1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Áp dụng hóa mô miễn dịch trong đánh giá đặc điểm biểu hiện của gen idh1 và idh2 với u thần kinh đệm lan tỏa bán cầu não

7 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng hóa mô miễn dịch trong đánh giá đặc điểm biểu hiện của gen IDH1 và IDH2 với u thần kinh đệm lan tỏa bán cầu não
Tác giả Nguyễn Sỹ Lánh, Nguyễn Phúc Cương, Hoàng Xuân Sử, Nguyễn Thúy Hương
Trường học Học viện Quân Y
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu lâm sàng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 273,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG 15TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM | SỐ 18/20200 Áp dụng hóa mô miễn dịch trong đánh giá đặc điểm biểu hiện của gen IDH1 và IDH2 với u thần kinh đệm lan tỏa bán cầu não Nguyễn Sỹ Lánh1, N[.]

Trang 1

Áp dụng hóa mô miễn dịch trong đánh giá

đặc điểm biểu hiện của gen IDH1 và IDH2

với u thần kinh đệm lan tỏa bán cầu não

Nguyễn Sỹ Lánh 1 , Nguyễn Phúc Cương 1 , Hoàng Xuân Sử 2 , Nguyễn Thúy Hương 3

1 Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

2 Viện Nghiên cứu Y dược học Quân sự, Học viện Quân y

3 Bộ môn Giải phẫu bệnh, Trường Đại học Y Hà Nội

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định đặc điểm giải phẫu bệnh

và mức độ biểu hiện của gen IDH1 và IDH2 bằng

các kháng thể đặc hiệu của u thần kinh đệm lan tỏa

(UTKĐLT) ở bán cầu não

Vật liệu nghiên cứu: Tiêu bản, khối nến của

các trường hợp mổ u não tại Bệnh viện Việt Đức từ

6/2014 đến 6/2017

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Phân tích đặc điểm phân bố bệnh về giới, tuổi

Chẩn đoán, phân loại và phân độ mô học u não dựa

theo hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới

2007 Đặc điểm biểu hiện của gen IDH1 và IDH2

qua phản ứng hóa mô miễn dịch với kháng thể đặc

hiệu Đánh giá dương tính với IDH1 và IDH2 là

≥10% số tế bào u dương tính mạnh và vừa Đánh

giá dương tính với Ki67 là khi ≥ 10% nhân tế bào u

dương tính mạnh và vừa

Kết quả: Có 130, nam chiếm 58,5%, nữ

chiếm 41,5%, tỷ lệ: nam/nữ = 1,4:1 UTKĐLT

chủ yếu thuộc ba nhóm chính: UTKĐLT loại

hỗn hợp tế bào thần kinh đệm ít nhánh và sao

bào (Oligoastrocytoma) là 17,1; U thần kinh đệm

(UTKĐ) loại hỗn hợp giảm biệt hóa (Anaplastic

Oligoastrocytoma) là 37,7% và U nguyên bào thần

kinh đệm (Giloblastoma) là 35,4% Độ mô học thấy: U độ 2 là 20,0%; độ 3 là 44,6% và độ 4 là 35,4% Độ mô học có mối liên quan chặt chẽ với

độ tuổi của bệnh nhân, tuổi càng lớn thì độ mô học càng cao với p <0,001 Tỷ lệ bộc lộ của Ki67 liên quan chặt chẽ với độ mô học của khối u (p<0,001)

Tỷ lệ bộc lộ của gen IDH1R132H khi nhuộm hóa

mô miễn dịch (HMMD) với kháng thể đặc hiệu tương ứng là: 64,6% dương tính Tỷ lệ bộc lộ của gen IDH2R172 khi nhuộm HMMD với kháng thể đặc hiệu tương ứng là: 13,1% dương tính Mức độ

và tỷ lệ biểu hiện của gen IDH1và IDH2 đối với các UTKĐLT là phân bố khá đều trong tất cả các típ

vi thể mô bệnh học và ở tất cả các độ mô học khác nhau (p>0,05)

Kết luận: UTKĐLT gặp ở mọi lứa tuổi và ở

cả 2 giới, tỷ lệ nam mắc bệnh cao hơn hơn nữ Ba nhóm UTKĐLT chính thường gặp là: UTKĐLT loại hỗn hợp tế bào thần kinh đệm ít nhánh và sao bào (Oligoastrocytoma); UTKĐ loại hỗn hợp giảm biệt hóa (Anaplastic Oligoastrocytoma) và

U nguyên bào thần kinh đệm (Giloblastoma) Kết quả bước đầu cho thấy có 64,6% các trường hợp dương tính với IDH1R132H và 13,1% dương tính với IDH2 Kết quả này cho thấy sử dụng kỹ thuật

Ngày nhận bài: 12/6/2020 Ngày phản biện: 31/7/2020 Ngày chấp nhận đăng: 6/8/2020

Trang 2

nhuộm hóa mô miễn dịch cũng phát hiện được các

biểu hiện của đột biến gen IDH1 và IDH2 với khả

năng tương đồng rất cao với các tác giả khác trên thế

giới khi thực hiện phát hiện đột biến gen IDH1 và

IDH2 bằng kỹ thuật sinh học phân tử

Từ khóa: u thần kinh đệm lan tỏa, u nguyên bào

thần kinh đệm, IDH1, IDH2 và nhuộm hóa mô

miễn dịch

ĐẶT VẤN ĐỀ

U thần kinh đệm (UTKĐ, glioma) là những

khối u nội sọ nguyên phát thường gặp nhất, chiếm

80% các trường hợp u não ác tính và 30% các trường

hợp u của hệ thần kinh trung ương nói chung Với

một tỷ lệ mắc hàng năm là 6-7 trường hợp/ 100.000

dân, là khối u nguyên phát chiếm hơn một nửa các u

não ở người lớn [10] và là một trong số 10 nguyên

nhân tử vong do ung thư hàng đầu [1], [10] Tại Mỹ

tỷ lệ mắc u não nguyên phát là 18,1/100.000 dân

mỗi năm, và tỷ lệ sống còn tương ứng với 2, 5, 10

và 20 năm lần lượt là 62%, 54%, 45% và 30% [10]

Tại Pháp gặp 3.000 bệnh nhân UTKĐ ác tính mỗi

năm [3] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả

Trần Minh Thông, trong thời gian 1/2000-7/2007

tại Bệnh viện Chợ Rẫy có 1187 trường hợp u sao bào

được chẩn đoán và phẫu thuật, trong đó u sao bào độ

ác cao (u sao bào giảm biệt hóa, u nguyên bào thần

kinh đệm) chiếm 56% [15] Sự khác biệt giữa thương

tổn lành tính và ác tính là ít rõ ràng trong u não hơn

trong các u của cơ quan khác Một số UTKĐ có đặc

điểm mô bệnh học được cho là lành tính gồm: chỉ

số phân bào thấp; tính đồng dạng của tế bào cao;

và ít tăng sinh mạch thì lại có thể xâm nhập mô não,

từ đó dẫn đến các biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng

và tiên lượng xấu Tuy nhiên, cho đến nay mọi kết

luận về chẩn đoán và tiên lượng đều phụ thuộc vào

quyết định chủ quan của các nhà giải phẫu bệnh, nên

vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Vì thế, việc

nghiên cứu tìm ra các dấu ấn sinh học khách quan

hơn, giúp tiên lượng bệnh là rất quan trọng Gần đây, người ta có thể chia UTKĐ thành 5 nhóm chính [4] dựa trên 3 dấu ấn của khối u là đột biến vùng khởi động gen TERT, đột biến các gen IDH và mất đoạn đồng thời của nhiễm sắc thể 1p và 19q Sự phân chia này có ý nghĩa về mặt tiên lượng bệnh và hứa hẹn sẽ sớm được đưa vào ứng dụng trong lâm sàng [4] Trong UTKĐ, các đột biến gen IDH được xác định xảy ra ở gen IDH1 hoặc IDH2 Đột biến gen IDH1 là phổ biến hơn nhiều so với gen IDH2 tương ứng 85% và 3% của các u thần kinh đệm độ 2 (Kim

và cs 2011)[21] Khi đột biến IDH1 thì hơn 93% tại

vị trí R132H mà sản phẩm của nó đã được dùng để sản xuất kháng thể chống R132H chọn lọc và được

sử dụng trong thực hành chẩn đoán thông thường với các mẫu mô cố định trong formalin và vùi trong paraffin (Capper và cs 2009) Sự hiện diện của đột biến gen IDH là một yếu tố tiên lượng tốt của u thần kinh đệm độ 2, 3 và 4 (Sanson và cs 2009, Metellus

và cs 2010) mặc dù chưa thấy sự đồng ý hoàn toàn bởi tất cả các tác giả (Kim và cs 2010)

Có hai dạng đồng phân lớn của nhóm gen IDH

mã hóa enzyme cho phản ứng khử carboxyl của nhánh citrate vào alpha-ketoglutarate phụ thuộc NADP + IDH1 tác dụng ở trong bào tương và IDH2 ở trong ti thể Đột biến thường xuyên báo cáo trong u thần kinh đệm ảnh hưởng đến hoạt động các enzyme là tại vị trí: R132 với IDH1 và R172 với IDH2, dẫn đến tích tụ các chất chuyển hóa 2-hydroxyglutarate Các đột biến của IDH1 và IDH2 ảnh hưởng đến một allele và loại trừ lẫn nhau Gen IDH do đó có thể được coi là gen tiền ung thư (protooncogenes) nhưng đột biến tác động với cơ chế nào thì vẫn chưa được sáng tỏ hoàn toàn cho đến nay Nghiên cứu gần đây trong các tài liệu cho thấy các đột biến gen IDH là rất phổ biến trong các UTKĐLT độ II, III, bất kể dưới típ mô bệnh học gồm u sao bào, u tế bào thần kinh đệm ít nhánh hoặc

u hỗn hợp và u nguyên bào thần kinh đệm thứ phát

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành làm hóa mô miễn dịch với

kháng thể đặc hiệu để khảo sát mức độ biểu hiện

của gen IDH1R132 và IDH2R172 cho 130 bệnh

nhân được chẩn đoán là u thần kinh đệm lan tỏa

theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG,

WHO) năm 2007 với phân độ mô học từ độ từ II

đến IV được tiến hành tại Khoa Giải phẫu bệnh -

Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, trong giai đoạn từ

tháng 6 năm 2014 đến tháng 6 năm 2017

Tiêu chuẩn chọn bệnh:

- Có ghi nhận đầy đủ thông tin lâm sàng

- Có tiêu bản lưu trữ, đảm bảo chất lượng

chẩn đoán

- Có khối nến đảm bảo để nhuộm HMMD

- Có kết quả chẩn đoán mô bệnh học sau mổ là

UTKĐLT

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Các trường hợp không có đầy đủ thông tin

như trên

- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học sau mổ là

UTKĐLT nhưng tiêu bản hoặc khối nến bị hỏng,

mốc, không đảm bảo chất lượng hoặc bệnh phẩm

không đủ cắt nhuộm HE, HMMD

Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu mô tả, cắt ngang

- Chọn mẫu theo thời gian

Biến số nghiên cứu

- Tuổi, giới

- Kết quả chẩn đoán mô bệnh học theo WHO

2007

- Kết quả nhuộm HMMD bằng máy:

BENCHMARK-XT/VETANA với các kháng

thể đặc hiệu gồm: IDH1R132H, IDH2R172,

GFAP, OLIGO2, Ki67

- Tiêu chuẩn đánh giá với các dấu ấn hóa mô

miễn dịch IDH1 và IDH2 là bán định lượng với

tiêu chí là: khi ≥ 10% số tế bào bắt màu ở bào tương

mức độ mạnh hoặc vừa là được xác định dương tính; khi < 10% tế bào u bắt màu yếu thì được xác định là âm tính

- Tiêu chí đánh Ki67 là: khi ≥ 10% số lượng tế bào u có nhân bắt màu mức độ mạnh hoặc vừa thì được xác định là dương tính; khi < 10% số lượng tế bào u có nhân bắt màu mức độ yếu là âm tính

Xử lý số liệu

- Tất cả các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học trên phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tuổi và giới

Trong số 130 bệnh nhân có 76 là nam giới chiếm 58,5% và 54 bệnh nhân là nữ, chiếm 41,5% Tỷ lệ nam/nữ là 1,4 :1

Bảng 1 Phân bố theo nhóm tuổi

(Nhóm tuổi hay gặp nhất là 30 - 40 và 50 - 60)

Hình ảnh vi thể

Bảng 2 Phân bố nhóm vi thể theo WHO 2007

U thần kinh đệm lan tỏa loại hỗn hợp tế bào thần kinh đệm ít nhánh và sao bào (Oligoastrocytoma)

U tế bào thần kinh đệm ít nhánh

Trang 4

U thần kinh đệm loại hỗn hợp giảm biệt

U tế bào thần kinh đệm ít nhánh giảm

U sao bào giảm biệt hóa (Anaplastic

U nguyên bào thần kinh đệm

(Ba nhóm: UTKĐLT loại hỗn hợp; UTKĐ

giảm biệt hóa và U nguyên bào thần kinh đệm là

hay gặp nhất)

Bảng 3 Phân bố độ mô học

(Độ 3 chiếm 44,6% là hay gặp nhất)

Bảng 4 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và độ mô học

của khối u

Độ tuổi

Độ mô học

và Tỷ lệ %

và tỷ lệ %

Độ 2

Tỷ lệ %

25 96,2%

1 3,8%

26 100,0%

Độ 3

Tỷ lệ %

45 77,6%

13 22,4%

58 100,0%

Độ 4

Tỷ lệ %

20 43,5%

26 56,5%

46 100,0%

69,2%

40 30,8%

130 100,0%

(n=130; Chi-Square = 25,069; minimun = 8,0;

p<0,0001)

Bảng 5 Mối liên quan giữa tỷ lệ bộc lộ Ki67 và độ mô học của khối u

Tỷ lệ Ki67

Độ mô học

và Tỷ lệ %

và tỷ lệ %

Độ 2

Tỷ lệ %

25 96,2%

1 3,8%

26 100,0%

Độ 3

Tỷ lệ %

26 44,8%

32 55,2%

58 100,0%

Độ 4

Tỷ lệ %

0 0%

46 100,0%

46 100,0%

39,2%

79 60,8%

130 100,0%

(n=130; Chi-Square = 65,825; minimun = 10,28; p<0,0001)

Đặc điểm biểu hiện IDH1 và IDH2

Bảng 6 Tình trạng biểu hiện IDH1R132H

(Tỷ lệ dương tính chiếm 64,6%)

Bảng 7 Tình trạng biểu hiện IDH2

(Tỷ lệ dương tính là 13,1%)

Trang 5

Bảng 8 Mối liên quan giữa tình trạng biểu hiện IDH1

và độ mô học của khối u

Tình trạng

IDH1

Độ mô học

và Tỷ lệ %

IDH1

Tổng số

và tỷ lệ %

Độ 2

Tỷ lệ %

15 57,7%

11 42,3%

26 100,0%

Độ 3

Tỷ lệ %

26 62,1%

22 37,9%

58 100,0%

Độ 4

Tỷ lệ %

33 71,7%

13 28,3%

46 100,0%

64,6%

46 35,4%

130 100,0%

(n=130; Chi-Square = 1,731; minimun =9,20;

p>0,421)

Bảng 9 Mối liên quan giữa tình trạng biểu hiện IDH2

và độ mô học của khối u

Tình trạng IDH2

Độ mô học

và Tỷ lệ %

số và tỷ

lệ %

Độ 2

Tỷ lệ %

2 7,7%

24 92,3%

26 100,0%

Độ 3

Tỷ lệ %

10 17,2%

48 82,8%

58 100,0%

Độ 4

Tỷ lệ %

5 10,9%

41 89,1%

46 100,0%

13,1%

113 86,9%

130 100,0%

(n=130; Chi-Square = 1,745; minimun = 3,40;

p>0,418)

BÀN LUẬN

Tuổi và giới

Trong số 130 bệnh nhân có 76 là nam giới chiếm 58,5% và 54 bệnh nhân là nữ, chiếm 41,5% Tỷ lệ nam/nữ là 1,4 :1 Về tỷ lệ giới thì kết quả của chúng tôi cũng khá tương đồng với các nghiên cứu khác như của Trần Chiến, Dương Chạm Uyên trong những năm gần đây và kết quả của Nguyễn Phúc Cương, Phạm Kim Bình, Nguyễn Sỹ Lánh, những năm 2000 đến 2005 [18], [19], [20], [22], [23]

Về phân bố theo nhóm tuổi thì gặp nhiều ở độ tuổi sau 30 đến 60 tuổi, cũng tương đồng với các tác giả khác như Nguyễn Phúc Cương, Phạm Kim Bình, Trần Chiến và Phạm Minh Thông, chưa có sự thay đổi rõ ràng [15], [18], [23]

Hình ảnh vi thể

Hình ảnh vi thể theo phân loại của WHO năm

2007 thì chúng tôi gặp hầu hết các loại trong nhóm UTKĐLT, trong đó gặp nhiều nhất là UTKĐ hỗn hợp giảm biệt hóa chiếm 37,1 %, sau đó là u nguyên bào thần kinh đệm cũng chiếm 35, % và nhóm UTKDDLT loại hỗn hợp chiếm 13,7% Các u sao bào hoặc u tế bào thần kinh đệm ít nhánh đơn thuần chiếm tỷ lệ thấp, tỷ lệ này có khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Phúc Cương vào những năm 2000,

có lẽ do chúng tôi đã áp dụng nhuộm HMMD vào trong phân loại của WHO năm 2007 với các kháng thể GFAP và Oligi2 đã làm tăng tỷ lệ UTKĐ hỗn hợp so với trước kia khi chưa có hóa mô miễn dịch [18], [19], [22] So với các tác giả của Nhật Bản và

Mỹ thì tỷ lệ của chúng tôi là khá tương đồng về tỷ

lệ của UTKĐ loại hỗn hợp thường là cao hơn hẳn

so với loại u sao bào hoặc u tế bào thần kinh đệm ít nhánh thuần túy và cũng là một trong các yếu tố làm cho phân loại UTKĐ lan tỏa của WHO năm 2016 không còn chia ra thành các nhóm có tên theo từng loại tế bào u [4], [13], [21] Sự phân bố về độ mô học, chúng tôi gặp ở tất cả các mức độ từ độ 2 đến

độ 4, nhiều nhất là độ 3 và độ 4 chiếm đến 1/3 số

Trang 6

trường hợp So với các nghiên cứu trước đó vào năm

2001 cũng tại Bệnh viện Việt Đức thì chúng tôi thấy

khá tương đương, độ 4 chiếm 22 trong số 60 trường

hợp u thần kinh đệm lan tỏa [18], [19], [22]

Trong phân tích mối liên quan giữa độ tuổi và

độ mô học, chúng tôi lấy mức 55 tuổi để so sánh

thấy có sự liên quan chặt chẽ có ý nghĩa thống kê

giữa độ tuổi và độ ác tính của khối u

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo

sát thử tìm mối liên quan giữa tỷ lệ dương tính với

kháng thể Ki67 và độ mô học của các UTKĐLT thì

chúng tôi thấy có sự liên quan rất rõ ràng Những

u có độ mô học càng lớn thì mức độ dương tính

với Ki67 càng tăng cao và sự khác biệt là có ý nghĩa

thống kê với p<0,001 Trong nghiên cứu của tác

giả Preusser M và cs với 79 trường hợp u thần kinh

đệm lan tỏa thấy rằng những trường hợp tỷ lệ Ki67

dương tính thấp thì thời gian sống thêm không bệnh

và tổng thời gian sống cao hơn nhóm có tỷ lệ Ki67

dương tính cao [4], [13] Trong một số nghiên cứu

đã dùng chỉ số này để giúp cho việc phân loại chính

xác hơn về độ mô học, đặc biệt trong những trường

hợp lượng mẫu giới hạn hoặc khó đánh giá các tiêu

chuẩn chính như: hoại tử, tỷ lệ nhân chia, tăng sinh

mạch và mật độ tế bào cùng với dấu hiệu đa hình

nhân [3], [13]

Đặc điểm biểu hiện của IDH1 và IDH2

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đối

với IDH1R132H thì tỷ lệ dương tính là 64,6% và

sự phân bố theo độ mô học từ 57,7% với nhóm u

thần kinh đệm độ thấp và 71,7% với u nguyên bào

thần kinh đệm Kết quả này cũng tương đồng với

các nghiên cứu của các tác giả khác nghiên cứu bằng

kỹ thuật phát hiên đột biến gen trên thế giới Năm

2009 tác giả Yukihiko Sonoda và cộng sự đã công bố

trong một nghiên cứu gồm 125 trường hợp u thần

kinh đệm thấy tỷ lệ đột biến gen IDH1 và IDH2

bằng phương pháp giải trình tự gen trực tiếp đối với

u thần kinh đệm ít nhánh là 67%, với u sao bào giảm

biệt hóa là 62%, với u thần kinh đệm hỗn hợp gồm tế bào thần kinh đệm ít nhánh và sao bào giảm biệt hóa

là 75%, với u tế bào thần kinh đệm ít nhánh giảm biệt hóa là 50%, u nguyên bào thần kinh đệm thứ phát là 67% [2] ,[4] ,[5] ,[9] ,[12], [16] Kết quả của chúng tôi là khá cao so với tác giả Hoàng Anh Vũ, thực hiện bằng kỹ thuật ASO-PCR, cho thấy tỷ lệ đột biến là 39,3%, cũng có lẽ số lượng nghiên cứu của tác giả còn ít mới có 28 mẫu u sao bào độ 2 và 3 [6] Tác giả Gravendeel và cs trong một nghiên cứu gồm 496 trường hợp u thần kinh đệm lan tỏa đã cho thấy tỷ

lệ đột biến IDH1R132 có tỷ lệ cao nhất ở u thần kinh đệm độ thấp là 79% và thấp hơn ở u thần kinh đệm giảm biệt hóa là 49% [9] Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy IDH2 dương tính 13,1%, hầu hết các tác giả nghiên cứu đều cho tỷ lệ khá thấp 3 đến 6% nhưng nghiên cứu về IDH2 còn rất ít và số lượng còn rất hạn chế[9], [12] Tác giả Eckel - Passow và

cs nghiên cứu 615 trường hợp UTKĐLT độ 2 và

3 thấy có tới 79% các trường hợp có đột biến gen IDH Các tác giả thấy có nhiều các đột biến và thay đổi phối hợp với nhau trong đó: 45% đột biến đơn thuần gen IDH; 29% đột biến gen IDH kết hợp với đột biến vùng khởi động của gen TERT và đứt gãy nhiễm sắc thể ở vị trí 1p và 19q và 5% có đột biến gen IDH phối hợp với đột biến vùng khởi động của gen TERT Cũng nhóm tác giả trên khi nghiên cứu

472 trường hợp u nguyên bào thần kinh thấy ít hơn 10% có đột biến gen IDH và 85% có đột biến tại vùng khởi động của gen TERT [4] Tác giả Kim và

cs trong nghiên cứu của mình cho thấy tỷ lệ đột biến của gen IDH1 và IDH2 lần lượt là 85% và 3% [21] Tác giả Kataj Tuononen và cộng sự trong nghiên cứu của mình với 51 trường hợp UTKĐ bằng rất nhiều kỹ thuật sinh học phân tử như giải trình tự huỳnh quang, lai gen và nhuộm háo mô miễn dịch cho thấy đột biến IDH1 tương thích rất cao với tăng quá trình methyl hóa của MGMT [8]

Trong phân tích mối liên quan giữa mức độ biểu

Trang 7

hiện của IDH1R132, IDH2 và độ mô học của khối

u từ độ 2 đến độ 4, chúng tôi thấy sự phân bố khá

đều và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Các tác giả khác đặc biệt là các tác giả Nhật Bản

chia các UTKĐ đệm độ 4 hay là nhóm u nguyên

bào thần kinh đệm làm 2 nhóm là u nguyên bào

thần kinh đệm nguyên phát thì có tỷ lệ đột biến

gen IDH1 rất thấp còn nhóm u nguyên bào thần

kinh đệm thứ phát thì tỷ lệ đột biến gen IDH1 là

khá cao gần tương đương các nhóm khác[9] ,[12],

[13] Tác giả Shigo Takano và cs trong nghiên cứu

của mình gồm 137 UTKĐLT từ độ 2 đến độ 4 thấy

những trường hợp có đột biến gen IDH thì có thời

gian sống thêm dài hơn hẳn so với nhóm không có

đột biến với p<0,001 [13] Tác giả Hai Yan và cs

trong nghiên cứu của mình gồm 445 trường hợp

u của hệ thần kinh trung ương và 494 trường hợp

u không thuộc hệ thần kinh trung ương cho kết

quả lớn hơn 70% các trường hợp UTKĐLT có đột

biến gen IDH1 là ở vị trí R132 và 100 % các trường

hợp có đột biến gen IDH2 ở vị trí R172 Tất cả các

trường hợp u không phải hệ thần kinh trung ương

thì không có đột biến gen IDH Đối với các trường

hợp u nguyên bào thần kinh độ 4 thì thời gian sống

thêm của những trường hợp có đột biến gen IDH1

và IDH2 là 31 tháng so với các trường hợp không có

đột biến là 15 tháng [5]

KẾT LUẬN Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu áp dụng

kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch với kháng thể đặc hiệu để khảo sát tỷ lệ biểu hiện của gen IDH1R132H và IHD2R172 trong các UTKĐLT Kết quả bước đầu cho thấy có 64,6% các trường hợp dương tính với IDH1R132H và 13,1% dương tính với IDH2 Kết quả này cho thấy sử dụng kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch cũng phát hiện được các biểu hiện của đột biến gen IDH1 và IDH2 với khả năng tương đồng rất cao với các tác giả khác trên thế giới khi thực hiện phát hiên đột biến gen IDH1 và IDH2 bằng kỹ thuật sinh học phân tử Mức độ biểu hiện của gen IDH1và IDH2 đối với các UTKĐLT

là phân bố khá đều trong tất cả các típ vi thể mô bệnh học và ở tất cả các độ mô học

UTKĐLT gặp ở mọi lứa tuổi và ở cả 2 giới, tỷ lệ nam mắc bệnh cao hơn hơn nữ Ba nhóm u não chính thường gặp là: UTKĐLT loại hỗn hợp tế bào thần kinh đệm ít nhánh và sao bào (Oligoastrocytoma); UTKĐ loại hỗn hợp giảm biệt hóa (Anaplastic Oligoastrocytoma) và U nguyên bào thần kinh đệm (Giloblastoma) Độ mô học hay gặp nhất là độ 3 và

độ mô học có liên quan chặt chẽ với độ tuổi, tuổi càng cao thì độ mô học càng tăng Tỷ lệ bộc lộ Ki67 liên quan chặt chẽ với độ mô học của khối u, độ mô học càng cao thì tỷ lệ Ki67 càng lớn

SUMMARY

Application of immunohistochemical staining technique in evaluating the characteristics and expression of IDH1 and IDH2 genes with diffuse gliomas in the cerebral hemisphere

Objective: To determine the histopathological characteristics of diffuse gliomas and the expression

level of IDH1 and IDH2 by specific antibodies through immunohistochemical staining to diffuse gliomas

in the cerebral hemisphere Research material: Slides and parrafin blocks from patient cases, which have been surgically removed brain tumors, at the Viet Duc Hospital, from June 2014 to June 2017

Study method: Description of cross section Analysis of disease distribution characteristics of research

variables is gender, age Diagnosed, classified, and evaluated the malignancy of diffuse gliomas based on the classification system of the World Health Organization 2007 The level and expression of the IDH1

Ngày đăng: 28/02/2023, 20:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm