NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG 27TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM | SỐ 19+20/20200 Nghiên cứu mối liên quan các tiêu chuẩn điện tâm đồ chẩn đoán phì đại thất trái với các chỉ số nhân trắc ở bệnh nhâ[.]
Trang 1Nghiên cứu mối liên quan các tiêu chuẩn điện tâm đồ chẩn đoán phì đại thất trái với các chỉ số nhân trắc ở bệnh nhân tăng huyết áp
Ngày nhận bài: 08/10/2020 Ngày phản biện: 12/11/2020 Ngày chấp nhận đăng: 20/11/2020
Trần Hữu Anh Tú, Huỳnh Văn Minh
Trường Đại học Y Dược Huế
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên
quan các tiêu chuẩn dày thất trái với các chỉ số nhân trắc ở bệnh nhân THA có tăng trọng- béo phì và tạo ra các giá trị phân vùng mới cho người béo phì
có thể giúp cải thiện hiệu suất chẩn đoán của ECG trong phân nhóm bệnh nhân tăng huyết áp
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô
tả cắt ngang ở 181 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát đến khám và điều trị nội trú tại Khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ 02/02/2019 đến 02/04/2020
Kết quả: Trong 181 bệnh nhân THA nhóm tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất là 50-75 tuổi (51,4%), nhóm tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là < 50 tuổi (12,7%) Độ tuổi ở nữ giới cao hơn nam giới và sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê (p<0.05) Các chỉ số nhân trắc đánh giá thể trạng như BMI, cân nặng, vòng bụng
có sự tương quan nghịch, khá chặt với giá trị các điện áp Sokolow-Lyon, Cornell, Peguero trên điện tâm đồ với p<0.01 So với bệnh nhân nhóm gầy và bình thường, bệnh nhân thừa cân và béo phì có sự suy giảm đáng kể về giá trị ECG trung bình đối với điện áp Sokolow-Lyon (27,21 ± 6,67 so với 26,07
± 9,94 so với 23,28 ± 7,66 mm, p<0.05), điện áp Cornell (20,58 ± 7,07 so với 18,27 ± 6,69 so với 15,64 ± 6,60 mm, p<0.05), điện áp Peguero (23,71
± 4,31 so với 21,27 ± 4,54 so với 19,56 ± 6,16 mm, p<0.05) Độ nhạy đối với các đối tượng béo phì so với đối tượng gầy và bình thường thấp hơn đáng kể với điện áp Sokolow-Lyon (33,3% so với 45,3%), điện áp Cornell (47,6% so với 50,9%), điện áp Peguero (66,7% so với 79,2%) Ở giới nam, điện tâm đồ có độ nhạy đạt từ 44,4%-70,4%, Peguero có
độ nhạy cao nhất (70,4%) Ở giới nữ, điện tâm đồ
có độ nhạy đạt từ 53,8%-70,8%, Cornell có độ nhạy cao nhất (70,8%)
Kết luận: Thừa cân béo phì làm giảm độ nhạy
của các tiêu chí ECG Sokolow Lyon, Cornell và Peguero Tiêu chuẩn Peguero, Cornell cung cấp độ nhạy cao cho các đối tượng thừa cân, béo phì
Từ khóa: Sokolow-Lyon, Cornell, Peguero, chỉ
số nhân trắc, phì đại thất trái
ĐẶT VẤN ĐỀ Phì đại thất trái là một yếu tố nguy cơ độc lập với trị số huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác Phì đại thất trái làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành lên 3 lần, suy tim lên hơn 13 lần, tai biến mạch máu não lên khoảng 6 lần và các nguy cơ động mạch ngoại biên, đột tử cũng 4-5 lần so với người không
bị phì đại thất trái [1] Do đó, phát hiện sớm phì đại thất trái trên bệnh nhân tăng huyết áp đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm biến chứng tim
Trang 2mạch và tử vong [11] Tại Việt Nam béo phì hiện
nay có xu hướng gia tăng nhanh chóng song song
với các bệnh lý chuyển hóa trong những thập niên
tới Các tiêu chuẩn chẩn đoán dày thất trái trên điện
tâm đồ thường bị ảnh hưởng của các chỉ số nhân
trắc ở bệnh nhân tăng trọng béo phì Béo phì có liên
quan đến sự gia tăng độ dày thành cơ thất trái, khối
lượng cơ thất trái và tỷ lệ mắc dày thất trái trên siêu
âm tim, không phụ thuộc vào tác động của huyết áp
[7],[9],[12],[17] Ngược lại, béo phì đã được chứng
minh là làm giảm độ nhạy của các tiêu chí ECG chẩn
đoán dày thất trái, có lẽ là do ảnh hưởng khoảng cách
từ các điện cực đến thất trái tăng và suy giảm biên
độ QRS bằng mô xen kẽ [4],[10],[18],[19],[20],
[22],[23] Nhằm mục đích đánh giá mối liên quan
các tiêu chuẩn dày thất trái với các chỉ số nhân trắc ở
bệnh nhân THA có tăng trọng- béo phì và tạo ra các
giá trị phân vùng mới cho người béo phì có thể giúp
cải thiện hiệu suất chẩn đoán của ECG trong phân
nhóm bệnh nhân tăng huyết áp, chúng tôi thực hiện
đề tài :"Nghiên cứu mối liên quan các tiêu chuẩn
điện tâm đồ chẩn đoán dày thất trái với các chỉ số
nhân trắc ở bệnh nhân THA"
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: 181 bệnh nhân tăng
huyết áp nguyên phát đến khám và điều trị nội trú
tại Khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện Trường Đại học
Y Dược Huế
Tiêu chuẩn loại trừ: Chưa đánh giá trên bệnh
nhân có block nhánh trái hoặc phải, có kèm theo
phì đại thất phải, nhịp tự thất và bệnh cơ tim, van
tim, bệnh tim bẩm sinh khác
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ tháng 2
năm 2019 đến tháng 4 năm 2020, tại Khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện Đại học Y Dược Huế
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
Mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu
thuận tiện
Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng mẫu
bệnh án nghiên cứu thống nhất, ghi đầy đủ các mục lâm sàng, cận lâm sàng Điện tâm đồ thực hiện trên máy 6 cần của hãng Nihon Kohden Nhật Bản, siêu
âm Doppler tim trên máy Philips Affiniti 70G
Một số định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán
Phân độ tăng huyết áp: theo Hội Tim mạch học Việt Nam 2018 [2]
Khối lượng cơ thất trái: theo Hội Siêu âm Tim Hoa Kỳ [5]: LVM = 0,8(1,04([LVIDd + PWTd + IVSd]³ - [LVIDd]³)) + 0,6 g Chỉ số khối cơ thất trái: LVMI (g/m²) = LVM (g) / BSA (m²) Theo tiêu chuẩn mới nhất của ASE (2015), đánh giá phì đại thất trái khi LVMI > 115 (g/m²) đối với nam, và LVMI > 95 (g/m²) đối với nữ [5]
Các chỉ số ĐTĐ khảo sát gồm [8],[16]: Chỉ số Sokolow-Lyon: (SV1 + RV5 hoặc RV6) ≥ 35mm
Chỉ số Cornell: (RavL + SV3) ≥ 28 mm (nam)
(RavL + SV3) ≥ 20 mm (nữ) Chỉ số Peguero: (SD + SV4) ≥ 28mm (nam) (SD + SV4) ≥ 23mm (nữ)
Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng
phần mềm SPSS 20
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Tuổi 67,15 ± 15,64 62,36 ± 18,08 70,18 ± 13,08 <0.01
Chiều cao (cm) 157,48 ± 7,59 163,49 ± 6.50 153,69 ± 5,50 <0.01
Cân nặng (kg) 54,47 ± 10,49 59,33 ± 8,95 51,41 ± 10,27 <0.01
Trang 3BMI (kg/m2) 21,91 ± 3,73 22,21 ± 3,24 21,72 ± 4,00 >0.05 Vòng bụng (cm) 82,50 ± 4,54 82,74 ± 3,88 82,35 ± 4,92 >0.05 HATT 164,23 ± 29,87 164,57 ± 29,46 164,01 ± 30,26 >0.05 HATTr 88,07 ± 13,08 88,71 ± 13,69 87,66 ± 12,72 >0.05
Nhận xét: Chỉ số chiều cao và cân nặng ở nam giới cao hơn nữ giới, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
(p<0.05) Chỉ số BMI và vòng bụng không có sự khác biệt với p>0.05
Bảng 2 Đặc điểm ECG trên đối tượng nghiên cứu theo các nhóm BMI
Bình thường (n=115)
Thừa cân (n=30)
Béo phì
Tần số (lần/phút) 83,23 ± 15,55 80,83 ± 11,14 77,44 ± 13,59 >0.05 Sokolow-Lyon 27,21 ± 6,76 26,07 ± 9,94 23,28 ± 7,66 <0.01 Cornell 20,58 ± 7,07 18,27 ± 6,69 15,64 ± 6,60 <0.01 Peguero 23,71 ± 4,34 21,27 ± 4,54 19,56 ± 6,16 <0.01
Nhận xét: Giá trị các chỉ số điện tâm đồ Sokolow-Lyon, Cornell, Peguero đều giảm dần theo các nhóm
BMI với p<0.05
Mối tương quan của các chỉ số điện tâm đồ
Bảng 3 Hệ số tương quan Pearson giữa chỉ số nhân trắc và các chỉ số điện tâm đồ
Chiều cao 0,091 >0.05 0,008 >0.05 0,104 >0.05 Cân nặng -0,205 <0.01 -0,305 <0.01 -0,29 <0.01 BMI -0,289 <0.01 -0,361 <0.01 -0,397 <0.01 Vòng bụng -0,254 <0.01 -0,333 <0.01 -0,415 <0.01
Nhận xét: Có sự tương quan nghịch, giữa BMI, cân nặng,vòng bụng với các tiêu chuẩn Sokolow-Lyon,
Cornell, Peguero trên điện tâm đồ
Giá trị chẩn đoán phì đại thất trái của các chỉ số điện tâm đồ ở các đối tượng tăng huyết áp
Bảng 5 Độ nhạy, độ đặc hiệu, diện tích đường cong ROC của các chỉ số điện tim ở nam
Trang 4Nhận xét: Ở giới nam, điện tâm đồ có độ nhạy 44,4%-70,4%, Peguero có độ nhạy cao nhất (70,4%),
Cornell có độ nhạy thấp nhất (44,4%) Độ đặc hiệu của điện tâm đồ 76,6%-83,7%, cao nhất là tiêu chuẩn
Peguero (83,7%), Sokolow-Lyon thấp nhất (76,6%)
Bảng 6 Độ nhạy, độ đặc hiệu, diện tích đường cong ROC của các chỉ số điện tim ở nữ
Nhận xét: Ở giới nữ, điện tâm đồ có độ nhạy 53,8%-70,8%, Cornell có độ nhạy cao nhất (70,8%),
Sokolow-Lyon có độ nhạy thấp nhất (53,8%) Độ đặc hiệu của điện tâm đồ đạt từ 63%-84,8%, cao nhất là
tiêu chuẩn Sokolow-Lyon (84,8%), Cornell thấp nhất (63%)
Độ nhạy, độ đặc hiệu, điểm cắt, diện tích đường cong ROC của các chỉ số điện tim theo các nhóm BMI
Bảng 7 Độ nhạy, độ đặc hiệu, diện tích đường cong ROC của các chỉ số điện tim theo các nhóm BMI
Sokolow-Lyon
Cornell
Peguero
Nhận xét: Độ nhạy của nhóm bình thường từ
45,3%-79,2%, nhóm thừa cân từ 38,9%-77,8%,
nhóm béo phì từ 33,3%-66,7% Peguero có độ nhạy
cao nhất cả 3 nhóm BMI lần lượt là 79,2 %; 77,8
%; 66,7 % Sokolow-Lyon có độ nhạy thấp nhất cả 3
nhóm BMI lần lượt là 45,3 %; 38,9 %; 33,3 %, có ưu
thế nhất với độ đặc hiệu cao nhất cả 3 nhóm BMI
BÀN LUẬN
Đặc điểm trên ECG
So với bệnh nhân nhóm bình thường, bệnh nhân thừa cân và béo phì có sự suy giảm đáng kể về giá trị ECG trung bình đối với điện áp Sokolow-Lyon (27,21 ± 6,67 so với 26,07 ± 9,94 so với 23,28 ± 7,66 mm, p<0.05), điện áp Cornell (20,58 ± 7,07 so với 18,27 ± 6,69 so với 15,64 ± 6,60 mm, p<0.05), điện áp Peguero (23,71 ± 4,31 so với 21,27 ± 4,54
so với 19,56 ± 6,16 mm, p<0.05) Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu JCL Rodrigues và các cộng sự (2016) khi nghiên cứu
Trang 5trên 128 bệnh nhân tăng huyết áp, béo phì làm giảm đáng kể độ nhạy ECG, vì sự suy giảm đáng kể về giá trị ECG trung bình đối với điện áp Cornell, điện
áp Sokolow-Lyon [15] Tỷ lệ giảm của các tiêu chí điện áp ECG đã được quy cho các hiệu ứng giảm dần của điện cực,của biên độ QRS trước bằng mô xen kẽ Horton et al14 đã chứng minh rằng điện áp
có liên quan nghịch đảo với bình phương khoảng cách từ thành ngực trước đến cơ thất trái và cho thấy khoảng cách này tương quan trực tiếp với diện tích
bề mặt cơ thể (chỉ số BMI) [13]
Mối tương quan của các chỉ số điện tâm đồ
Dựa vào bảng 4, các chỉ số nhân trắc đánh giá thể trạng như BMI, cân nặng, vòng bụng có sự tương quan nghịch, khá chặt với các tiêu chuẩn Sokolow-Lyon, Cornell, Peguero trên điện tâm đồ với p<0.01
Giá trị chẩn đoán phì đại thất trái của các chỉ số điện tâm đồ ở các đối tượng tăng huyết áp
Giá trị chẩn đoán phì đại thất trái của các chỉ số điện tim theo giới.
Từ bảng 5,6 ở giới nam, Peguero có ưu thế nhất với độ nhạy cao nhất (70,4%), kế tiếp là Sokolow-Lyon (55,6%) và độ đặc hiệu cao nhất là Peguero (83,7%) Ở giới nữ, Cornell có độ nhạy cao nhất (70,8%) và độ đặc hiệu cao nhất là tiêu chuẩn Sokolow-Lyon (84,8%) Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Dương Thanh Liêm tiêu chuẩn Sokolow-Lyon có độ nhạy cao ở nam 43,7% nhưng lại rất thấp ở nữ Ngược lại tiêu chuẩn Cornell lại có độ nhạy rất cao ở nữ 64,3%
nhưng ở nam giới chỉ 31,2% [3] Kết quả nghiên cứu của tôi tương tự như kết quả nghiên cứu SARA của Vivencio Barrios, Carlos Escobar [6], tác giả nghiên cứu sự khác nhau về giới trong chẩn đoán và điều trị PĐTT ở 264 bệnh nhân THA bằng các tiêu chuẩn điện tâm đồ khác nhau, tác giả nhận thấy tiêu chuẩn Cornell có ưu điểm hơn trong chẩn đoán PĐTT ở nữ trong khi tiêu chuẩn Sokolow – Lyon
có ưu điểm hơn ở giới nam Ingrid Os, Veronica
Franco nghiên cứu ảnh hưởng của Losartan ở 4963 bệnh nhân nữ THA và PĐTT rút ra từ nghiên cứu LIFE sử dụng Losartan giảm những danh giới tổn thương ở bệnh nhân THA [14] Tác giả đã thấy
có sự khác biệt về các tiêu chuẩn Sokolow – Lyon, Cornell trong chẩn đoán PĐTT ở 2 giới, Sokolow – Lyon có giá trị cao hơn ở nam trong khi Cornell có giá trị cao hơn ở nữ, sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với P < 0,01
Giá trị chẩn đoán phì đại thất trái của các chỉ số điện tim theo các nhóm BMI.
Từ bảng 7 cho thấy ảnh hưởng của thể trạng làm
độ nhạy của các tiêu chuẩn điện tâm đồ giảm đáng
kể Peguero có độ nhạy cao nhất cả 3 nhóm BMI lần lượt là 79,2 %; 77,8 %; 66,7 % Sokolow-Lyon
có độ đặc hiệu cao nhất cả 3 nhóm BMI Cornell có
độ nhạy khá cao ở nhóm thừa cân 55,6 % Abergel (1996) nghiên cứu anh hưởng béo phì đến điện tâm đồ trong chẩn đoán PĐTT ở 380 bệnh nhân THA [4], tác giả nhận thấy tiêu chuẩn Cornell có liên quan với chỉ số khối lượng cơ thất trái tốt hơn tiêu chuẩn Sokolow – Lyon, và ở bệnh nhân thừa cân, béo phì thì tiêu chuẩn Sokolow – Lyon có độ nhạy thấp hơn nhóm cân nặng bình thường trong khi tiêu chuẩn Cornell thì không có sự khác biệt giữa hai nhóm Peter M Okin (2000) về ảnh hưởng của béo phì đến điện tâm đồ chẩn đoán PĐTT ở bệnh nhân THA [21], là một phần của nghiên cứu LIFE, Nghiên cứu với 9194 bệnh nhân trong đó
có 1573 bệnh nhân béo phì, 2519 bệnh nhân thừa cân, so sánh với nhóm cân nặng bình thường, tác giả bệnh nhận thấy ở nhân thừa cân và béo phì tiêu chuẩn Sokolow – Lyon có giá trị thấp hơn, ngược lại tiêu chuẩn Cornell có giá trị cao hơn ở nhóm bệnh nhân có thừa cân, béo phì JCL Rodrigues (2016) cho rằng béo phì làm giảm đáng kể độ nhạy ECG,
vì sự suy giảm đáng kể về giá trị ECG trung bình đối với điện áp Sokolow-Lyon, Cornell kết quả này tương tự như kết quả trong nghiên cứu của tôi Sự
Trang 6gia tăng liên quan đến béo phì trong giá trị trung
bình của điện áp Cornell dẫn đến tăng độ nhạy
trong nghiên cứu M.Okin được giải thích bằng sự
gia tăng liên quan đến béo phì ở chỉ số khối cơ thất
trái (LVM) JCL Rodrigues đã chứng minh một xu
hướng không đáng kể đối với chỉ số khối cơ thất
trái (LVM) có chỉ số trung bình cao hơn ở những
người béo phì có phì đại thất trái so với những người
không béo phì có phì đại thất trái (108,3 ± 21,4 so
với 102,0 ± 18,1, p = 0,3047) Mặt khác, tăng điện
áp Cornel do nguyên nhân tăng khối lượng cơ thất
trái chiếm ưu thế hơn so với khoảng cách điện cực
tăng ở một số người béo phì vẫn chưa được làm rõ
Tuy nhiên, có sự đồng thuận giữa kết quả của JCL
Rodrigues và kết quả của M.Okin rằng tiêu chuẩn
Cornell cung cấp độ nhạy cao cho các đối tượng
béo phì [15]
KẾT LUẬN Qua nghiên cứu điện tâm đồ trong chẩn đoán phì đại thất trái ở 181 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, qua kết quả thu được, chúng tôi rút ra kết luận:
1) Các chỉ số nhân trắc đánh giá thể trạng như BMI, cân nặng, vòng bụng có sự tương quan nghịch, khá chặc chẽ với giá trị các điện áp Sokolow-Lyon, Cornell, Peguero trên điện tâm đồ với p<0.01
2) Trên đối tượng chung: Peguero có độ nhạy cao nhất 67,4%, độ đặc hiệu cao nhất 83,7% với điểm cắt 25 mm ở nam, 23 mm ở nữ, diện tích đường cong ROC 0,719 Theo giới: Peguero có độ nhạy cao nhất 70,4 % ở nam, Cornel có độ nhạy cao nhất 70,8% ở
nữ Theo BMI: Thừa cân béo phì làm giảm độ nhạy của các tiêu chí ECG Sokolow Lyon, Cornell và Peguero Tiêu chuẩn Peguero, Cornell cung cấp độ nhạy cao cho các đối tượng thừa cân, béo phì
ABSTRACT
Relationships between electrocardiographic criteria for the diagnosis of left ventricular hypertropy
and anthropometric indexes in hypertensive patients
Objective: The study aimed to determine relationships between electrocardiographic left ventricular
hypertrophy and anthropometric indexes in hypertensive patients The application of obesity-specific
partition values may help improve the diagnostic performance of the ECG in this important subgroup of
patients with hypertension
Materials and Methods: A cross-sectional study of 181 patients diagnosed primary hypertension was
carried out at Hue University of Medicine and Pharmacy from February 2, 2019 to April 2, 2020
Results: Among 181 patients diagnosed with hypertension, 50-75 years group accounted for the highest
proportion (51.4%), the lowest percentage was <50 years group (12.7%) The female age was higher than
males, and this difference is statistically significant (p <0.05) The anthropometric indexes evaluated such
as BMI, weight, waist circumference showed a negative correlation with the Sokolow-Lyon voltage or
Cornell voltage or Peguero voltage, p <0.01 Compared with normal-weight patients, overweight and obese
patients had a considerable attenuation in mean ECG values for Sokolow-Lyon voltage (27.21 ± 6.67 versus
26.07 ± 9.94 versus 23.28 ± 7.66 mm, p <0.05), Cornell voltage (20.58 ± 7.07 versus 18.27 ± 6.69 versus
15.64 ± 6.60 mm, p <0.05), Peguero voltage (23.71 ± 4.31 versus 21.27 ± 4.54 versus 19.56 ± 6.16 mm, p
<0.05) The sensitivities for obese patients compared with normal-weight patients was significantly lower
for Sokolow-Lyon voltage (33.3% versus 45.3%), Cornell voltage (47.6% versus 50.9%), Peguero voltage
(66.7% versus 79.2%) While Peguero voltage showed the highest sensitivity (70.4%) in male, the highest
sensitivity (70,8%) was achieved by Cornell voltage in female
Trang 7Conclusion: Lower sensitivity compared with specificity was demonstrated for all the ECG criteria,
with further inferior sensitivities for obese subjects for the majority of ECG criteria investigated Obesity attenuates the ECG criteria values in the presence of left ventricular hypertrophy The Peguero voltage and Cornell voltage provide high sensitivities for overweight and obese subjects
Keywords: Sokolow-Lyon, Cornell, Peguero, anthropometric indexes, left ventricular hypertrophy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Châu Ngọc Hoa (2009) Tăng huyết áp; Nguyên nhân, sinh bệnh học và biến chứng Đặng Vạn Phước,
Bệnh học Nội khoa, Nhà xuất bản Y học, tr 43-61
2 Hội Tim mạch học Việt Nam (2018), “Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp 2018”,
[Internet], lấy từ URL: http://vnha.org.vn/data/Khuyen-Cao-THA-2018.pdf
3 Dương Thanh Liêm, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Trọng Hiếu (2011), “Nghiên cứu giá trị của điện tâm
đồ trong chẩn đoán phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có đối chiếu với siêu âm tim”, Y học thực hành, số 760(4), tr 29-31
4 Abergel E., Tase M., Menard J., Chatellier G (1996), “Influence of obesity on the diagnostic value
of electrocardiographic criteria for detecting left ventricular hypertrophy”, Am J Cardiol, 77, pp 739–744.
5 ASE (2015), “Recommendations for cardiac chamber quantification by echocardiography in adults:
An update from American Society of Echocardiography and the European Association of Cardiovascular Imaging”, J Am Soc Echocardiogr, 28, pp 1-39.
6 Barrios V., Escobar C., Calderon A., et al (2010) “Gender differences in the diagnosis and treatment
of left ventricular hypertrophy detected by different electrocardiographic criteria Findings from the SARA study”, Heart Vessels, 25 (1), pp 51-56.
7 Bella J.N., Devereux R.B., Roman M.J., O’Grady M.J., Welty T.K., Lee E.T., Fabsitz R.R., Howard B.V., for the Strong Heart Study Investigators (1998), “Relations of left ventricular mass to fat-free and
adipose body mass: the Strong Heart
8 Buchner S., Debl K., Haimerl J., et al (2009), “Electrocardiographic diagnosis of left ventricular
hypertrophy in aortic valve disease: evaluation of ECG criteria by cardiovascular magnetic resonance”,
Journal of cardiovascular magnetic resonance, 11(18), pp 1-11
9 De Simone G., Devereux R.B., Roman M.J., Alderman M.H., Laragh J.H (1994), “Relation of
obesity and gender to left ventricular hypertrophy in normotensive and hypertensive adults”, Hypertension,
23, pp 600–606.
10 Devereux R.B., Phillips M.C., Casale P.N., Eisenberg R.R., Kligfield P Geometric (1983),
“determinants of electrocardiographic left ventricular hypertrophy”, Circulation, 67,pp 907–911.
11 Drazner M.H., Rame J.E., Marino E.K (2004), “Increased left ventricular mass is a risk factor for the
development of a depressed left ventricular ejection fraction within five years: the Cardiovascular Health Study”, J Am Coll Cardiol, 43(2207)
12 Hense H.W., Gneiting B., Muscholl M., Broeckel U., Kuch B., Doering A., Riegger G.A.J., Schunkert H (1998), “The associations of body size and body composition with left ventricular mass:
impacts for indexation in adults”, J Am Coll Cardiol, 32, pp 451–457.