1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất chè nguyên liệu búp tươi đạt tiêu chuẩn vietgap tại tây nguyên

7 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất chè nguyên liệu búp tươi đạt tiêu chuẩn VietGAP tại Tây Nguyên
Tác giả Nguyễn Văn Quảng
Trường học Trường Đại Học Tây Nguyên
Chuyên ngành Khoa Học Nông Nghiệp
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Kontum
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 575,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT CHÈ NGUYÊN LIỆU BÖP TƢƠI ĐẠT TIÊU CHUẨN VIETGAP TẠI TÂY NGUYÊN Nguyễn Văn Quảng và cs Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng I ĐẶT VẤN ĐỀ Tây[.]

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT CHÈ NGUYÊN LIỆU BÖP TƯƠI ĐẠT TIÊU CHUẨN VIETGAP TẠI TÂY NGUYÊN

Nguyễn Văn Quảng và cs Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tây Nguyên là một trong những vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt và là vùng có diện tích chè lớn nhất của cả nước tính đến nay đạt khoảng 25.391 ha, tập trung nhiều ở các tỉnh Lâm Đồng với diện tích chè toàn tỉnh năm 2015 là 21.354 ha và Gia Lai với diện tích là 880 ha (năm 2013) chủ yếu tập trung ở huyện Chư Pah và huyện Chư Prông Cây chè được xác định là một trong những cây trọng điểm, trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của vùng

Tuy nhiên, xuất khẩu chè của Việt Nam hiện nay chỉ chiếm khoảng 6-7% (tương đương 1.500-1.700 tấn/năm) thị phần của thế giới, do sản phẩm chè xuất khẩu của nước ta khó phát triển vào các thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản Lý giải cho điều này, nhiều nhà chuyên môn cho rằng sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam còn nhiều hạn chế như: chất lượng chưa cao, dư lượng nhiều độc tố vượt quá mức cho phép do lạm dụng thuốc trừ sâu bệnh và phân hóa học, nguồn nước tưới bị ô nhiễm

Để tăng sức cạnh tranh và vị thế của sản phẩm chè Việt Nam trên thị trường chè thế giới thì đòi hỏi chúng ta đi theo hướng sản xuất chè an toàn Hiện nay, quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi của Việt Nam (VietGAP) đã được ban hành Việc áp dụng VietGAP đối với ngành chè đã được triển khai từ nhiều năm qua, nhưng đến nay vẫn đạt tỷ lệ rất thấp, dưới 10% Tại tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Gia Lai cũng đã có một số mô hình sản xuất chè theo hướng VietGAP Tuy nhiên, khi triển khai đã gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì mô hình do chưa giải quyết được những vấn đề khoa học công nghệ có tính hệ thống trong sản xuất chè và đặc biệt là chi phí đầu vào cao, song giá bán chưa được cải thiện

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến năng suất và chất lượng chè nguyên liệu búp tươi

2.2 Nghiên cứu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu bệnh trên cây chè 2.3 Nghiên cứu áp dụng biện pháp tưới nước tiết kiệm cho giống chè Kim Tuyên, thời kỳ kinh doanh (8-10 năm tuổi),

2.4 So sánh hiệu quả của biện pháp thu hái chè búp tươi bằng máy với thu hái thủ công

2.5 Xây dựng mô hình sản xuất chè nguyên liệu búp tươi đạt tiêu chuẩn VietGAP III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến năng suất và chất lượng chè nguyên liệu búp tươi

3.1.1 Ảnh hưởng của một số chủng loại phân hữu cơ sinh học đến năng suất và chất lượng chè nguyên liệu búp tươi

Trang 2

Hình 1 Giống chè TB14 Hình 2 Giống chè Kim Tuyên Bảng 1 Ảnh hưởng của loại phân hữu cơ sinh học đến năng suất chè búp tươi Công thức thí nghiệm

(%HC+ N+P2O5+K2O)

Trung bình So với đ/c (%) Trung bình So với đ/c (%)

- Năng suất chè búp tươi của giống TB14 ở các công thức 2, 3 và 4 cao hơn từ 3,12-4,96% so với đối chứng, công thức 1 có năng suất thấp hơn 0,93% đối chứng

- Năng suất chè búp tươi của giống chè Kim Tuyên có sự chênh lệch khá lớn, tăng từ 1,90-8,14% so với đối chứng, công thức 3 và 4 có năng suất cao hơn so với đối chứng lần lượt 8,14% và 6,42%

- Ở tất cả các mẫu chè búp tươi đều không phát hiện hoặc có hàm lượng các kim loại nặng thấp hơn so với mức giới hạn cho phép theo quy định

Để xác định lượng phân hữu cơ sinh học phù hợp, chúng tôi chọn 2 loại phân hữu cơ sinh học có tác động tốt ở công thức 3 có hàm lượng 22,4%HC; 4%N; 3%P2O5

và 2%K2O; công thức 4 có hàm lượng 25%HC; 2%N; 3%P2O5 và 1%K2O

3.1.2 Liều lượng phân hữu cơ sinh học thích hợp và hiệu quả cho chè búp tươi

Năng suất chè búp tươi của giống chè TB14 ở các công thức có bón bổ sung phân hữu cơ sinh học tăng khá rõ ràng, đặc biệt ở công thức 3 và 4 mặc dù lượng phân

vô cơ giảm đi từ 15-30% nhưng năng suất tăng trên 20% so với đối chứng

Với giống chè Kim Tuyên năng suất tăng không nhiều giữa các công thức so với đối chứng Năng suất trung bình 3 năm tăng thấp nhất 1,65% (CT1) và cao nhất 8,12% (CT4), công thức 3 và 4 có lượng phân vô cơ giảm 15 - 30% nhưng năng suất chè không giảm mà vẫn tăng từ 5,54 - 8,12% so với đối chứng

Trang 3

Hình 3 Kiểm tra thí nghiệm tại Gia Lai

Bảng 2 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ sinh học đến năng suất chè búp tươi

Công thức thí nghiệm

(Phân HCSH-RAS)

Trung bình So với đ/c (%) Trung bình So với đ/c (%)

Các kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng không phát hiện arsen, thủy ngân và cadmi Năm 2015 hàm lượng thủy ngân ở công thức đối chứng <0,045 mg/kg

và thấp hơn so với mức giới hạn cho phép Hàm lượng chì phát hiện ở tất cả các công thức thí nghiệm trong năm 2014 và 2015, tuy nhiên hàm lượng này đều thấp hơn mức giới hạn cho phép theo quy định

Kết quả thí nghiệm liều lượng của 2 phân hữu cơ sinh học trên 2 giống chè cho

kết quả tương tự như nhau Công thức 3 và 4 với lượng phân hữu cơ sinh học 3.000 và

4.000 kg/ha cho năng suất và hiệu quả cao

3.2 Sử dụng thuốc bảo vệ thưc vật phòng trừ sâu bệnh trên cây chè

3.2.1 Hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học

Trên giống chè Kim Tuyên hầu hết cá c công thức đ ều có hiệu lực phòng trừ tăng dần từ 3 đến 7 ngày sau phun thuốc Hiệu lực thuốc đạt cao nhất sau 5 ngày phun thuốc, cao hơn 26,7% so với đối chứng trên giống chè Kim tuyên và 35,74% trên giống chè TB14 sau 3 ngày phun, đến 7 ngày sau phun hiệu lực của thuốc vẫn giữ ở mức cao hơn so với đối chứng 32,48 ở thí nghiệm trên giống TB14

Bảng 3 Hiệu lực của thuốc sinh học trừ bọ xít muỗi hại trên giống chè TB14

dùng

Hiệu lực so với đ/c sau phun (%)

Đối chứng: Chlorpyrifos Ethyl,

CT1: Emamectin Benzoate (Tasieu

Trang 4

CT2: Abamectin (Resgant 3.6EC) 160ml/ha 35,74 32,51 32,48 CT3: Emamectin Benzoate

CT4: Abamectin (Tungatin 1.8EC) 250ml/ha 16,45 22,42 16,88

Trên giống cả 2 giống chè Kim Tuyên và TB14 các công thức thí nghiệm hiệu lực đạt cao hơn so với đối chứng Công thức 2 sử dụng thuốc Resgant 3.6EC có hoạt chất là Abamectin trên cả 2 giống chè đều có hiệu lực cao nhất

3.2.2 Hiệu lực của một số loại thuốc hoá học có thời gian cách ly ngắn trong phòng trừ bọ xít muỗi hại chè và ảnh hưởng tới chất lượng chè

Hiệu lực trừ bọ xít muỗi đạt cao nhất ở công thức 3 sử dụng Dinotefuran (Oshin 100SL) trên cả 2 giống chè, sau 7 ngày phun hiệu lực đạt 41,11% so với đối chứng

trên giống chè Kim Tuyên và 47% so với đối chứng trên giống TB14

Kết quả phân tích chất lượng sản phẩm chè búp tươi của 2 giống chè Kim Tuyên và TB14 sau khi sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học cho thấy chỉ phát hiện hàm lượng đồng có trong chè búp tươi nguyên liệu của giống Kim Tuyên (4,7 mg/kg) thấp hơn so với QCVN (150 mg/kg) Trên giống TB14 phát hiện có hàm lượng đồng (6,5 mg/kg), chì (0,4 mg/kg) và thấp hơn so với mức giới hạn cho phép

Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

có trong chè búp tươi khi sử dụng các loại thuốc hóa học cũng cho kết quả tương tự như các loại thuốc có nguồn gốc sinh học

3.3 Ảnh hưởng của biện pháp tưới nước tiết kiệm với lượng nước tưới khác nhau tới chè kinh doanh

Kết quả bảng 5 cho thấy: độ ẩm đất AWC (%) trước khi tưới là 20,62% bằng 56% sức chứa ẩm đồng ruộng FC (%), điều này tương đồng với khuyến cáo của tác giả

Đỗ Văn Ngọc (2000) tưới nước cho cây chè khi độ ẩm đất bằng 50-55% độ ẩm đồng ruộng (sức chứa ẩm đồng ruộng)

Bảng 4 Diễn biến ẩm độ đất trước và sau khi tưới cho cây chè

Công thức Độ ẩm đất vườn chè sau tưới (%)

CT1 (100%): 150 m3/ha 31,62 30,83 28,45 26,54 CT2 (90%): 135 m3/ha 30,59 29,52 27,21 26,64 CT3 (80%): 120 m3/ha 29,48 28,32 26,59 25,52 CT4 (70%): 105 m3/ha 28,34 27,37 25,00 25,39

Kết quả xác định độ ẩm đất của vườn chè áp dụng biện pháp tưới nhỏ giọt cho thấy sau tưới 4 ngày CT1 (đối chứng) và CT2 độ ẩm đất >26%; CT3, CT4 sau tưới 4 ngày độ ẩm đất >25% Với lượng nước tưới 60% so với đối chứng ở CT5 sau 2 ngày tưới độ ẩm đất là 24,74% và sau 3 ngày độ ẩm đất xuống 23,73% và sau 4 ngày độ ẩm đất chỉ còn 22,31% gần bằng độ ẩm đất vườn chè trước khi tưới 20,62%

Trang 5

30.83

28.45

26.54

30.59

29.52

27.21

29.48

28.32

26.59

25.52

28.34

27.37

25.00

23.73

22.31

26.64

25.39

20 22 24 26 28 30 32 34

(%)

CT1 (100%) CT2 (90%) CT3 (80%) CT4 (70%) CT5 (60%)

Hình 4: Biểu đồ diễn biến độ ẩm đất vườn chè sau tưới

Như vậy có thể thấy khoảng cách giữa 2 lần tưới cho cây chè theo chu kỳ 5 ngày tưới 1 lần khi độ ẩm đất giảm còn 25% để đảm bảo cho cây chè sinh trưởng phát triển bình thường Để có những cơ sở khoa học nhằm xác định chính xác lượng nước tưới cho cây chè tại Tây Nguyên cần tiếp tục các nghiên cứu để hoàn thiện

3.4 Ảnh hưởng của biện pháp thu hái chè búp tươi bằng cơ giới hoá đến năng suất

và chất lượng chè nguyên liệu búp tươi

Doanh thu của công thức hái bằng máy cao hơn 16,88 triệu đồng so với hái bằng tay; chi phí thu hái chè bằng máy cao hơn 0,79 triệu đồng (khấu hao máy) so với hái bằng tay nhưng công lao động tiết kiệm được 11,56 triệu đồng

Bảng 5 Hiệu quả kinh tế của biện pháp thu hái khác nhau

Công thức Doanh thu (tr.đ/ha) Chi phí (tr.đ/ha) (tr.đ/ha) Lãi Tỷ suất lợi nhuận (%)

Vật tư Công lao động

Ghi chú: Giá chè nguyên liệu trung bình 8.000 đồng/kg búp tươi

Hình 5 Thu hoạch chè bằng máy 3.5 Xây dựng mô hình sản xuất chè nguyên liệu búp tươi đạt tiêu chuẩn VietGAP

Các biện pháp kỹ thuật chính áp dụng trong xây dựng mô hình:

- Mô hình được áp dụng lượng phân bón hóa học theo quy trình cho cây chè tại

Trang 6

Lâm Đồng và Gia Lai, lượng phân hữu cơ sinh học 3.000 - 4.000kg/ha/năm (được xác định trong các thí nghiệm liều lượng phân hữu cơ sinh học)

- Về quản lý dịch hại, điều tra định kỳ liên tục để phát hiện các đối tượng sâu bệnh hại Khi có phát hiện mật độ cao thì khuyến khích sử dụng thuốc có nguồn gốc

sinh học Reasgant 3.6 EC (Abamectin) và thuốc hóa học có thời gian cách ly ngắn Oshin 100SL (Dinotefuran) để phòng trừ bọ xít muỗi Để phòng trừ bệnh thối búp chè thì sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học Biobus 1% (Trichoderma Viride)

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng thuốc phòng trừ dịch hại để đạt được hiệu quả trong phòng trừ cần luân phiên sử dụng các loại thuốc hoá học khác có trong danh mục thuốc được phép sử dụng và lưu ý đảm bảo đúng thời gian cách ly

- Nước tưới cho chè được sử dụng nguồn nước suối không ô nhiễm, không sử dụng nước sinh hoạt, nước từ cống rãnh thải ra

- Trong mô hình áp dụng phương pháp hái triệt để Hái bằng máy chu kỳ hái 50-55 ngày 1 lần và phun thuốc trừ sâu ngay sau khi thu hái và thời gian cách ly tối thiểu 10 - 15 ngày

- Quản lý rác thải: chai, lọ sau khi xịt thuốc được nhặt thu gom vào nơi quy định để tránh gây ô nhiễm môi trường xung quanh

- Ghi chép nhật ký nông hộ: cán bộ kỹ thuật thường xuyên giám sát, hướng dẫn

nông hộ theo dõi ghi chép nhật ký công việc hàng ngày

Bảng 6 Ước tích hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất chè VietGAP Chỉ tiêu đánh giá Trong mô hình Ngoài mô hình So sánh (%)

Năng suất thực thu ở mô hình cao hơn 13,44% so với ngoài mô hình và giá bán chè búp tươi cũng cao hơn 5,58% Doanh thu ở mô hình cao hơn 19,88% so với ngoài

mô hình; mặc dù chi phí ở mô hình cao hơn 13,26% do chi phí khấu hao máy, mua phân, chi phí chứng nhận nhưng lợi nhuận vẫn cao hơn 24,69% so với ngoài mô hình

Đã xây dựng được 2 mô hình và đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, tại Lâm Đồng (diện tích 10 ha; sản lượng 165 tấn búp tươi/năm) mã số chứng nhận VietGAP-TT-13-12-68-0001 và tại Gia Lai (diện tích 10 ha; sản lượng 100 tấn búp tươi/năm) với mã số chứng nhận VietGAP-TT-13-12-64-0001

IV KẾT LUẬN

Đã xác định được một số biện pháp thích hợp cho sản xuất chè nguyên liệu búp tươi tại các vùng chè chính tại Tây Nguyên, đảm bảo năng suất, chất lượng và vệ sinh

an toàn thực phẩm, gồm:

4.1 Bón phân

- Bón các loại phân hữu cơ sinh học cho cây chè làm năng suất tăng 5-10% so với đối chứng và giảm được lượng phân vô cơ 15%

- Bón phân hữu cơ sinh học với lượng 150% và 200% so với khuyến cáo (tương đương 3.000-4.000 kg/ha/năm) và giảm lượng phân hoá học từ 15-30% so với đối chứng vẫn làm tăng năng suất chè

Trang 7

- Bón phân hữu cơ sinh học không làm hàm lượng kim loại nặng trong chè búp tươi tăng lên so đối chứng

4.2 Phòng trừ sâu bênh hại

Đã xác định được các loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học Abamectin

(Reasgant 3.6EC), Tập kỳ 1.8EC, Promathion 65WG và các loại thuốc trừ sâu có nguồn

gốc hoá học Dinotefuran (Oshin 100SL), Eagle 50 WDG, Ansuco 100 EC có hiệu lực

trừ bọ xít muỗi cao trên cây chè Việc sử dụng các loại thuốc này đảm bảo hàm lượng kim loại nặng và dư lượng thuốc BVTV trong chè búp tươi đều ở mức cho phép hoặc không có

4.3 Tưới nước

Áp dụng biện pháp tưới nước cho các giống chè Đài Loan tại Tây Nguyên với lượng nước 100-120 m3/ha/lần, 5 ngày/lần (khi không có mưa) làm tăng năng suất và chất lượng chè rỏ rệt

4.4 Sử dụng máy hái chè

Biện pháp thu hái chè bằng máy tiết kiệm được chi phí nhân công, năng suất chè tăng, hiệu quả kinh tế cao hơn so với hái bằng tay

4.5 Mô hình sản xuất chè nguyên liệu búp tươi đạt tiêu chuẩn VietGAP

Hai mô hình áp dụng các biện pháp thích hợp nêu trên trong sản xuất chè tại Lâm Đồng và Gia Lai đã được cấp giấy chứng nhận VietGAP với sản lượng 265 tấn chè nguyên liệu búp tươi/năm trên diện tích là 20 ha

Ngày đăng: 28/02/2023, 20:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w