1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX

73 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại Trung Quốc : Phương pháp NATREX
Tác giả Kefei You, Sarantis
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tỷ giá hối đoái cụ thể là tỷ giá thực hiệu lực cân bằng dài hạn (REER) luôn là chỉ số quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, nó gắn liền với hoạt động giao thương quốc tế. Do đó,các nhà hoạnh định chính sách cần phải nắm bắt một cách rõ ràng về tình biến động tỷ giá hiện nay để đưa ra các chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cũng như dẫn dắt vượt qua các giai đoạn khó khăn.Vấn đề đặt ra có quá nhiều yếu tố tác động đến chỉ số này, nhưng đâu là yếu tố chính tác động mạnh mẽ tới nó, đâu là yếu tố không quan trọng. Đặc biệt là trong nền kinh tế toàn cầu hóa, nhiều tác động dẫn truyền với nhau, có thể xảy ra sự biến đổi đột ngột dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc cần phải được xem xét. Vì thế, nhóm quyết định nghiên cứu đề tài “Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại Trung Quốc: Phương pháp NATREX” của Kei. You and Sarantis, trên cơ sở đó vận dụng tìm hiểu các yếu tố chính tác động đến REER, xem xét việc định giá Việt Nam đồng cao hay thấp. II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1. Mục tiêu nghiên cứu của Kei. You và Sarantis: Bài viết nghiên cứu tỷ giá thực hiệu lực cân bằng của đồng Nhân dân tệ trong giai đoạn hậu cải cách năm 1982-2010 bằng mô hình NATREX mở rộng. Nó đã đưa các yếu tố kinh tế cơ bản mang đặc trưng riêng của Trung Quốc vào trong mô hình. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng khối lượng mậu dịch trung bình quay vòng 3 năm giữa Trung Quốc và 14 đối tác thương mại lớn. Cuối cùng so sánh kết quả ước tính tỷ giá thực hiệu lực trong dài hạn (NATREX) và tỷ giá thực hiệu lực (REER) để xem việc định giá đồng nhân dân tệ cao hay thấp trong các giai đoạn khác nhau. Với những điều trình bày như trên, bài nghiên cứu của chúng tôi đưa ra những mục tiêu cụ thể sau đây: Thứ nhất, phân tích và làm rõ những yếu tố tác động đến tỷ giá thực hiệu lực REER của Trung Quốc bằng việc sử dụng mô hình NATREX mở rộng và các kiểm định khác nhau.

Trang 1

Mã số: ……….

SỰ PHÁ VỠ CẤU TRÚC VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC HIỆU LỰC CÂN BẰNG TẠI TRUNG QUỐC : PHƯƠNG PHÁP

NATREX

Trang 2

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Tỷ giá hối đoái cụ thể là tỷ giá thực hiệu lực cân bằng dài hạn (REER) luôn là chỉ

số quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, nó gắn liền với hoạt động giao thương quốc

tế Do đó,các nhà hoạnh định chính sách cần phải nắm bắt một cách rõ ràng về tình biến động tỷ giá hiện nay để đưa ra các chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cũng như dẫn dắt vượt qua các giai đoạn khó khăn.Vấn đề đặt ra có quá nhiều yếu tố tác động đến chỉ số này, nhưng đâu là yếu tố chính tác động mạnh mẽ tới nó, đâu là yếu tố không quan trọng Đặc biệt là trong nền kinh tế toàn cầu hóa, nhiều tác động dẫn truyền với nhau, có thể xảy ra sự biến đổi đột ngột dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc cần phải được xem xét Vì thế, nhóm quyết định nghiên cứu đề tài “Sự phá vỡ cấu trúc và

tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại Trung Quốc: Phương pháp NATREX” của Kei You and Sarantis, trên cơ sở đó vận dụng tìm hiểu các yếu tố chính tác động đến REER, xem xét việc định giá Việt Nam đồng cao hay thấp

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

1 Mục tiêu nghiên cứu của Kei You và Sarantis:

Bài viết nghiên cứu tỷ giá thực hiệu lực cân bằng của đồng Nhân dân tệ trong giai đoạn hậu cải cách năm 1982-2010 bằng mô hình NATREX mở rộng Nó đã đưa các yếu

tố kinh tế cơ bản mang đặc trưng riêng của Trung Quốc vào trong mô hình

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng khối lượng mậu dịch trung bình quay vòng 3 năm giữa Trung Quốc và 14 đối tác thương mại lớn

Cuối cùng so sánh kết quả ước tính tỷ giá thực hiệu lực trong dài hạn (NATREX)

và tỷ giá thực hiệu lực (REER) để xem việc định giá đồng nhân dân tệ cao hay thấp trong các giai đoạn khác nhau

Với những điều trình bày như trên, bài nghiên cứu của chúng tôi đưa ra những mục tiêu cụ thể sau đây:

Thứ nhất, phân tích và làm rõ những yếu tố tác động đến tỷ giá thực hiệu lực REER của Trung Quốc bằng việc sử dụng mô hình NATREX mở rộng và các kiểm định khác nhau

Trang 3

những phá vỡ cấu trúc nội sinh, điều mà các nghiên cứu trước đây hầu như chưa đề cập đến

2 Mục tiêu nghiên cứu của nhóm:

Nhóm sử dụng mô hình NATREX mở rộng đã từng được áp dụng cho Trung Quốc (Kefei You, Nicholas SARANTIS) vào Việt Nam để đánh giá xem trong suốt giai đoạn nghiên cứu tỷ giá thực hiệu lực của Việt Nam kể từ những năm 1997.Xem xét các yêuq

III PHƯƠNG PHÁP LUẬN:

1.Mô hình nghiên cứu: Mô hình NATREX mở rộng

1.1 Mô hình NATREX và các giả định:

You & Sarantis mở rộng mô hình NATREX gốc của Stein theo 6 khía cạnh quan trọng sau:

Thứ nhất, hai biến chính trong mô hình của Stein là vốn trên mỗi lao động hiệu dụng và nợ nước ngoài trên mỗi lao động hiệu dụng Vì Trung Quốc là một chủ nợ ròng, biến thứ hai trở thành tài sản nước ngoài cho mỗi lao động hiệu dụng

Thứ hai, sở thích theo thời gian là biến ngoại sinh trong mô hình của Stein Theo Modigliani và Cao (2004), sở thích theo thời gian được xem là biến nội sinh được xác định bởi yếu tố nhân khẩu học và hạn chế tính thanh khoản

Thứ ba, việc sử dụng Tobin q để xây dựng hàm đầu tư dường như không thích hợp cho Trung Quốc Vì vậy, tác giả đã phân chia tổng các khoản đầu tư ra thành đầu tư tư nhân trong nước (DPI), đầu tư của chính phủ (GI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đồng thời lập mô hình cho từng loại đầu tư riêng biệt

Thứ tư, thay vì sử dụng số liệu xấp xỉ cho năng suất, tác giả suy ra năng suất các yếu tố tổng hợp từ hàm sản xuất y = y (K, TFP) có xét đến sự phá vỡ cấu trúc Ngoài ra,

họ cũng xét tốc độ tăng trưởng GDP thực tương đối và GDP thực tương đối theo đầu người hiệu chỉnh theo PPP như là hai giải pháp thay thế

Trang 4

chế mặc dù khối lượng mậu dịch đã tăng tương đối Tỷ lệ mậu dịch của Trung Quốc được xem là ngoại sinh

Thứ sáu, vì ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) dường như không còn đúng đối với Trung Quốc nên phần bù rủi ro quốc gia được đưa vào trong phương trình cân đối danh mục đầu tư để giải thích sự sai lệch của UIP

1.2 Cấu trúc của mô hình NATREX:

1.2.1 Tiết kiệm

Tiết kiệm bằng sản lượng trong nước (Y) cộng với thu nhập từ nước ngoài (r'F), trừ tiêu dùng (C) Tiêu dùng là một hàm của tài sản (gồm vốn (K) và tài sản nước ngoài (F)) và sở thích theo thời gian (phụ thuộc vào hạn chế tính thanh khoản (LIQC), tỷ lệ phụ thuộc của trẻ em (DEPY), tỷ lệ phụ thuộc của người già (DEPO))

S = Y( K; TFP ) + r’F – C( K, F; LIQC, DEPY, DEPO ) (1)

= S (K, F; TFP, r’, LIQC, DEPY, DEPO)

+ - + + + - -

1.2.2 Tỷ lệ mậu dịch và tỷ giá hối đoái thực

Giả định rằng nền kinh tế sản xuất một loại hàng hóa xuất khẩu 1 và một loại hàng hóa phi mậu dịch n Ở nước ngoài có hàng hóa xuất khẩu 2 và hàng hóa phi mậu dịch n

Rn biểu thị giá tương đối của hàng hóa phi mậu dịch (pn) so với hàng hóa xuất khẩu (p1)

R = N x

(4) Trong đó p và p' lần lượt là chỉ số giảm phát GDP trong nước và nước ngoài

Từ phương trình (2), (3), (4) ta có:

R = T(Rn)a (5)

1.2.3 Đầu tư:

Trang 5

tư chính phủ (GI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

 Đầu tư chính phủ (GI) được xem là ngoại sinh

 Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) là một thành phần quan trọng trong tổng đầu

tư của Trung Quốc

Vốn được sử dụng để sản xuất hàng phi mậu dịch n và hàng xuất khẩu 1, trong khi

tư liệu sản xuất bao gồm hàng phi mậu dịch n và hàng nhập khẩu 2

I = I2 + In = I2(DPI(Y(K,TFP),c), GI, FDI(RULC,RRC,F), Rn, T)

+ In(DPI(Y(K;TFP),c), GI, Rn, T)

= ( Rn , K, F; TFP, GI, RULC, RRC, T, r, ) (8)

+/- + + + + - + + - -

1.2.4.Cân bằng thị trường hàng hóa:

Tỷ lệ mậu dịch là ngoại sinh nên điều kiện cân bằng của thị trường hàng hóa là điều kiện cân bằng thị trường hàng hóa phi mậu dịch:

(I – S) + CA = 0

Cn (Rn,K,F;LIQC,DEPO,DEPY,T) + In(Rn,K;TFP,r, ,GI,T) =Yn(Rn,K;TFP) (9)

1.2.5 Tài khoản vãng lai:

Tài khoản vãng lai là cán cân thương mại cộng với thu nhập từ tài sản nước ngoài (r’F) Cán cân thương mại là giá trị của hàng xuất khẩu 1 (Y1) trừ đi giá trị hàng nhập khẩu 2, bao gồm cả tiêu dùng và đầu tư sử dụng hàng nhập khẩu (C2 và I2)

CA = Y1(Rn, K; TFP) – I2(Rn, K; TFP, r, ,GI, RULC, RRC, T)

– C2(Rn, K, F; LIQC, DEPY, DEPO, T) + r’F (10)

1.2.6 Cân bằng danh mục đầu tư:

UIP không còn đúng ở Trung Quốc nên phần bù rủi ro quốc gia được đưa vào phương trình cân bằng danh mục đầu tư

r = r’ + h(F) = (r’, F) (11)

Trang 6

Trong đó: tài sản nước ngoài F dùng để tính gần đúng phần bù rủi ro quốc gia của Trung Quốc

1.2.7 Sự tích lũy vốn và tài sản nước ngoài:

Sự tích lũy vốn được cho bởi:

Z = [TFP, LIQC, DEPY, DEPO, r’, , GI, T ] (15)

Trong đó: Z biểu thị yếu tố kinh tế cơ bản để xác định giá tương đối của hàng phi mậu dịch

Dựa vào phương trình (5) và (14), tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong trung hạn được xác định:

R(t) = T[Rn(K(t), F(t), Z(t))] = R(K(t), F(t), Z(t)) (16)

Trong trung hạn, K và F là ngoại sinh Vì thế, bất kì sự thay đổi trong Z(t) sẽ làm thay đổi đường cầu hoặc đường cung của hàng hóa phi mậu dịch hoặc cả hai và tạo ra Rnmới để duy trì cân bằng thị trường hàng hóa

1.4 Sự điều chỉnh linh hoạt

Sự điều chỉnh trong dài hạn bao gồm những biến đổi của vốn và tài sản nước ngoài Kết hợp phương trình (12), (8), (11) được phương trình cho sự tăng lên của vốn:

Trang 7

lên đầu tư lớn hơn tác động của tài sản nước ngoài lên đầu tư (-JK>JF), tiến về J=0 và (b): tác động của tài sản nước ngoài lên tài khoản vãng lai thì lớn hơn tác động của vốn lên tài khoản vãng lai (-LF>LK), tiến về L=0

và F* sẽ tác động điều kiện cân bằng thị trường hàng hóa phi mậu dịch

Vì thế, giá tương đối của hàng hóa phi mậu dịch sẽ được điều chỉnh đến trạng thái ổn định R*

n để cân bằng thị trường hàng hóa phi mậu dịch khi vốn và tài sản nước ngoài ở trạng thái ổn định Do đó, cân bằng thị trường hàng hóa phi mậu dịch ở trạng thái ổn định:

Chú ý: mặc dù RULC và RRC không tác động tới Rn trong trung hạn nhưng vẫn tác động Rn* trong dài hạn

Trang 8

R = R (T, TFP, LIQC, DEPY, DEPO, GI, RULC, RRC, r’, ) (28)

+ + + - - + - + +/- -

2 Phương pháp thực nghiệm :

Mô hình NATREX xét tới mối quan hệ cân bằng trong dài hạn của các biến số kinh

tế, sử dụng kiểm định đồng tích hợp để phát hiện mối quan hệ cân bằng dài hạn

Trước khi thực hiện các kiểm định đồng tích hợp, ta cần xem xét tính dừng của các biến( Ng và Perron (2001) và Lee và Strazicich (2003))

Kiểm định của Lee và Strazicich nhằm kiểm định tính dừng của tất cả các biến và cho thấy những thời kì phá vỡ

Sau khi đã kiểm tra tính dừng, You và Sarantis đã sử dụng kiểm định đồng tích hợp cho phép sự phá vỡ cấu trúc nội sinh GH, được thực hiện trên cả 3 mô hình : mô hình C,

Cả phương pháp GH và phương pháp HJ đều thực hiện ba kiểm định thống kê ADF,

ZT và Zα, phương pháp GH cho rằng Zt là tốt nhất xét về cả kích thước và hiệu quả

Phương pháp GH và HJ không tuân theo các tiêu chuẩn phân phối thông thường vì thế chúng ta không thể áp dụng các giá trị tới hạn chuẩn dựa trên kiểm định đồng tích hợp thông thường

3.Đo lường tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER)

Các nhà nghiên cứu tính tỷ giá hối đoái thực hiệu lực bằng phương pháp trung bình

Sản lượng bao gồm sự kết hợp của cả hàng hóa sản xuất và hàng sơ chế Đối với các hàng hóa sản xuất, khối lượng cạnh tranh cho mỗi cặp quốc gia (i, j), W (m) ij, được tính như sau:

Trang 9

thời gian 3-năm cho giai đoạn cải cách 1982 -2010

Sự thay đổi của khối lượng mậu dịch là lớn qua từng năm và vì vậy sử dụng khối lượng mậu dịch trung bình 3 năm là hợp lí hơn là chỉ sử dụng khối lượng mậu dịch cố định

Như bài ngiên cứu đã giới thiệu ban đầu, việc tính toán REER phải dựa trên chỉ số

Trong đó GDPi và GDPj là lần lượt chỉ số giảm phát GDP của nước i (Trung Quốc)

và j (14 đối tác thương mại của Trung Quốc)

IV ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

Ứng dụng mô hình NATREX mở rộng nghiên cứu các yếu tác động REER Nhóm

đã xác định được yếu tố tác động chính đến REER Việt Nam là lãi suất thực nước ngoài hiệu quả (Er’), hạn chế thanh khoản (LIQC) Thời điểm xảy ra sự phá vỡ cấu trúc là năm

2005 Đồng thời qua biểu đồ so sánh giá trị REER và NATREX ước lượng thấy được chênh lệch trong định giá đồng Việt Nam

V HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI:

Dựa trên phương pháp NATREX của You và Sarantis để áp dụng vào Việt Nam Xác định mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các yếu tố tác động với REER và xem xét việc định giá đồng Việt Nam

Trang 10

MỤC LỤC

Bảng kí hiệu thuật ngữ 12

Từ khóa: 12

1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU: 1

1.1 GIỚI THIỆU: 1

1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu: 1

1.1.2 Câu hỏi nghiên cứu: 2

1.1.3 Kết cấu: 2

1.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY: 3

1.2.1 Tổng quan các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng: 3

1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu tỷ giá cân bằng của đồng Nhân dân tệ: 6

1.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN: 12

1.3.1 Mô hình nghiên cứu: Mô hình NATREX mở rộng 12

1.3.2 Phương pháp thực nghiệm : 25

1.3.3 Đo lường tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) 27

1.3.4 Thu thập và xử lí dữ liệu: 30

1.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 33

1.4.1 Các bước thực nghiệm: 33

1.4.2 Kết quả thực nghiệm từ mô hình: 33

1.4.3 Giải thích kết quả thực nghiệm với sự kiện thực tế: 37

1.4.4 Phân tích tác động các yếu tố cơ bản từ kết quả thực nghiêm_thảo luận về kết quả nghiên cứu: 38

1.5 KẾT LUẬN: 44

1.5.1 Kết luận rút ra từ bài nghiên cứu 44

1.5.2 Các kiến nghị chính sách: 45

Trang 11

2.1 Giới thiệu mô hình và các biến: 47

2.2 Quy trình thực hiện: 47

2.2.1 Thu thập số liệu: 48

2.2.2 Thống kê dữ liệu thu thập nhƣ sau: 49

2.2.3 Chạy mô hình: 49

2.2.4 Kết quả chạy mô hình: 50

2.2.5 Ƣớc lƣợng REER theo mô hình C (NATREX) 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 12

Kí hiệu Thuật ngữ Giải nghĩa

hợp

hiệu quả

Từ khóa:

NATREX (Natural Real Exchange Rate): tỷ giá hối đoái thực tự nhiên

Equilibrium real effective exchange rate: tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng

Structural breaks: sự phá vỡ cấu trúc

Chinese Renminbi (RMB): Đồng Nhân dân tệ

Misalignments: sự sai lệch

Trang 13

1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU:

1.1 GIỚI THIỆU:

Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng thặng dư thương mại và dự trữ ngoại hối khổng lồ, tỷ giá đồng Nhân dân tệ và chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc đã nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế Nhiều nghiên cứu đã cho thấy đồng nhân dân tệ bị định giá thấp kể từ những năm 90 Liệu việc định giá thấp này có liên tục trong thời gian qua? Và nó đã bị đánh giá thấp bao nhiêu? Có nên đánh giá lại hay không? Những câu hỏi này đã gây ra tranh luận trong khoảng thời gian vừa qua

1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Bài viết nghiên cứu tỷ giá thực hiệu lực cân bằng của đồng Nhân dân tệ trong giai đoạn hậu cải cách năm 1982-2010 bằng mô hình NATREX mở rộng Nó đã đưa các yếu

tố kinh tế cơ bản mang đặc trưng riêng của Trung Quốc vào trong mô hình Hơn nữa trong những thập kỉ gần đây Trung Quốc có những thay đổi lớn về kinh tế, chính trị Do

đó, có thể xảy ra sự phá vỡ cấu trúc và nếu không được phản ánh trong các mô hình thực nghiệm có thể dẫn đến kết luận sai Trong bài nghiên cứu của K.You và Sarantis đã xây dựng tập dữ liệu theo quý, sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và đồng tích hợp để tìm ra

sự hai sự phá vỡ cấu trúc nội sinh này

Các nghiên cứu trước đây về tỷ giá thực hiệu lực của Trung Quốc được lấy từ IMF, tỷ giá này được tính toán bằng cách sử dụng khối lượng cố định dựa trên dữ liệu mậu dịch trung bình trong giai đoạn 1999-2001 Tuy nhiên, khối lượng mậu dịch giai đoạn 1999-2001 lại khác so với các giai đoạn khác (xem bảng 1) Vì vậy để phản ánh sự phát triển trong quan hệ thương mại của Trung Quốc nhưng không biến động quá mức, các nhà nghiên cứu đã sử dụng khối lượng mậu dịch trung bình quay vòng 3 năm giữa Trung Quốc và 14 đối tác thương mại lớn

Thông qua nghiên cứu, họ đã xem xét các yếu tố cơ bản của nền kinh tế Trung Quốc như: tỷ lệ mậu dịch, yếu tố nhân khẩu, hạn chế tính thanh khoản, đầu tư chính phủ, năng suất yếu tố tổng hợp, thuế, lãi suất nước ngoài hiệu quả, chi phí lao động hiệu quả, GDP trên đầu người hiệu chỉnh theo PPP, tốc độ tăng trưởng GDP thực tương đối để xác định xem yếu tố nào quyết định quan trọng đối với tỷ giá thực hiệu lực cân bằng

Trang 14

Cuối cùng so sánh kết quả ước tính tỷ giá thực hiệu lực trong dài hạn (NATREX)

và tỷ giá thực hiệu lực (REER) để xem việc định giá đồng nhân dân tệ cao hay thấp trong các giai đoạn khác nhau Việc so sánh này được thực hiện so với rổ 14 đơn vị tiền tệ các đối tác thương mại chính của Trung Quốc

Với những điều trình bày như trên, bài nghiên cứu của chúng tôi đưa ra những mục tiêu cụ thể sau đây:

Thứ nhất, phân tích và làm rõ những yếu tố tác động đến tỷ giá thực hiệu lực REER của Trung Quốc bằng việc sử dụng mô hình NATREX mở rộng và các kiểm định khác nhau

Thứ hai, xem xét việc định giá cao hay thấp đồng nhân dân tệ ở Trung Quốc với những phá vỡ cấu trúc nội sinh, điều mà các nghiên cứu trước đây hầu như chưa đề cập đến

1.1.2 Câu hỏi nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của bài, chúng tôi tập trung vào những vấn đề sau:

 Mô hình NATREX được xây dựng dựa trên những yếu tố kinh tế cơ bản nào?

 Phương pháp thực nghiệm nào được sử dụng để tìm kiếm sự phá vỡ cấu trúc và tiếp cận mô hình NATREX mở rộng ở Trung Quốc?

 Tỷ giá thực hiệu lực được đo lường như thế nào và có những điểm khác biệt gì so với những phương pháp trong các nghiên cứu trước đây?

 Từ kết quả thực nghiệm,những yếu tốkinh tế quyết định tỷ giá thực hiệu lực cân bằng của Trung Quốc và tác động của chúng?

 Đồng Nhân tệ được đánh giá như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu này?

1.1.3 Kết cấu:

Bài nghiên cứu của chúng tôi gồm 2 phần lớn: phần thứ nhất là tổng quan về bài nghiên cứu gốc của Ke Fei You và Nicholas Sarantis; phần thứ hai là Mở rộng

Trong phần I chúng tôi đề cập đến 4 nội dung:

Mục I : giới thiệu bài nghiên cứu của You và Sarantis

Mục II : chúng tôi sẽ điểm qua kết quả của một sô nghiên cứu trước đây

Trang 15

Mục III: chúng tôi tập trung phân tích phương pháp luận của bài nghiên cứu mà tác giả đã sử dụng là gì, mô hình được áp dụng và dữ liệu được sử dụng như thế nào?

Mục IV : chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn bày nghiên cứu gốc, vấn đề được các nhà nghiên cứu đề cập đến và kết quả thu được

Với phần thứ II – phần Mở rộng, nhóm tiến hành thu thập số liệu và xem xét mô hình của bài nghiên cứu với trường hợp Việt Nam

1.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY:

1.2.1 T ng quan các phương pháp ác định tỷ giá cân ng:

1.2.1.1 Ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity)

PPP được Gustav Cassel đưa ra năm 1920, là một phương pháp đo lường mối quan hệ về sức mua của đồng tiền các quốc gia trên cùng một khối lượng của cùng loại hàng hóa Cho rằng giá cả của các sản phẩm giống nhau ở hai nước khác nhau sẽ bằng nhau khi tính bằng một đơn vị tiền tệ chung Nếu có một chênh lệch trong giá cả thì mức cầu sẽ dịch chuyển để các giá cả này trở nên cân bằng

Trong kinh tế học, với giả định rằng mọi nền kinh tế đều mở cửa hoàn toàn để hàng hóa có thể lưu thông từ nước này sang nước kia và bỏ qua chi phí vận chuyển, tỷ giá hối đoái tính theo phương pháp ngang giá sức mua đúng bằng tỷ giá hối đoái giao ngay Tuy nhiên trong thực tế, hai giả định trên không được đảm bảo và vì thêm nhiều yếu tố khác nên hai mức tỷ giá hối đoái thường khác nhau.Việc tính tỷ giá theo PPP hoàn toàn không dễ dàng do khó tìm được một thứ hàng hóa mà ở các nước khác nhau nó vẫn giống hệt nhau.Vì thế rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, điều kiện ngang giá sức mua không được duy trì

Theo PPP, tỷ giá thực hiệu lực (REER) được xác định:

REER =∑

Trong đó wi là tổng số mậu dịch với các đối tác thứ i mà quốc gia nước chủ nhà có quan hệ thương mại, Si là tỷ giá giao ngay giữa đồng tiền nước thứ i và đồng nội tệ, Pi là chỉ số giá của nước thứ i

1.2.1.2 Phương pháp FEER(Fundamental Equilibrium Exchange Rate)

Trang 16

Tỷ giá cân bằng cơ bản FEER được phát triển bởi Williamson (1994), là phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trong trung hạn Tỷ giá cân bằng FEER sẽ được xác lập khi

mà nền kinh tế đạt cân bằng cả bên trong lẫn bên ngoài Mức tỷ giá hối đoái này được gọi

là “cơ bản” vì nó loại bỏ đi những yếu tố ngắn hạn và tập trung vào các yếu tố quyết định trung và dài hạn Việc đánh giá tỷ giá hối đoái của một quốc gia có thể thực hiện bằng cách so sánh mức tỷ giá hối đoái hiện tại với mức cân bằng FEER

Vấn đề nảy sinh khi áp dụng phương pháp FEER là mức độ ảnh hưởng của các thông tin thực tế và lý thuyết đến việc xác định tỷ giá hối đoái Mức cân bằng trong phương pháp FEER được tính toán với giả định là tài khoản vãng lai được đo lường ở mức toàn dụng và với một dòng vốn ổn định Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp các tính toán này được thực hiện mà không xét đến tác động của các biến có ảnh hưởng thực

sự tới hành vi của tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái trong phương pháp tiếp cận này sẽ không thay đổi chừng nào vị thế cân bằng bên trong và bên ngoài còn được duy trì, nhưng theo quan điểm hành vi thì việc liệu một mức cân bằng như vậy có tồn, tại hay không vẫn chưa được chứng minh

Tỷ giá cân bằng FEER được xác định như sau:

FEERt= a + b1 ̅t+ b2 ̅dt + b3 ̅ft + ut

Trong đó: FEER phụ thuộc vào cán cân vốn ̅ , tổng cầu hoặc thu nhập quốc dân trong nước ( ̅d) và tổng cầu hoặc thu nhập quốc dân nước ngoài ( ̅f)

1.2.1.3 Phương pháp BEER(Behavioral Equilibrium Exchange Rate)

MacDonald (1997) và Clark và MacDonald(1998) đã đưa ra khái niệm tỷ giá cân bằng theo hành vi (BEER) nhằm ước lượng tỷ giá thực cân bằng ngắn hạn bằng một nhóm các biến kinh tế vĩ mô BEER được xây dựng dựa trên điều kiện Ngang giá lãi suất không không phòng ngừa

Cách tiếp cận BEER được áp dụng trong rất nhiều nghiên cứu gần đây về tỷ giá Trong mô hình BEER đưa ra bởi Frait và cộng sự (2004), các biến giải thích bao gồm sự khác biệt về năng suất, giá tương đối giữa hàng thương mại và phi thương mại (phản ánh hiệu ứng Balassa-Samuelson), tài sản nước ngoài ròng, giá tương đối giữa hàng xuất khẩu / nhập khẩu, độ mở của nền kinhtế (tỷ trọng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong GDP), sự khác biệt về lãi suất thực, chi tiêu Chính phủ và FDI

Trang 17

BEER được xác định như sau:

BEERt = β1INTt + β2TOTt+ β3TNTt+ β4NFAt+ β5GOVDt + ut

Trong đó: TOT là tỷ lệ mậu dịch ,TNT là tỷ lệ giữa chỉ số giá hàng hóa mậu dịch và chỉ

số giá của hàng hóa phi mậu dịch, NFA tỷ lệ tài sản ngoại tệ ròng trên tổng sản phẩm quốc dân, GOVD: tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP, INT là chênh lệch tỷ giá

1.2.1.4 NATREX (Natural real exchange rates):

Một dạng khác của FEER là tỷ giá tự nhiên (NATREX) do Stein (1994, 1995, 2002) đưa ra cũng dựa trên các cân đối vĩ mô bên trong và bên ngoài Tuy nhiên, để xác định NATREX, không chỉ xem xét các điều kiện trong trung hạn mà còn cả trong dài hạn khi mà tổng vốn và nợ nước ngoài hội tụ về các giá trị ở trạng thái dừng của nó

Nhiều nghiên cứu đã sử dụng phương pháp Natrex cho những nền kinh tế khác nhau trong những giai đoạn khác nhau Chẳng hạn như Stein (1995, 1997) sử dụng phương pháp Natrex cho U.S.A, Lim và Stein (1995) cho Australia, Stein và Sauernheimer (1996) cho Đức, Federicied và Gandolfo (2002) cho Ý, Stein và Paladino (1998) cho Pháp, Gandolfo và Felettigh (1998) áp dụng cho Italy Phương pháp NATREX cũng được sử dụng cho nước đang phát triển, Holger cùng cộng sự (2001) áp dụng NATREX ở Trung Quốc, và Kardi (2003) cho Hungary

Stein (1995) chỉ ra rằng cách phương pháp tiếp cận NATREX là không chỉ là một

mô hình mà là một tập hợp các mô hình có thể được áp dụng thay thế cho các nền kinh tế theo đặc điểm của từng nước Ví dụ, các phương pháp tiếp cận NATREX áp dụng đối với nền kinh tế Mỹ là hoàn toàn khác so với Đức và Úc Điều này là bởi vì các tính chất, quy

mô và ảnh hưởng khác nhau của các nền kinh tế đó Stein (1995) phân loại Mỹlà nền kinh tế lớn có ảnh hưởng về tỷ lệ mậu dịch và lãi suất thế giới Nền kinh tế Đức là được coi là một nền kinh tế có kích thước trung bình và Úc được phân loại như là một nền kinh

tế mở nhỏ không ảnh hưởng thương mại và lãi suất thế giới

Holger cùng cộng sự (2002) sử dụng phương pháp tiếp cận NATREX cho Trung Quốc bằng cách kết hợp biến di cư trong nước và năng suất và sử dụng phương pháp ARDL để thu được kết quả ước tính

Euro Zone, Duval (2002) áp dụng NATREX bằng cách sử dụng một chuỗi thời gian và đồng tích hợp Johansen giữa các biến có liên quan Giả định một vector đồng tích

Trang 18

hợp duy nhất, áp dụng VECM, Duval (2002) thấy được mối quan hệ dài hạn qua phương pháp Stock và Watson (1993)

Tất cả các nghiên cứu đã đề cập ở trên đã áp dụng phương pháp tiếp cận NATREX trong khuôn khổ một quốc gia bị chi phối bởi phần còn lại của thế giới Tuy nhiên, Mariama và Daniela (2007) mở rộng phương pháp tiếp cận NATREX một quốc gia để xây dựng mô hình hai quốc gia,họ xem Mỹ và khu vực châu Âu là hai quốc gia lớn

1.2.2 T ng quan các nghiên cứu tỷ giá cân ng của đ ng Nhân ân tệ:

1.2.2.1 Phương pháp PPP

Frankel (2006) sử dụng phương pháp PPP-E để nghiên cứu RMB vào năm

2000.Ông chủ yếu quan tâm đến các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau của Trung Quốc Dựa vào phương pháp PPP-E ước tính rằng đồng nhân dân tệ bị định giá thấp khoảng 36% so với đồng đô la trong năm 2000 Tuy nhiên, định giá thấp là gần giống như trong năm 1990 (34%) Mức độ định giá thấp trong khoảng thời gian này gần như là không thay đổi trong khi thặng dư tài khoản vãng lai ngày càng cao hơnđiều này làm tăng

thêm nghi ngờ về độ tin cậy của các phương pháp tiếp cận PPP nói chung

Kết luận: tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 56%

Coudert & Couharde (2005) Sử dụng phương pháp PPP-E nghiên cứu RMB vào

năm 2003 Kết quả cho thấy đồng Nhân dân tệ bị định giá thấp khoảng 41-50% tùy thuộc vào việc có loại bỏ một số quốc gia khỏi hồi quy không

Bosworth (2004) sử dụng phương pháp PPP-S để nghiên cứu RMB vào năm

2004.Đồng Nhân dân tệ vẫn bị định giá thấp, khoảng 40%, cho thấy một sự tăng giá 67%

sẽ là cần thiết để loại bỏ định giá thấp Tuy nhiên, Bosworth lưu ý "sự mong manh" của

phương pháp này

Cheung, Chinn & Fujii (2007) sử dụng phương pháp PPP-E để nghiên cứu RMB

vào năm 2007 Họ ước tính mô hình dựa trên số liệu hàng năm 1975 -2004, có mẫu rất

lớn (132 quốc gia).Họ nhận thấy, đồng nhân dân tệ được ước tính bị định giá thấp khoảng

50%.Tỷ giá thực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 100% so với USD

Chỉ số kinh tế Big Mac(2007) Chỉ số Big Mac chính là tỷ giá hối đoái mà khi đó

giá của một chiếc Hamburger ở Hoa Kỳ bằng với giá ở quốc gia khác

Trang 19

Cho thấy một sự định giá thấp 58% vào giữa năm 2007 công bố ngày 5/7/2007 Tương ứng, nó sẽ đòi hỏi tăng 138% trong đồng Nhân dân tệ so với đồng đô la để các chi phí của một Big Mac ở cùng một mức giá ngang bằng ở hai nước

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 3-6%, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 12-14%

Bénassy-Quéré và cộng sự (2004) sử dụng phương pháp BEER để nghiên cứu

Kết luận: RMB bị định giá thấp, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 18%

Trang 20

Wang (2004) sử dụng phương pháp BEER nghiên cứu RMB vào năm 2003

Nghiên cứu của Wang (2004) bao gồm một phần là các yếu tố quyết định của tỷ giá thực trong trung hạn trong một nghiên cứu của IMF Bà ước tính một mô hình ERER cho riêng Trung Quốc bằng cách sử dụng các dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1980-2003 Các biến bao gồm các thay đổi năng suất, tài sản nước ngoài ròng, và mức độ mở cửa Cân bằng tỷ giá dự kiến chỉ thấp hơn khoảng 5% so với tỷ giá thực năm 2003 và kết luận rằng tất cả sự định giá thấp là nhỏ

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 5%

Bénassy-Quéré và cộng sự (2006) sử dụng phương pháp BEER để nghiên cứu

RMB lần hai vào năm 2004

Ước tính bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý giai đoạn 1980-2004 cho 15 quốc gia, đặc biệt chú ý đến tác động của các quốc gia còn lại Sự định giá thấp trong khoảng 31% đến 45% tùy thuộc vào phương pháp được sử dụng, trong khi sự định giá lại tương ứng

so với đồng USD thay đổi từ 30% đến 59%

Kết quả: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 31-45%, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 30-59%

Mac Donald & Dias (2007) sử dụng phương pháp BEER để nghiên cứu RMB vào

năm 2007

Nghiên cứu này ước tính một mô hình BEER và sử dụng nó để dự đoán thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ là phù hợp với ba mẫu khác nhau của các kết quả tài khoản vãng lai toàn cầu hiện nay Ngoài biến năng suất tiêu chuẩn (đã bỏ qua các tài sản ròng nước ngoài thông thường), MacDonald và Dias cũng sử dụng cán cân thương mại (mặc dù hệ số của

nó nhỏ), tỷ lệ mậu dịch, và lãi suất thực

Kết quả: tỷ giá thực dưới mức cân bằng, tỷ giá thực song phương với USD cần phải đánh giá lại 8-42%

Stolper & Fuentes (2007)

Stolper & Fuentes (2007b) đã dùng phương pháp BEER để nghiên cứu RMB vào năm 2007, đưa ra mô hình DEER Goldman-Sachs là thâm hụt USD sẽ tiệm cận mức độ bền vững theo tỷ giá hiện tại của đồng đô la Do đó bất kỳ điều chỉnh đồng nhân dân tệ sẽ tạo ra sự mất giá của các đồng tiền khácnhư Euro, so với đồng USD Đồng nhân dân tệ bị

định giá thấp khiêm tốn, khoảng 7% so với USD

Trang 21

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp và cần phải định giá lại 7% so với USD

Stolper và Fuentes (2007c) dùng phương pháp BEER Ước tính một mô hình co giãn bổ sung (FEER) thiết kế để giải quyết một số vấn đề Kết quả của họ cho thấy sự cần thiết phải có một sự giảm giá đồng đô la khoảng 15%, trong đó Trung Quốc sẽ được đóng một vai trò tương xứng

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp và cần phải định giá lại 15% so với USD

số thặng dư tài khoản vãng lai cơ bản, nhưng theo tính toán thì mức thâm hụt chiếm khoảng 1% đến 1,5% của GDP Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực thực tế dưới mức cân bằng 22% (cần tăng giá 29%) và tỷ lệ song phương so với đồng USD đã được định giá thấp tương ứng 40% (cần tăng giá 67%)

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 29%, tỷ giá thực song phương với USD cần tăng giá 67%

Coudert & Couharde (2005) Sử dụng phương pháp FEER nghiên cứu RMB vào

năm 2002 và 2003

Với việc sử dụng phương pháp FEER, kết quả đạt được xác nhận một sự định giá thấp.Họ không mong đợi kết quả của họ sẽ đúng với xu thế hiện này là RMB đang bị định giá thấp, nhưng tính toán của họ đã làm sáng tỏ điều đó và việc đánh giá lại RMB là điều cần thiết: (a) để tạo ra một thâm hụt tài khoản vãng lai là 2,8% GDP (2002) và (b) để tạo ra thâm hụt tài khoản vãng lai là 1,5% GDP (2003) Họ ước tính tỷ giá thực hiệu lực

đa phương bị định giá thấp 23% - 30% và 44% - 54% so với USD

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 23-30%, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 44-54%

Trang 22

Wren-Lewis (2004) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào năm

2003

Ông đã sử dụng một mô hìnhtính toán tỷ giá hối đoái song phương với mục tiêu của kết quả là tài khoản vãng lai ở trạng thái cân bằng, và thực hiện một phần mở rộng đặc biệt để ước tính giá trị của đồng Nhân dân tệ phù hợp với các điều chỉnh cân bằng khác nhau hiện nay Ông ước tính rằng Trung Quốc có thặng dư tài khoản vãng lai

cơ bản bằng 3,4% GDP vào năm 2002 Để giảm bớt thặng dư 1% sẽ cần một sự tăng giá song phương so với đô la 19%, trong khi loại bỏ toàn bộ thặng dư sẽ cần một sự tăng giá 22 %

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp và cần phải định giá lại 19-22% so với USD

Wang (2004) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào năm 2003

Ôngước tính số dư tài khoản cơ bản của Trung Quốc hiện nay là 2,1% GDP và gải thích (a) thặng dư mục tiêu là đưa ra là 3,1% GDPhợp lí trên cơ sở tiết kiệm

và đầu tư, và (b) 1,0% GDP thặng dư sẽ ổn định tài sản nước ngoài trên GDP Những mục tiêu này tương ứng đòi hỏi sự tăng giá nhẹ hoặc giảm giá nhẹ tỷ giá

hiệu lực của đồng nhân dân tệ

Kết quả: đòi hỏi RMB tăng nhẹ (0-5%) hoặc giảm giá nhẹ (0 đến -5%)

Goldstein (2004) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào năm 2004

Ông có một dòng vốn vào ròng 1,5% GDP như bình thường, và do đó giả định rằng Trung Quốc nên nhắm mục tiêu thâm hụt tài khoản vãng lai Ước tính của ông là Trung Quốc có thặng dư tài khoản vãng lai thường xuyên là 2,5% GDP, cho rằng cần thiết phải điều chỉnh 4% GDP

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 15-30%

Cline (2005) s ụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào n m 2005

Nghiên cứu này xem xét cách tối ưu để đạt được một sự điều chỉnh mục tiêu trong tài khoản vãng lai của Mỹ (giảm 3% GDP của Mỹ vào năm 2010) Nó giả định như một phần của một quá trình điều chỉnh đa phương, thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc và các nước khác sẽ giảm 40% (từ 4,2% GDP năm 2004 đến 2,5%, cho Trung Quốc)

Kết quả: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 21%, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 45%

Trang 23

Goldstein & Lardy (2006) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào

năm 2006

Họ lập luận rằng thặng dư tài khoản vãng lai Trung Quốc năm 2005 cơ bản là trong khoảng từ 5% đến 7% GDP (trong khi kết quả thực tế 7% đến 9%, phản ánh tăng trưởng trong nước chậm hơn và một sự tăng giá trong năm 2005) Mặc dù điều này có thể là một phản ứng khá khiêm tốn để tăng ít nhất 2,5% GDP, con số cuối cùng là phù hợp với độ

co giãn và đáp ứng tài khoản vãng lai được đề xuất trong phần đầu tiên

Kết luận: tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 20-35%

Anderson (2006)sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào năm 2006

Nghiên cứu ước tính rằng số dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc đã được nâng cao trong năm 2006 bởi các yếu tố như công suất dư thừa công nghiệp nặng, và thặng

dư theo chu kỳ điều chỉnh tài khoản vãng lai là 5% GDP Dòng vốn FDI tiềm ẩn đang được ước tính là 1% GDP, đưa ra một sự điều chỉnh mục tiêu 6% GDP Áp dụng một mô hình với độ co giãn xuất khẩu là 0,5 và độ đàn hồi nhập khẩu là 0,8, ông ước tính rằng sự điều chỉnh này sẽ yêu cầu một đánh giá lại 18% đến 25% (đánh giá thấp từ 15% đến 20%)

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp, tỷ giá thực song phương với USD cần phải tăng 15%-20%

Cline (2007) s ụng FEER để nghiên cứu RMB vào n m 2007

Chấp nhận dự án của IMF : tài khoản vãng lai của Trung Quốc đang trên đà đạt mức thặng dư 6,3% GDP trong năm 2011 theo xu hướng hiện nay.Ông giải thích ba mục tiêu ông đưa ra nhằm tìm kiếm những gì cần thiết để giảm tài khoản vãng lai (a) thặng dư 1,7% GDP, (b) để tạo ra một tài khoản vãng lai cân bằng, và (c) tạo ra một mức thâm hụt 1,4% GDP Cline cho rằng điều này sẽ bao hàm một sự tăng giá đồng nhân dân tệ 21% và tăng giá song phương 45%

Kết quả: RMB đang bị định giá thấp, tỷ giá thực hiệu lực dưới mức cân bằng và cần tăng giá 11-18%, tỷ lệ giá thực song phương với USD cần tăng giá 34-39%

Goldstein & Lardy (2007) sử dụng phương pháp FEER để nghiên cứu RMB vào

năm 2007

Goldstein và Lardy (2007) đã ướng lượng xác định mức tăng giá cần thiết để loại

bỏ sự đánh giá thấp từ 35 đến 60% Một lần nữa mẫu hình của họ là cách tiếp cận độ co

Trang 24

giãn.Họ đặt phạm vi cho tham số liên quan đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái để thay đổi tài khoản vãng lai 2% - 3,5% GDP điều chỉnh cho một sự thay đổi 10% tỷ giá hối đoái thực Kết quả phạm vi áp dụng nhiều tham số thặng dƣ 12% tài khoản vãng lai năm 2007, và bằng cách giả định rằng không có phần thặng dƣ này là theo chu kỳ và có thể giảm mà không cần thay đổi tỷ giá hối đoái

Bảng tổng quan các nghi n cứu về RMB:( cần tăng l n để RMB trở về mức cân bằng)

FEER

Trang 25

1.3.1.1 Mô hình NATREX và các giả định:

Phương pháp NATREX (Natural Real Exchange Rate) được giới thiệu bởi Stein (1995) sẽ hiệu quả hơn trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng nếu các yếu tố mang tính ngẫu nhiên và tuần hoàn có thể được loại bỏ tại mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Các điều kiện cân bằng trong trung hạn quyết định NATREX là sự cân bằng của cán cân thanh toán và sự cân bằng danh mục đầu tư giữa việc nắm giữ các tài sản bằng đồng nội

tệ và ngoại tệ Trong dài hạn, các yếu tố kinh tế cơ bản được cho là làm thay đổi năng suất và sở thích theo thời gian Chúng tác động đến sự tăng lên của vốn và nợ nước ngoài thông qua hoạt động đầu tư và tài khoản vãng lai Khi vốn và nợ nước ngoài tiến về trạng thái ổn định, NATREX trở thành một hàm của các yếu tố kinh tế cơ bản

Mô hình của Stein được xây dựng để nghiên cứu cân bằng của đồng đô la Mỹ và

do đó nắm bắt đặc điểm của các nước công nghiệp tiên tiến You & Sarantis đã kết hợp một số lượng lớn các yếu tố kinh tế cơ bản đặc trưng cho Trung Quốc vàomô hìnhNATREX mở rộng Đặc biệt, các tác giả mở rộng mô hình NATREX ban đầu trong

6 khía cạnh quan trọng sau đây:

Thứ nhất, hai biến chính trong mô hình của Stein là vốn trên mỗi lao động hiệu dụng và nợ nước ngoài trên mỗi lao động hiệu dụng Vì Trung Quốc là một chủ nợ ròng, biến thứ hai trở thành tài sản nước ngoài cho mỗi lao động hiệu dụng

Thứ hai, sở thích theo thời gian được xem là biến ngoại sinh trong mô hình của Stein Theo Modigliani và Cao (2004),sở thích theo thời gian được xem là biến nội sinh được xác định bởi yếu tố nhân khẩu học và hạn chế tính thanh khoản

Thứ ba, việc sử dụng Tobin q để xây dựng hàm đầu tư dường như không thích hợp cho Trung Quốc (theo lập luận của Song, Liu và Jiang (2001); He và Qin (2004)) Vì tài sản vốn của công ty được định giá trên thị trường tài chính bằng mô hình Tobin nhưng thị trường tài chính Trung Quốcchỉ mới phát triển 15 năm, quy mô thị trường tương đối nhỏ

và có những hạn chế giao dịch do chính phủ đưa ra Hơn nữa, giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo, một giả định quan trọng của mô hình Tobin, không đúng ở Trung Quốc

Vì vậy, You & Sarantis đã phân tích tổng các khoản đầu tư ra thành đầu tư tư nhân trong nước (DPI), đầu tư của chính phủ (GI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đồng thời lập mô hình cho từng loại đầu tư riêng biệt Do đó có thể phân tích những tác động của

Trang 26

các yếu tố cơ bản như: chi phí tương đối của một đơn vị lao động, tỷ suất sinh lợi tương đối trên vốn, lên tỷ giá thực hiệu lực

Thứ tư, thay vì sử dụng số liệu xấp xỉ cho năng suất, họ suy ra năng suất các yếu

tố tổng hợp từ hàm sản xuất y = y (K, TFP) có xét đến sự phá vỡ cấu trúc Ngoài ra, họ cũng xét tốc độ tăng trưởng GDP thực tương đối và GDP thực tương đối theo đầu người hiệu chỉnh theo PPP như là hai giải pháp thay thế được đưa ra bởi Chinn và Prasad (2003)

Thứ năm, giả định ảnh hưởng của Trung Quốc đến mậu dịch thế giới vẫn còn hạn chế mặc dù khối lượng mậu dịch đã tăng tương đối You và Sarantis xem tỷ lệ mậu dịch của Trung Quốc là ngoại sinh như Lim và Stein (1995) Đó là một giả định thực tế hơn đối với các nền kinh tế thị trường mới nổi như Trung Quốc

Thứ sáu, vì ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) dường như không còn đúng đối với Trung Quốc nên phần bù rủi ro quốc gia được đưa vào trong phương trình cân đối danh mục đầu tư để giải thích sự sai lệch của UIP

Trang 27

 Sản lượng trong nước là một hàm của vốn (K) và năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) Do đó,Y= Y(K;TFP)

 Thu nhập từ nước ngoài bằng lãi suất nước ngoài nhân với tài sản nước ngoài (r'F)

 Tiêu dùng là một hàm của tài sản (vốn K cộng với tài sản nước ngoài F) và sở thích theo thời gian(phụ thuộc vào các yếu tố nhân khẩu học và hạn chế tính thanh khoản)

+ Yếu tố nhân khẩu học: Modigliani và Cao (2004) thấy rằng chính sách một con đã dẫn đến giảm dần số lượng trẻ em (dưới 15) và do đó đã làm giảm tỷ lệ tiêu dùng trên thu nhập You và Sarantisđã xem xét cả tỷ lệ phụ thuộc của trẻ em (DEPY) và người già (DEPO) Tỷ lệ phụ thuộc người già được kì vọng là có tác động cùng chiềutới tiêu dùng + Hạn chế thanh khoản (LIQC): là tỷ lệ tín dụng trong nước của khu vực tư nhân so với GDP danh nghĩa Hành vicủa người tiêu dùng ở các nước đang phát triển có thể bị chi phối bởi hạn chế thanh khoản, nó tác động đến khả năng thay thế tiêu dùng tạm thời Điều đó có nghĩa rằng các hộ gia đình có nhiều khả năng sử dụng thu nhập tương lai cho tiêu dùng hiện tại.Vì vậy, trong thị trường tài chính không hoàn hảo ở Trung Quốc, sự tăng (giảm) trong hạn chế tính thanh khoản (LIQC) là một yếu tố quan trọng quyết định đến tiêu dùng Vì vậy, hàm tiết kiệm của Trung Quốc là:

S = Y( K; TFP ) + r’F – C( K, F; LIQC, DEPY, DEPO ) (1)

= S (K, F; TFP, r’, LIQC, DEPY, DEPO)

+ - + + + - -

1.3.1.2.2 Tỷ lệ mậu dịch và tỷ giá hối đoái thực

Giả định rằng nền kinh tế sản xuất một loại hàng hóa xuất khẩu 1 và một loại hàng hóa phi mậu dịch n Tương tự, ở nước ngoài có hàng hóa xuất khẩu 2 và hàng hóa phi mậu dịch n

Rn biểu thị giá tương đối của hàng hóa phi mậu dịch (pn) so với hàng hóa xuất khẩu (p1)

Rn = (2)

Tỷ lệ mậu dịch (T) là giá tương đối của hàng xuất khẩu 1 (p1) so với hàng nhập khẩu 2 (p'2) được đo bằng một đồng tiền chung:

Trang 28

T = N x

(3) Trong đó N là tỷ giá hối đoái danh nghĩa (ngoại tệ trên một nhân dân tệ) Tỷ giá hối đoái thực của Trung Quốc (R) là tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh bởi giá cả:

R = N x

(4) Trong đó p và p' lần lượt là chỉ số giảm phát GDP trong nước và nước ngoài

R = T(Rn)a (5)

1.3.1.2.3 Đầu tư:

Tổng đầu tư (I) được phân chia thành thành đầu tư tư nhân trong nước (DPI), đầu

tư chính phủ (GI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

Trong đó pk, p, r, và lần lượt là giá của tư liệu sản xuất, giá đầu ra, lãi suất thực,

tỷ lệ khấu hao, tổng thuế suất

Tư liệu sản xuất gồm phần m (hàng nhập khẩu 2) và (1-m) của hàng phi mậu dịch

n nên giá của vốn pk = (

Vốn được sử dụng để sản xuất phần a hàng xuất khẩu 1 và (1-a) hàng phi mậu dịch n thì giá đầu ra là p = (p1)a(pn)(1-a)

Giá tương đối pk/p trong công thức (7) có thể được viết lại như sau:

= T-mRna-m

Trang 29

 Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) là một thành phần quan trọng trong tổng đầu

tư của Trung Quốc Ho (2004) xem xét những yếu tố quyết định của FDI cho Trung Quốc

và thấy rằng tiền lương và rủi ro quốc gia là những yếu tố quan trọng nhất Trong nghiên cứu này, You và Sarantis xây dựng chi phí tương đối cho mỗi lao động hiệu dụng để nắm bắt tác động của tiền lương lên FDI ở Trung Quốc Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng rủi ro quốc gia có tác động đáng kể đến FDI You & Sarantis sử dụng tài sản nước ngoài ròng F gần đúng như rủi ro quốc gia và kết hợp nó vào hàm FDI Hơn nữa, họ cho rằng tỷ suất sinh lợi trên vốn ở Trung Quốc là yếu tố quyết định FDI Vì vậy, FDI là một hàm của chi phí tương đối cho mỗi đơn vị lao động (RULC), tỷ suất sinh lợi trên vốn (RRC) và rủi ro quốc gia (xấp xỉ bằng F)

Vốn được sử dụng để sản xuất hàng phi mậu dịch n và hàng xuất khẩu 1, trong khi

tư liệu sản xuất bao gồm hàng phi mậu dịch n và hàng nhập khẩu 2 Giá tương đối của hàng phi mậu dịch so với hàng nhập khẩu (TRn = N x pn/p'2), tác động đến tỷ lệ đầu tư sử dụng hàng phi mậu dịch In và đầu tư sử dụng hàng nhập khẩu I2 trong tổng đầu tư I Ví

dụ, một mức giá tương đối cao hơn của hàng phi mậu dịch làm giảm In và tăng I2

I = I2 + In = I2(DPI(Y(K,TFP),c), GI, FDI(RULC,RRC,F), Rn, T)

+ In(DPI(Y(K;TFP),c), GI, Rn, T)

= ( Rn , K, F; TFP, GI, RULC, RRC, T, r, ) (8)

+/- + + + + - + + - -

1.3.1.2.4 Cân bằng thị trường hàng hóa:

Điều kiện cân bằng thị trường hàng hóa:

(I – S) + CA = 0

Một nền kinh tế gồm có khu vực mậu dịch và khu vực phi mậu dịch Tỷ lệ mậu dịch là ngoại sinh, tức là khu vực mậu dịch đã cân bằng nên điều kiện cân bằng của thị

Trang 30

trường hàng hóa chính là điều kiện cân bằng thị trường hàng hóa phi mậu dịch (theo Lim

& Stein, 1995):

Cn (Rn,K,F;LIQC,DEPO,DEPY,T) + In(Rn,K;TFP,r, ,GI,T) =Yn(Rn,K;TFP) (9) Phương trình (9) hàm ý là cầu hàng phi mậu dịch (bao gồm tiêu dùng Cn và đầu tư

In sử dụng cho hàng phi mậu dịch), bằng với cung hàng phi mậu dịch Yn

1.3.1.2.5 Tài khoản vãng lai:

Tài khoản vãng lai là cán cân thương mại cộng với thu nhập từ tài sản nước ngoài (r’F) Cán cân thương mại là giá trị của hàng xuất khẩu 1 (Y1) trừ đi giá trị hàng nhập khẩu 2, bao gồm cả tiêu dùng và đầu tư sử dụng hàng nhập khẩu (C2 và I2)

CA = Y1(Rn, K; TFP) – I2(Rn, K; TFP, r, ,GI, RULC, RRC, T)

– C2(Rn, K, F; LIQC, DEPY, DEPO, T) + r’F (10)

1.3.1.2.6 Cân bằng danh mục đầu tư:

Cân bằng danh mục đầu tư giữa việc nắm giữ tài sản bằng đồng nội tệ và ngoại tệ, khi đó lãi suất thực trong nước phải bằng lãi suất thực nước ngoài Nhưng vì UIP không còn đúng ở Trung Quốc nên phần bù rủi ro quốc gia được đưa vào phương trình cân bằng danh mục đầu tư

Ma và các cộng sự (2004), Liu và Otani (2005) thấy rằng UIP không còn đúng ở Trung Quốc là do chi phí giao dịch, rủi ro chính trị, rủi ro tỷ giá…nhưng kiểm soát vốn của vẫn hiệu quả

r = r’ + h(F) = (r’, F) (11)

+ -

Trong đó: tài sản nước ngoài F được dùng để tính gần đúng phần bù rủi ro quốc gia của Trung Quốc

1.3.1.2.7 Sự tích lũy vốn và tài sản nước ngoài:

Sự tích lũy vốn được cho bởi:

Trang 31

Trong trung hạn, cường độ vốn và tài sản nước ngoài được sử dụng như là biến số được xác định trước Tỷ lệ mậu dịch là ngoại sinh cho Trung Quốc, điều này có nghĩa là điều kiện cân bằng của thị trường hàng hóa bằng với cân bằng thị trường phi mậu dịch, được đưa ra bởi phương trình (9)

Giải thích Rn làm cân bằng thị trường phi mậu dịch trong phương trình (9)

Rn(t) = Rn(K(t), F(t), Z(t)), (14)

Z = [TFP, LIQC, DEPY, DEPO, r’, , GI, T ] (15)

Trong đó: Z biểu thị yếu tố kinh tế cơ bản để xác định giá tương đối của hàng phi mậu dịch Theo phương trình (11) r’ thay cho r và F chỉ tăng lên trong dài hạn

Dựa vào phương trình (5) và (14), tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong trung hạn được xác định:

Rn và vì thế cũng tác động lên R, như mô tả trong đường cong của K* và F* ở hình trên

Trang 32

1.3.1.4 Sự điều chỉnh linh hoạt

Sự điều chỉnh trong dài hạn bao gồm những biến đổi của vốn và tài sản nước ngoài Kết hợp sự thay đổi của vốn (phương trình (12)), đầu tư (phương trình (8)) và cân bằng danh mục đầu tư (phương trình (11)), phương trình cho sự tăng lên của vốn:

Phân tích sự ổn định trong dài hạn của vốn và tài sản nước ngoài:

(1) J= 0 là quỹ tích của các điểm vốn và tài sản nước ngoài mà tại đó tỷ lệ đầu tư bằng 0 Nó dốc dương vì

= >0 với JK< 0 và JF> 0

Một sự gia tăng trong vốn làm giảm năng suất biên của vốn và làm giảm đầu tư:

JK< 0 Một sự gia tăng trong tài sản nước ngoài làm giảm rủi ro quốc gia và lãi suất thực trong nước, do đó đầu tư cao hơn: JF> 0 Phía bên trái của J = 0: năng suất biên lớn hơn chi phí sử dụng vốn (

> c ) và K<K*, vốn tăng Phía bên phải của J = 0: năng suất biên nhỏ hơn chi phí sử dụng vốn (

< c ) và k > k*, vốn giảm

(2) L = 0 là quỹ tích của các điểm vốn và tài sản nước ngoài mà tại đó đầu tư bằng

tiết kiệm nên vốn không chảy ra ngoài, ở bất kì điểm nào của đường cong L = 0, tài khoản vãng lai bằng 0 Đường cong L = 0 dốc dương vì

= > 0 với LK< 0 và

LF> 0

Một sự gia tăng trong vốn làm giảm đầu tư (JK< 0) và tăng tiết kiệm (Sk>0) và do

đó [tiết kiệm – đầu tư] tăng (Lk>0).Tài sản nước ngoài tăng làm tăng của cải , do đó tiêu dùng tăng, làm tiết kiệm giảm (SF<0) và đầu tư tăng (JF>0) và do đó [tiết kiệm – đầu tư] giảm (LF<0)

2 Giả định n=0 theo Lim vá Stein(1995)

Trang 33

Phía trên đường L=0: tài sản nước ngoài lớn hơn giá trị cân bằng (F>F*), đầu tư lớn hơn tiết kiệm và tài khoản vãng lai thâm hụt (CA<0) Vì vậy tài sản nước ngoài giảm

về giá trị cân bằng

Phía dưới đường L=0: tài sản nước ngoài thấp hơn giá trị ở cân bằng(F<F*), tiết kiệm lớn hơn đầu tư và tài khoản vãng lai thặng dư (CA>0) Vì vậy tài sản nước ngoài tăng về giá trị cân bằng

Quỹ đạo của vốn và tài sản nước ngoài tiến về trạng thái cân b ng

Để đảm bảo tính bền vững của mô hình, độ dốc của J=0 lớn hơn của L=0 Điều này được giải thích chi tiết như sau:

Với

>0,

>0, >0, >0, >0, >0, dấu của - - ( ) là không rõ ràng Có hai khả năng:

- - ( ) => G = JkLF – LkJF>0 (Trường hợp 1)

- - ( ) => G = JkLF – LkJF<0 (Trường hợp 2)

Trang 34

Trường hợp 1: G = JkLF – LkJF>0 ( đường J = 0 có độ dốc lớn hơn đường L = 0) (xem hình 1)

Tất cả các đường vẽ đều chạy hướng về điểm cân bằng E Một số đường chỉ chạy trong một vùng ổn định(như E1-E, E3-E) và những đường khác đi từ vùng này sang vùng khác (như E4-M-E, E2-N-E) Một đường có độ dốc bằng 0 khi đi ngang qua L = 0, có độ dốc vô hạn khi đi ngang qua J = 0 Điều này là do dọc theo đường L = 0 (hay J = 0), L (hoặc J) luôn dừng theo thời gian Vì vậy, các đường vẽ không có bất kì sự di chuyển ngang (dọc) khi đi ngang qua đường cong đó Điểm cân bằng (E) trên sơ đồ này là một điểm ổn định, đảm bảo sự ổn định của mô hình

Trường hợp 2: G = JkLF – LkJF<0 ( đường J = 0 có độ dốc nhỏ hơn đường L = 0) (xem hình 2)

Điểm (E) trên sơ đồ này không phải là điểm cân bằng Nhánh ổn định chạy thẳng

về E, nhánh không ổn định chạy liên tục ra xa nó Các nhánh khác ban đầu hướng về điểm E nhưng sau đó đều bị chuyển hướng chạy ra xa E Điểm E như vậy không đảm bảo tính ổn định của mô hình

Vì thế, điều kiện ổn định là G = JKLF – LKJF > 0 đúng, miễn là (a): tác động của tổng vốn lên đầu tư lớn hơn tác động của tài sản nước ngoài lên đầu tư (-JK>JF), tiến về J=0 và (b): tác động của tài sản nước ngoài lên tài khoản vãng lai thì lớn hơn tác động của vốn lên tài khoản vãng lai (-LF>LK), tiến về L=0

Trang 35

Hình 1 Trường hợp 1: G>0

Hình 2 Trường hợp 2: G < 0

Trang 36

Cn(Rn*,K*,F*;LIQC,DEPY,DEPO,T)+In(Rn*,K*,F*;TFP,r, ,GI,T)=Yn(Rn*,K*;TFP) (24) Giải phương trình (24) ta có được biểu thức củaR*n (phương trình (25)) và suy ra

Xét phương trình (26) hai số hạng đầu ở vế phải mô tả tác động gián tiếp của Z lên

R n thông qua sự thay đổi của K* và F*

trong dài hạn Số hạng cuối mô tả tác động trực tiếp của Z lên R n trong trung hạn

Theo phương trình (27), các yếu tố kinh tế cơ bản tác động đến giá tương đối của hàng phi mậu dịch Rn* sẽ tác động đến tỷ giá hối đoái thực R*trong dài hạn theo cách tương tự Chỉ có tỷ lệ mậu dịch là ngoại lệ, T tác động trực tiếp đến R và tác động gián tiếp thông qua Rn Tác động trực tiếp thì luôn cùng chiều trong khi tác động gián tiếp thì chưa rõ ràng vì T làm giảm Rn trong trung hạn nhưng tăng trong dài hạn Tuy nhiên, tác động gián tiếp này khá nhỏ so với tác động trực tiếp, vì vậy tỷ lệ mậu dịch cao hơn được mong đợi sẽ tạo ra sự tăng lên của tỷ giá hối đoái thực trong trung hạn và dài hạn

Ngày đăng: 01/04/2014, 02:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kí hiệu thuật ngữ - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
Bảng k í hiệu thuật ngữ (Trang 12)
Hình 2. Trường hợp 2: G &lt; 0 - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
Hình 2. Trường hợp 2: G &lt; 0 (Trang 35)
Hình 1. Trường hợp 1: G&gt;0 - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
Hình 1. Trường hợp 1: G&gt;0 (Trang 35)
Hình 3. NATREX và REER - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
Hình 3. NATREX và REER (Trang 52)
Hình  4.  Tỷ  lệ  chênh  lệch  (%).  Chú  ý:  Tỷ  lệ  chênh  lệch  =  (REER- (REER-NATREX)/NATREX*100% - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
nh 4. Tỷ lệ chênh lệch (%). Chú ý: Tỷ lệ chênh lệch = (REER- (REER-NATREX)/NATREX*100% (Trang 53)
Bảng : T ng hợp các chỉ số trong REER* - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
ng T ng hợp các chỉ số trong REER* (Trang 61)
Hình 4. NATREX và REER - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
Hình 4. NATREX và REER (Trang 69)
Hình 5. Chênh lệch REER và NATREX - Sự phá vỡ cấu trúc và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng tại trung quốc : Phương pháp NATREX
Hình 5. Chênh lệch REER và NATREX (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w