1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mở cửa sổ màng ngoài tim trong điều trị tràn dịch màng ngoài tim ác tính ở bệnh nhân ung thư phổi

7 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mở Cửa Sổ Màng Ngoài Tim Trong Điều Trị Tràn Dịch Màng Ngoài Tim Ác Tính Ở Bệnh Nhân Ung Thư Phổi
Tác giả Phạm Đình Trọng Toàn
Trường học Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Chuyên ngành Chuyên khoa Tim mạch
Thể loại Nghiên cứu y khoa
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 10,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang 35 bệnh nhân ung thư phổi có tràn dịch màng ngoài tim ác tính điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 1/2010 đến tháng 12/2013.. Kết lu

Trang 1

MỞ CỬA SỔ MÀNG NGOÀI TIM TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH

ĐINH TRỌNG TOÀN1

Đặt vấn đề: Tràn dịch màng tim ác tính ở bệnh nhân ung thư phổi là tình trạng bệnh lý nặng, nguy cấp

Tràn dịch màng ngoài tim lượng lớn tái lập nhanh gây chèn ép tim cấp có nguy cơ đe dọa mạng sống người bệnh Mục đích điều trị là giải tỏa sớm lượng dịch qua chọc hút, đặt ống dẫn lưu, mở cửa sổ màng ngoài tim hay phẫu thuật nội soi lồng ngực có trợ giúp video

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả phẫu thuật mở cửa sổ màng tim màng phổi (hay màng tim màng

bụng) trên BN ung thư phổi có tràn dịch màng ngoài tim ác tính

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang 35 bệnh nhân ung thư phổi có tràn dịch màng ngoài

tim ác tính điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 1/2010 đến tháng 12/2013

Kết quả: nam: 20/35, nữ: 15/35; tuổi trung bình: 51,53

Số lần chọc dò màng tim: 49 lần/35 bệnh nhân với lượng dịch trung bình mỗi lần rút ra là 703ml

Số bệnh nhân mở cửa sổ: 35, mở cửa sổ màng tim- màng phổi: 21; mở cửa sổ màng tim- màng bụng: 14; thành công: 35; Thất bại: không; Bệnh nặng xin về: 4 ca; Tai biến: 1 ca (tràn khí dưới da); tái phát: 1 ca (sau 2 tháng)

Kết luận: Mở cửa sổ màng tim màng phổi (hay màng tim màng bụng) là một thủ thuật cần thiết an toàn

nhằm xử trí triệt để tràn dịch màng ngoài tim ác tính để cải thiện triệu chứng và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư phổi

SUMMARY

Subxyphoid pericardiostomy in management of malignant pericardial effusion

on lung cancerpatients Background: Malignant pericardial effusion on patients with lung cancer is severe medical condition The

treatment is to release fluid early via pericardiocenteris, catheter, pericardiostomy or video assisted thoracoscopic surgery (VATS)

Objectives: Evaluate the results of subxyphoid pericardiostomy (open pericardial window) in lung cancer

patients with malignant pericardial effusion

Research Methods: Retrospective descriptive cross of 35 cases of lung cancer patients with malignant

pericardial effusion in Pham Ngoc Thach Hospital from 2010 Jan to 2013 Dec

Results: Male 20/35, female 15/35; average age: 51.53

Pericardiocentesis: 49 times on 35 cases with mean amount of fluid of 703ml each time

Pericardiostomy: 35 cases; surgical creation of a pleuropericardial window: 21cases; surgical creation of a peritoneal - pericardial window: 14 cases

Result: Success: 35/35; Failures: none; Patient released due to personal reasons: 4; Complications: one

(subcutaneous emphysema); Recurrence: 1 (after 2months)

Conclusion: Open pleural pericardial window (or pericardium peritoneum) is a safe and essential produce

for complete treatment to improve symptoms and enhance the quality of life for lung cancer patients

ThS.BS-Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 165

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Globocan 2012, Cơ quan Quốc tế Nghiên

cứu Ung thư (International Agency for Research on

Cancer-IARC) công bố thế giới có 14,1 triệu ca ung

thư mới Trong đó ung thư phổi là loại ung thư

thường gặp nhất với ước tính khoảng 1,8 triệu ca

mới (chiếm 12,9%), có 58% xảy ra các nước kém

phát triển Ở nam giới ung thư phổi đứng đầu trong

5 loại ung thư thường gặp là phổi, tuyến tiền liệt, đại

-trực tràng, dạ dày và gan Ở nữ giới, ung thư phổi

đứng thứ 3 trong 5 loại ung thư thường gặp là vú,

đại-trực tràng, phổi, cổ tử cung và dạ dày Trong số

8,2 triệu ca ung thư tử vong hàng năm thì ung thư

phổi cũng đứng đầu chiếm gần 1/5 tổng số ca (1,59

triệu ca tử vong, chiếm 19,4%)[10,13,14]

Ở Việt Nam, các ghi nhận quần thể về ung thư

cho thấy: ung thư phổi nguyên phát có xuất độ cao

cho cả 2 giới, Ở Hà Nội (2001-2004) ung thư phổi

đứng thứ nhất ở nam (với xuất độ chuẩn tuổi là

39,5/100.000 dân), đứng thứ 3 ở nữ (với xuất độ

chuẩn tuổi là 10,5/100.000 dân Còn ở Thành phố

Hồ Chí Minh ung thư phổi đứng thứ nhất ở nam (với

xuất độ chuẩn tuổi là 29,5/100.000 dân), đứng thứ 3

ở nữ (với xuất độ chuẩn tuổi là 10,5/100.000 dân)[1]

Thực tế hiện nay là tại thời điểm chẩn đoán có

hơn ¾ số trường hợp bị K phổi giai đoạn muộn: 25%

số ca có di căn hạch và trên 55% đã có di căn xa,

chỉ có khoảng 15% số ca bị ung thư phổi có tổn

thương còn khu trú tại chỗ Trong số này, tràn dịch

màng ngoài tim (TDMNT) cũng thường gặp ở một số

trường hợp với bệnh cảnh nặng nề do lượng dịch

lớn tái lập nhanh gây chèn ép tim cấp có nguy cơ đe

dọa tính mạng bệnh nhân Yêu cầu cấp thiết cần

phải làm ngay là giải tỏa lượng dịch màng ngoài tim

để cứu sống tính mạng bệnh nhân Hiện nay trên thế

giới chưa có một phác đồ chuẩn nào dùng để điều trị

tràn dịch màng ngoài tim được xác nhận Có nhiều

phương pháp đang được áp dụng như: chọc hút giải

áp qua da dưới hướng dẫn của siêu âm

(Ultrasound-guided Pericardiocentesis), chọc hút giải áp qua da

đặt dẫn lưu có bóng khí (Percutaneous Balloon

Pericardiotomy), bơm làm dính màng ngoài tim

(bằng bột talc, tetracycline hydrochloride,

bleomycin…), mở cửa sổ màng ngoài tim (open

pericardial window), phẫu thuật nội soi lồng ngực có

trợ giúp video (Video-Assisted Thoracoscopic

Surgery-VATS)[9,13,14,15]

Mở cửa sổ màng ngoài tim là kỹ thuật xâm lấn

tối thiểu thường được áp dụng cho những bệnh

nhân bị tràn dịch màng ngoài tim lượng nhiều đã

chọc hút giải áp nhiều lần vẫn tái lập nhanh, thời

gian thủ thuật ngắn Do vậy, chúng tôi thực hiện

nghiên cứu này nhằm:

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá hiệu quả của các phương pháp xử trí tràn dịch màng ngoài tim trên bệnh nhân ung thư phổi; xác định độ an toàn, biến chứng và cách xử trí

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang việc xử trí các trường hợp tràn dịch màng ngoài tim ác tính trên bệnh nhân ung thư phổi đã điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2013

Chúng tôi ghi nhận toàn bộ các triệu chứng lâm sàng khi nhập viện, tình trạng tổn thương, chẩn đoán, giải phẫu bệnh, đánh giá tình trạng TDMNT trước thủ thuật chọc dò màng ngoài tim (CDMNT) và

mở cửa sổ màng ngoài tim (MCSMNT), lượng dịch chọc hút ra; số ngày đặt ống dẫn lưu (ODL), tai biến, cách xử trí Nhập liệu và xử trí số liệu bằng phần mềm excel, phân tích số liệu, đánh giá kết quả, bàn luận, kết luận

TỔNG QUAN TÀI LIỆU [4,5,6,7,8,9,12,13,14,15]

Cập nhật một số thông tin về tràn dịch màng ngoài tim

Tràn dịch màng ngoài tim là vấn đề bệnh lý tim phổ biến có thể gặp từ 1,5-21% số các trường hợp

bị ung thư được báo cáo

TDMNT lành tính có thể gặp ở nhiều dạng bệnh nhân và được chia làm 2 nhóm: dịch thấm như tăng urê huyết, suy tim, suy tuyến giáp, suy giảm miễn dịch ; dịch tiết nhiễm trùng, chấn thương tim, nhiễm trùng màng ngoài tim có thể do tác dụng phụ của xạ trị và hoá trị

Nhiều bệnh nhân bị TDMNT không có triệu chứng Ban đầu, màng ngoài tim có thể căng ra để chứa nước dư thừa tích tụ Khi lượng dịch đủ lớn sẽ xuất hiện các triệu chứng đau tức ngực, khó thở,

buồn nôn, nuốt khó

Điều trị TDMNT tùy thuộc vào nguyên nhân gây

ra là dịch thấm hay dịch tiết Ví dụ như có thể dùng thuốc lợi tiểu và thuốc suy tim khác để điều trị TDMNT do suy tim suy thận Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) có thể được sử dụng để điều trị TDMNT do viêm Thuốc kháng sinh (hoặc kháng lao) được sử dụng để điều trị TDMNT gây ra bởi nhiễm trùng (hay do lao) Nếu TDMNT có liên quan đến ung thư thì cần điều trị chính nguyên nhân gây

ra ung thư đó, có thể bao gồm một trong các phương pháp đa mô thức hóa trị, xạ trị,… kết hợp với chọc dò rút dịch giải áp hay mở cửa sổ màng ngoài tim

Trang 3

TDMNT ác tính cũng thường gặp ở bệnh nhân

ung thư phổi, ung thư vú, lymphôm và melanôm Ít

gặp hơn là do xâm lấn thứ phát ở ung thư thực quản

dạ dày, đại tràng, hầu họng, thanh quản, tiền liệt

tuyến và carcinôm buồng trứng Rất hiếm khi gặp

khối u tiên phát ở màng tim như mesothelioma,

fibrosarcoma, angiosarcoma và teratôm ác

Do TDMNT thường gặp ở các trường hợp ung

thư giai đoạn tiến xa hoặc những tuần cuối cùng của

bệnh nhân, nên những xét nghiệm chẩn đoán có lẽ

không quan trọng bằng việc làm giảm nhẹ triệu

chứng cho bệnh nhân

Các triệu chứng của TDMNT rất dễ nhận biết:

khó thở, ho đau ngực, mạch nhanh, tiếng tim mờ,

nặng hơn có mạch nghịch, tụt huyết áp, vã mồ hôi

lạnh; trên X-quang thường thấy bóng tim lớn, trung

thất dãn rộng, tuy nhiên sẽ rất khó xác định khi chỉ

có tràn dịch lượng lớn một bên, trung thất bị đẩy

lệch qua bên đối diện; và yếu tố X-quang không có

giá trị quyết định

Điện tim: điện thế thấp, ST chênh lên và điện

luân chuyển QRS hoặc toàn bộ

Siêu âm tim là không thể thiếu và đặc hiệu nhất:

giúp đánh giá rõ ràng tình trạng tràn dịch khu trú hay

dấu hiệu đè sụp thất phải thì tâm trương và đè sụp

nhĩ phải thì tâm thu, đồng thời siêu âm tim cũng giúp

hướng dẫn vị trí và hướng chọc dò

Theo Harvey F., Henry J L[6]

Độ dày lớp dịch Lượng dịch ml

TDMT ít <10mm <500

TDMT vừa 10-20mm 500-800

TDMT nhiều >20mm >800

TDMNT (ác tính) ở bệnh nhân ung thư phổi là

tình trạng lâm sàng rất nguy hiểm cho sinh mạng

bệnh nhân, cần kiểm soát ngay nhằm cứu sống sinh

mạng và kéo dài đời sống người bệnh cũng như cải

thiện chất lượng sống của họ Hiện nay chưa có một

phác đồ chuẩn nào dùng để điều trị TDMNT được

xác nhận Có nhiều phương pháp đang được áp

dụng như: chọc hút giải áp qua hướng dẫn của siêu

âm (Ultrasound-guided Pericardiocentesis), chọc hút

giải áp qua da đặt dẫn lưu có bóng khí

(Percutaneous Balloon Pericardiostomy), bơm làm

dính MNT (bằng bột talc, tetracycline hydrochloride,

bleomycin, cisplatin, carboplatin và mitomycin C),

MCSMNT (open Pericardial Window), Video

Assisted Thoracoscopic Surgery (VATS)

Một số kỹ thuật xử trí TDMNT thường được

áp dụng:

Chọc dò màng ngoài tim

Dưới hướng dẫn của siêu âm, dùng kim đâm xuyên thành ngực vào khoang màng ngoài tim rút dịch nhằm giảm bớt áp lực gia tăng lên tim đồng thời làm xét nghiệm tế bào, sinh hóa và vi trùng học

Chỉ định:

Tràn dịch màng ngoài tim có dấu hiệu chèn ép tim cấp

TDMNT lượng nhiều đe dọa rối loạn huyết động

Chống chỉ định chọc dò màng tim

Bệnh lý về máu (TC <50000/mm3; PT hoặc PTT >1,3 so với chứng)

TDMNT do chấn thương cấp tính

TDMNT khu trú

TDMNT lượng ít <200ml

Chọc hút giải áp qua da đặt ống dẫn lưu có bóng khí (Percutaneous Balloon Pericardiotomy)

Cho tỷ lệ 85-92% thành công với khoảng 30 ngày sau thủ thuật

Phẫu thuật nội soi lồng ngực có trợ giúp video

(Video Assisted Thoracoscopic Surgery - VATS)

là một kỹ thuật xâm lấn tối thiểu thực hiện dưới gây

mê toàn thân VATS cho phép đánh giá trực quan của màng ngoài tim và được dùng khi chẩn đoán tràn dịch màng ngoài tim

Mở cửa sổ màng ngoài tim

(Subxyphoid Pericardiostomy-open pericardial window) là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu; có tiền

mê và gây tê tại chỗ; bằng việc tạo một cửa sổ thông thương giữa màng màng phổi (hay màng tim-màng bụng) nhằm giải tỏa toàn bộ lượng dịch từ khoang màng ngoài tim vào khoang màng phổi (hay màng bụng) Mở cửa sổ màng ngoài tim có thể được thực hiện thông qua một vết rạch nhỏ ở đường trắng giữa dưới xương ức hoặc qua một vết rạch nhỏ giữa các xương sườn bên trái (hay phải) xương ức của ngực

Cơ sở giải phẫu [2]

Cơ hoành (diaphragma) là cơ dẹt, rộng, ngăn cách giữa lồng ngực và ổ bụng Cơ hoành vòm, mặt lõm hướng về phía bụng Cơ hoành gồm phần cơ ở xung quanh và phần gân ở giữa nên được coi như nhiều cơ hai bụng hợp lại Cơ hoành có nhiều lỗ để cho các tạng, mạch máu và thần kinh đi từ lồng ngực xuống bụng hay ngược lại

Trang 4

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 167

Màng ngoài tim mặt hoành (facies

diaphramgmatica) phía dưới dính sát với cơ hoành

và qua cơ hoành với thùy gan trái và đáy của dạ dày nằm ở khoang bụng

Màng ngoài tim che phủ tim và phần gần của động mạch chủ, tĩnh mạch chủ xuất phát từ tim Màng ngoài tim bao gồm lá thành và lá tạng: lá tạng là màng trong sát thượng mạc cơ tim; lá thành gồm màng trong và màng sợi Bề dày của lá thành

từ 0,8 - 2,5mm Màng ngoài tim gắn với xương ức, cột sống và cơ hoành bằng các dây chằng Thần kinh hoành, động mạch vú trong và các nhánh động mạch chủ, mạch bạch huyết là các cấu trúc giúp điều hòa, nuôi dưỡng màng ngoài tim Bình thường màng ngoài tim chứa từ 15-50ml dịch, dịch này được tiết bởi trung mô ở màng trong của màng ngoài tim

KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Trong thời gian từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2013, chúng tôi theo dõi và xử trí 35 trường hợp (nam 20, nữ 15) bị ung thư phổi có tràn dịch màng tim tại Khoa Ung Bướu Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, ghi nhận kết quả như sau:

Đặc điểm lâm sàng

Tuổi

Trung bình thấp

nhất nhất cao thấp nhất nhất cao

Triệu chứng lâm sàng khi vào viện

Khó thở: 24/35 (68%); ho 17/35 (48%); đau ngực 20/35 (57%); đau đầu 3 (8.5%); sốt 3 (8.5%); khàn tiếng: 1 (2.8%); phù mặt 2 (5.7%); sụt cân: 10 (28.5%)

Hình ảnh X-quang-CT scan ngực

Trang 5

Đánh giá tình trạng KPS

Kết quả giải phẫu bệnh-tế bào học màng tim –

dịch màng tim

Giải phẫu

bệnh Tế bào

học

Xâm lấn ác tính

TBH ác tính

Không đánh giá

Chẩn đoán

CĐVV: KPKPTBN 34/35 BN có:

GĐ IIIA TIẾN TRIỂN: 3BN;

GĐ IIIB TIẾN TRIỂN: 1BN;

GĐ IV: 30 BN

KPTBN: 1/35 BN

CĐ trước thủ thuật: TDMNT: 7/35 BN; 28/35BN

có TDMNT-MP (16 BN TDMT/TDMP 2 bên)

Thủ thuật xử trí tràn dịch màng ngoài tim

Xử trí tràn dịch màng

Chọc hút 1 lần 26 667ml (300-1000ml)

Chọc hút 2 lần 18 720ml (500-1000ml)

Chọc hút 3 lần 4 700ml (500-800ml)

(250–1400ml)

Lượng dịch chọc hút ít nhất là 300ml, nhiều

nhất là 1000ml, trung bình cho mỗi lần chọc hút là

703ml

Thời gian xuất hiện tràn dịch màng tim

Từ lúc có triệu chứng bệnh phải nhập viện điều

trị đến khi phát xuất hiện tràn dịch màng ngoài tim

Thời gian

Nhiều nhất 10 tháng 5 ngày

Trung bình 1 tháng 2 tuần

Siêu âm tim

Trước thủ thuật CDMNT đánh giá chiều dày lớp

dịch: thấp nhất là 24mm-50mm; có dấu hiệu đè sụp

thất 17/35, TDMT lượng nhiều: 18/35

Thời gian đặt ống dẫn lưu

Kết quả xử trí TDMNT

Tái phát sau mở cửa sổ (2 tháng) 1 Tai biến (tràn khí dưới da) 1

BÀN LUẬN

Hiện nay có rất nhiều phương pháp để điều trị tràn dịch màng tim ác tính như: chọc hút giải tỏa qua

da, đặt catheter dẫn lưu qua da, đặt ống dẫn lưu bơm thuốc nhỏ giọt, phẫu thuật mở cửa sổ màng ngoài tim, xạ trị hay hóa trị toàn thân… Tuy nhiên, chọn lựa phác đồ điều trị chuẩn vẫn còn nhiều bàn cãi chưa có sự đồng thuận

Vấn đề thời sự cấp bách là khi BN có TDMNT (ác tính) thì chọn lựa phương pháp nào để xử lý? Tạm thời hay triệt để? Luôn luôn lưu ý rằng BN phải được chọc rút dịch giải tỏa ngay khi BN có dấu hiệu

đè sụp thất hay TDMNT lượng nhiều nguy cơ đe dọa suy tim trừ khi biện pháp điều trị chung ít xâm lấn có thể cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân Cá thể hóa trong việc lựa chọn biện pháp điều trị phụ thuộc một số yếu tố cần cân nhắc bao gồm: tiên lượng sống còn của bệnh nhân, giá thành-nguy cơ-tính chất ít xâm lấn của thủ thuật nhằm làm giảm triệu chứng và tăng chất lượng sống của bệnh nhân; thời gian nằm viện là ít nhất[7,8,9,10]

Trong thực tế chúng tôi thực hiện kỹ thuật chọc

dò (CD) màng ngoài tim (MNT) dưới hướng dẫn của siêu âm tim (SAT) màu tại Khoa Hồi sức cấp cứu để rút dịch MNT nhằm giải tỏa áp lực tăng trong khoang MNT tránh nguy cơ chèn ép tim cấp Nếu lượng dịch còn tái lập nhanh, chúng tôi thực hiện kỹ thuật mở thông cửa sổ giữa khoang màng ngoài tim-màng phổi (MCSMTMP) hoặc cửa sổ giữa khoang màng ngoài tim-màng bụng (MCSMTMB), sau đó chúng tôi đặt ống dẫn lưu (ODL) màng phổi (MP) hay màng tim để dẫn lưu dịch

Có 49 lượt bệnh nhân được tiến hành chọc hút dịch MNT, với đa số là chọc hút dịch MNT 1 lần (26 BN) hay 2 lần (18 BN); tình trạng lâm sàng của BN được cải thiện rõ rệt ngay sau thủ thuật với lượng dịch trung bình khoảng 703ml/lần (300-1000ml) Phân tích lý do số BN chọc dò MNT lần 3 hay 4 cho

Trang 6

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 169

thấy một số BN có tình trạng cơ thể rất yếu không

thể tiến hành thủ thuật MCSMNT hay là bản thân họ

chưa đồng ý làm thủ thuật

Chúng tôi thực hiện thành công thủ thuật

mở cửa sổ màng tim 35/35 trường hợp với 21/35

(60%) BN được MCSMTMP (trong đó MCS bên phải

là 4 BN, bên trái là 17 BN) và MCSMTMB là 14/35

(40%) BN Thời gian trung bình lưu ODL ở nhóm BN

MCSMTMP là 13,5 ngày (3-30 ngày) cao hơn rất

nhiều so với nhóm MCSMTMB với tỷ lệ tương ứng

là 3,5 ngày (1-6 ngày) Dễ thấy rằng MCSMTMB thời

gian đặt ODL được rút ngắn rất nhiều so với

MCSMTMP là do lượng dịch MNT được đưa thẳng

xuống màng bụng và màng bụng có thể tái hấp thu

dịch nhiều hơn trong khi đó lượng dịch giải phóng ra

màng phổi cần phải dẫn lưu hết ra ngoài Bởi vậy,

vấn đề chọn lựa là khi nào nên MCSMTMB? Khi BN

có TDMNT và không có TDMP hay bị TDMP lượng

ít Còn khi BN bị TDMNT kèm TDMP thì chọn lựa

MCSMTMP lại là giải pháp tối ưu

So sánh với nghiên cứu của Kaira K và CS[8],

thực hiện trên 8 bệnh nhân ung thư phổi có tràn dịch

màng tim ác tính được đặt catheter để dẫn lưu dịch

màng tim và bơm dính bằng mytomycin C, kết quả là

cả 8 trường hợp được dẫn lưu hết dịch với thời gian

lưu ống catheter là 7-14 ngày, trung bình 10,5 ngày

Có 6/8 trường hợp có kết quả tốt mà không có biến

chứng gì đáng kể

Kết quả này cũng tương đối phù hợp với một

báo cáo của chúng tôi trước đó là thời gian lưu ODL

trung bình là 12,5 ngày (5-18 ngày)[3]

Jefferson L.G và CS báo cáo thực hiện thủ

thuật trên 47 bệnh nhân bị ung thư bướu đặc kèm

tràn dịch màng tim có 46.8% là ung thư vú và 25,6%

là ung thư phổi Chọc dò giải tỏa lần đầu cho 29 BN

với lượng dịch trung bình cho 1 lần là 480ml Thực

hiện thủ thuật cho 43 BN: MCSMTMB (n=21);

MCSMTMP (n=10); VATS (n=4), pericardiodesis

(n=8); và pericardiocentesis (n=4) Thời gian trung

bình từ lúc chẩn đoán ung thư tiên phát đến lúc xuất

hiện tràn dịch màng tim là 34,8 tháng Trong nghiên

cứu này của chúng tôi thời gian xuất hiện tràn dịch

màng tim là 4,75 tháng, lượng dịch trung bình mỗi

lần chọc hút là 700ml Sự khác biệt này có lẽ do

nhiều nguyên nhân: khác do số mẫu nhỏ, khác do

nhóm đối tượng nghiên cứu là ung thư phổi tiên phát

với ung thư vú…[7]?

So sánh chỉ số bảng điểm hoạt động cơ thể

Karnofski (KPS) tại thời điểm bệnh nhân nhập viện

điều trị và thời điểm xuất hiện tràn dịch màng tim,

chúng tôi thấy có sự khác biệt rất lớn: thời điểm

nhập viện có 26/35BN có KPS >70%, thì lúc xuất

hiện tràn dịch màng tim chỉ có 18/35 BN có KPS

>70% Như vậy tình trạng chung của nhóm bệnh

nhân lúc này là rất nặng, cần can thiệp sớm và kịp thời để cứu chữa sinh mạng người bệnh, cải thiện triệu chứng lâm sàng và nâng cao chất lượng sống Phân tích tai biến của thủ thuật tại nhóm nghiên cứu này chúng tôi thấy không đáng kể ngoài 1/35

BN bị tai biến tràn khí dưới da (2,85%) do cột lỏng ODLMP gây tụt rời vị trí hơi ra ngoài và được xử trí kịp thời bằng khâu cố định lại ống dẫn lưu Có 1 BN

bị tái phát 2 tháng sau thủ thuật MCSMTMP, đây là trường hợp BN bị TDMP 2 bên đóng vách, hóa trị hệ thống của BN đáng ứng 1 phần 4 BN sau thủ thuật triệu chứng lâm sàng cải thiện nhưng sau đó lại xấu hơn nên thân nhân xin về vì lý do hoàn cảnh riêng của gia đình

KẾT LUẬN

Tràn dịch màng ngoài tim ác tính ở bệnh nhân ung thư phổi là tình trạng bệnh lý cấp tính rất nặng nguy hiểm tới tính mạng người bệnh nếu không xử trí kịp thời Hiện nay có thể dùng một hay/và nhiều thủ thuật để kiểm soát mức độ và sự tái phát tràn dịch màng ngoài tim nhằm cải thiện triệu chứng và nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân

Chọc hút giải tỏa tràn dịch màng ngoài tim và

mở cửa sổ màng tim màng phổi (hay MCSMTMB) ở bệnh nhân ung thư phổi là phương pháp xử trí tương đối dễ thực hiện, an toàn, không biến chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Chấn Hùng, “phòng ngừa ung thư”, Tạp chí Y học Lâm sàng số 29, 2015; tr 5-13

2 Nguyễn Quang Quyền, “bài giảng giải phẫu học”,

tập II, nxbyh, 2001, tr41-42; tr72-73

3 Đinh Trọng Toàn (2008), “Xử trí tràn dịch màng tim ác tính trên bệnh nhân ung thư phổi”, Hội nghị Khoa học Lao và bệnh phổi; Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học, TPHCM, 02/2008 tr 87-98

4 Văn Minh Trí và CS, “Kết Quả Điều Trị Ngoại Khoa Tràn Dịch Màng Tim”, Y học TP Hồ Chí Minh, Chuyên đề ung bướu học, tr 299 - 303,

2006

5 http://www.dieutri.vn/baigiangnoikhoa/4-8- 2013/S4290/Bai-giang-benh-mang-ngoai-tim.htm#ixzz4EWHvM3PJ (TIM)

6 Feigenbaum’s echocardiography, Harvey Feigenbaum, Willian F Armstrong and Thomas Ryan, Lippincott Williams and Wilkins, 2005

7 Jepfeson Luiz Gross and al., Surgical Management Of Symptomatic Pericardial Effusion In Patients With Solid Manicies “Annals

of Surgical Oncology” 13:1732-1738 (2006)

Trang 7

© 2006 Society of Surgical Oncology

http://www.annalssurgicaloncology.org/misc/term

s.shtml

8 Kaira K., et al,Management of Malignant

Pericardial Effusion with Instillation of Mitomycin

C in Non-small Cell Lung Cancer, Received June

20, 2004; accepted December 11, 2004,

http://jjco.oxfordjournals.org/

http://www.nci.nih.gov/http://www.enotalone.com

/authors.php?aid=1914

http://www.dfci.harvard.edu/can/cancer

11 Parkin D M., Cancer Research in the

Developing world, American Society of Clinical

Oncology, Alexandria, VA p 702-718, 2005

12 Todd L Demmy and Chukwnmere Nwogu, Malignant Pericardial Effusions, chap 29: Malignant Pleural and Pericardial Effusions Surgery of the Chest, Sabiston and Spencer, 7th edition, p 460-463

13 US National Cancer Institute (2005),

“Bevacizumab combined with chemotherapy prolongs survival for some patients with advanced lung cancer”, [full text]

http://www.nih.gov.news/

14 http://globocan.iarc.fr/old/FactSheets/cancers/lun g-new.asp; Lung Cancer; Estimated Incidence, Mortality and Prevalence Worldwide in 2012

15 http://my.clevelandclinic.org/services/heart/disor ders/hic-pericardial-effusion

Ngày đăng: 28/02/2023, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm