nhận xét: Phác đồ điều trị THA thường rất phức tạp, tùy thuộc mức độ THA để đưa ra phác đồ điều

trị phù hợp từ 1-3 thuốc lợi tiểu Số thuốc lợi tiểu trung bình được kê trong BA là 1,39 thuốc, trong đó BA

kê 1 thuốc lợi tiểu chiếm tỷ lệ lớn nhất (65,06%), thường dùng ở giai đoạn THA độ 1 và kết hợp với thuốc nhóm khác như nhóm hạ áp BA kê 3 thuốc lợi tiểu chiếm tỷ lệ ít nhất (3,77%) Các thuốc lợi tiểu được kê trong BA được thống kê như sau:

Bảng 4 Các thuốc lợi tiểu được kê trong bệnh án

(335 lượt, 50,53%)

(186 lượt, 28,06%)

Nhận xét: Có 4 hoạt chất lợi tiểu được kê trong 478 HSBA, trong đó furosemid có tỷ lệ nhiều nhất là

50,53% chủ yếu ở dạng tiêm và acetazolamid có tỷ lệ thấp nhất là 0,75%

Các cách phối hợp thuốc lợi tiểu

Việc sử dụng 2 hoặc 3 thuốc lợi tiểu trong 1 phác đồ điều trị được phân chia thành từng cặp phối hợp theo hoạt chất như sau:

Trang 5

Bảng 5 Các cách phối hợp các thuốc lợi tiểu theo hoạt chất

Cặp 2 thuốc lợi tiểu phối hợp

1 Furosemid - Spironolacton 1 thuốc lợi niệu quai - 1 thuốc đối lập với

2 Furosemid - Hydroclorothiazid 1 thuốc lợi niệu quai - 1 thuốc nhóm thiazid 26 15,57

3 Spironolacton - Hydroclorothiazid 1 thuốc nhóm thiazid - 1 thuốc đối lập với

Cặp 3 thuốc lợi tiểu phối hợp

1 Furosemid - Hydroclorothiazid -

Acetazolamid

1 thuốc lợi niệu quai - 1 thuốc ức chế cacbonic anhydrase - 1 thuốc nhóm thiazid 5 2,99

2 Furosemid - Hydroclorothiazid -

Spironolacton

1 thuốc lợi niệu quai - 1 thuốc nhóm thiazid

- 1 thuốc đối lập với aldosteron 13 7,79

Nhận xét: Trong 167 BA kê phối hợp 2 hoặc 3

thuốc lợi tiểu có 3 cặp phối hợp 2 thuốc và 2 cặp

phối hợp 3 thuốc theo cơ chế tác dụng Trong đó,

cặp phối hợp 2 lợi tiểu Furosemid - Spironolacton (1

thuốc lợi niệu quai - 1 thuốc đối lập với aldosteron)

chiếm tỷ lệ cao nhất (70,66%), phối hợp 1 thuốc

lợi niệu quai - 1 thuốc ức chế cacbonic anhydrase

- 1 thuốc nhóm thiazid và phối hợp 1 thuốc nhóm

thiazid - 1 thuốc đối lập với aldosteron có tỷ lệ thấp

nhất, chỉ chiếm 2,99%)

Furosemid là hoạt chất được kê nhiều nhất

(50,33%), xuất hiện hầu hết trong các cặp phối

hợp thuốc lợi tiểu, thuộc nhóm lợi tiểu quai có

tác dụng nhanh, mạnh, có hiệu quả ngay cả khi

độ lọc vi cầu thận thấp và gây giãn tĩnh mạch

Spironolacton chiếm tỷ lệ cao thứ 2 (28,06%),

thuộc nhóm lợi tiểu giữ kali nên dùng để phối hợp với lợi tiểu quai hoặc thiazid giúp ngăn ngừa rối loạn điện giải ở đa số BN suy tim, ức chế sự

xơ hóa cơ tim và giảm nguy cơ tiến triển của suy tim Acetazolamid được sử dụng ít nhất (0,75%), thuộc nhóm ức chế anhydrase carbonic là lợi tiểu tác dụng yếu Nhưng đã được sử dụng trên BN suy tim sung huyết không đáp ứng với lợi tiểu quai liều cao và với BN bị kiềm chuyển hóa Tuy nhiên chỉ dùng acetazolamid nếu đã dùng thiazid và lợi tiểu quai không hiệu quả

Phối hợp các nhóm thuốc hạ áp dùng cùng với thuốc lợi tiểu

Các nhóm thuốc làm hạ huyết áp dùng cùng thuốc lợi tiểu theo tác dụng dược lý được trình bày

ở bảng 6:

Bảng 6 Các nhóm thuốc hạ áp dùng cùng thuốc lợi tiểu

(247 thuốc; 25,15%)

(321 thuốc; 32,68%)

Trang 6

Nhận xét: THA là bệnh mạn tính, đa cơ chế, việc

phối hợp thêm các thuốc hạ áp sẽ làm làm tăng hiệu

quả điều trị bệnh Có 5 nhóm thuốc làm hạ huyết

áp phối hợp cùng với thuốc lợi tiểu, trong đó nhóm

ƯCMC có tỷ lệ sử dụng cao nhất (32,68%), được

chỉ định rộng rãi cho các trường hợp THA có các

bệnh mắc kèm như phì đại thất trái, ĐTĐ, rối loạn

lipid, suy tim, thận, đồng thời nhóm cũng có ít tác

dụng phụ nhất so với các nhóm khác Theo nhiều

thử nghiệm lâm sàng cũng như các khuyến cáo của

JNC, WHO hay Hội Tim mạch học Việt Nam thì

ƯCMC sử dụng được trong tất cả các trường hợp

có chỉ định bắt buộc [5], [6]

Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh

Qua tìm hiểu các HSBA, nhận thấy tỷ lệ BN

đỡ nhiều sau khi ra viện chiếm tỷ lệ cao nhất

(442/478 BN, chiếm 92,47%), chỉ có 2 BN khỏi

bệnh (0,42%) Kết quả này cho thấy việc sử dụng

thuốc đã cho những kết quả điều trị tích cực, vì đây

là bệnh lý mạn tính, về cơ bản chỉ có thể điều trị đến

khi ổn định là có thể xuất viện Tác dụng giảm và

ổn định huyết áp của quá trình điều trị tại khoa là

kết quả của việc dùng các thuốc phối hợp với các

phương pháp chữa bệnh hợp lý Kết quả này cũng

tương đồng với kết quả nghiên cứu của Đặng Thị

Thu Trang và cộng sự với 78,5% BN đỡ nhiều [7]

KẾT LUẬN

Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến việc kê đơn

- Về giới: không có sự chênh lệch lớn ở các BN

trong nghiên cứu

- Về tuổi: Độ tuổi của BN dao động từ 41-100 tuổi, trong đó độ tuổi từ 71- 80 và 81-90 có tỷ lệ lớn nhất, độ tuổi dưới 41 có tỷ lệ thấp nhất

- Về tiền sử bệnh THA: BN có tiền sử THA chiếm tỷ lệ cao nhất (76,36%), không rõ tiền sử THA thấp nhất (5,02%)

- Về mức độ THA: BN mắc THA độ 2 và 3 chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 44,56% và 40,59% Thấp nhất là BN chỉ THA tâm thu đơn độc, chiếm 4,40%

- Về cơ cấu bệnh, triệu chứng mắc kèm: Nhóm bệnh lý về tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất (44,72%), thấp nhất là nhóm bệnh khác (2,37%)

- Về thời gian điều trị: Các BN có thời gian điều trị từ 4-40 ngày, trong đó tỷ lệ số ngày điều trị từ 5-9 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất

Phân tích tình hình sử dụng thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh THA cho BN nội trú tại Khoa Nội tim mạch - BVQY 103

- Số thuốc trung bình trong 1BA là 9,3 thuốc, trong đó số thuốc lợi tiểu trung bình trong 1 BA là 1,39 thuốc

- Có 311 BA (chiếm 65,06%) kê 1 thuốc lợi tiểu

- Furosemid là hoạt chất được kê nhiều nhất (55,63%), thấp nhất là acetazolamide (0,75%)

- Có 167/478 BA có sự phối hợp từ 2 - 3 thuốc lợi tiểu, trong đó kiểu phối hợp 1 thuốc lợi niệu quai

- 1 thuốc đối lập với aldosteron có tỷ lệ cao nhất, đạt 70,66%

3 Ức chế thụ thể AT1

(180 thuốc; 18,33%)

4 Chẹn beta giao cảm

(99 thuốc; 10,08%)

5 Tác động lên hệ giao cảm TW (135

thuốc; 13,74%)

Trang 7

- BA sử dụng 5 nhóm thuốc có tác dụng hạ huyết áp phối hợp cùng thuốc lợi tiểu, trong đó nhóm ƯCMC có tỷ lệ sử dụng cao nhất (33,68%), nhóm chẹn beta giao cảm có tỷ lệ sử dụng thấp nhất (10,08%)

SUMMARY

Objective: To investigate a number of factors influencing the prescribing diuretics for hypertension in

inpatients at AM2 Department of Military Hospital 103 Analyzing the use of diuretics in the treatment of hypertension of inpatients at the Department of AM2

Subjects and methods: Using retrospective research method on 478 medical records at AM2

department meeting selection criteria

Results: The average number of drugs in 1 medical record was 9.3 drugs, the average number of diuretics

in a medical record was 1.39 drugs 65.06% of the medical records prescribed 1 diuretic Furosemid is the most prescribed active ingredient (55.63%) 70.66% of the treatment regimen is a combination of 1 loop diuretic - 1 drug versus aldosteron The medical record used 5 groups of drugs with antihypertensive effects

in combination with diuretics, in which the ACE inhibitor group had the highest rate of use (33.68%)

Conclusion: The use of diuretics in combination with antihypertensive drugs in the treatment of

hypertension in inpatients at the AM2 department has shown positive treatment results This is the result

of an appropriate combination of drugs in the treatment regimen

Keywords: Hypertension, diuretics, 103 military hospital.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vasan R.S., et al, clinical features and prognosis of diastolic heart failure an epidemiologic perspective J

Am Col Cardiol 1995; 26: 1565:1574

2 Phạm Gia Khải và cộng sự (2000), Đặc điểm dịch tễ học bệnh tăng huyết áp tại Hà Nội, Kỷ yếu nghiên cứu

khoa học, Đại hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam lần thứ VIII, tr.258-282

3 Phạm Gia Khải và cộng sự (2003), Tần suất tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ở các tỉnh phía bắc Việt

Nam, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học, Đại hội Tim mạch miền trung mở rộng lần II, tr.30-31.

4 Nguyễn Văn Thọ (2012), Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa

khoa huyện Lương Tài - Bắc Ninh, Luận văn Dược sỹ chuyên khoa I, Trường Đại học Dược Hà Nội, Hà Nội,

tr.60-61

5 The National High Blood Pressure Education Program (2003), The seventh report of the joint national

committee on prevention, detection, evaluation, and treatment of high blood pressure, NIH Publication, The

United States of America, pp.8-64

6 European Society of Hypertension and European Society of Cardiology (2007), “2007 Guidelines

for the management of arterial hypertension”, Journal of Hypertension (25), pp 1105-1160.

7 Đặng Thị Thu Trang và cộng sự (2013), Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại phòng

khám tư vấn, kiểm soát THA và bệnh lý tim mạch do THA - Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, Tạp chí Y học

thực hành

Ngày đăng: 28/02/2023, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w