1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008

83 892 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa FDI Và Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam Hậu Khủng Hoảng 2008
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Khoa Học Kinh Tế
Thể loại Công Trình Dự Thi Giải Thưởng Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC 1. Lời mở đầu ............................................................................................................................. 1 2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây..................................................................... 3 2.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với các nước thu nhập thấp?........................3 2.2 Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế .................................................................................6 3. Phương pháp luận ............................................................................................................... 12 3.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với Việt Nam?...............................................12 3.1.1 Mô hình:................................................................................................................................12 3.1.2 Phương pháp lấy số liệu:.......................................................................................................14 3.1.2.1 Phương pháp đo lường sản lượng tiềm năng:.............................................................................. 15 3.2.1.2 Phương pháp lấy số liệu về chỉ số rủi ro quốc gia....................................................................... 22 3.2 FDI và tác động tăng trưởng ....................................................................................................24 3.2.1 Mô hình.................................................................................................................................24 3.2.1.1 Tác động FDI ở VN .................................................................................................................... 25 3.2.1.2 Tác động của ngưỡng (Threshold Effects) .................................................................................. 26 3.2.1.3 Mô hình Var:............................................................................................................................... 28 3.2.2 Phương pháp lấy số liệu:.......................................................................................................28 4. Nội dung và kết quả nghiên cứu......................................................................................... 29 4.1 Kết quả những nhân tố nào có tác động dẫn dắt các dòng FDI đến Việt Nam.....................29 4.1.1 Kết quả hồi quy OLS: ...........................................................................................................29 4.1.2 Kiểm định củng cố kết quả (robustness test) ........................................................................40 4.1.3 Tác động của suy thoái: ........................................................................................................45 4.2 FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam.......................................................................................48 4.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị: ....................................................................................................48 4.2.2 Mô hình hồi quy:...................................................................................................................49 4.2.3 Tác động của ngưỡng............................................................................................................62 4.2.4 Mô hình VAR .......................................................................................................................65 4.2.4.1 Kiểm định đồng liên kết:............................................................................................................. 66 4.2.4.2 Mô hình VAR ............................................................................................................................. 67 4.2.4.3 Kiểm định Granger...................................................................................................................... 68 4.2.5. Hạn chế: ...............................................................................................................................71 5. Kết luận ................................................................................................................................ 72 5.1 Các giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI cho Việt Nam..........................................72 5.2 Làm sao để FDI trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng hiệu quả..........................................73 Phụ lục Tài liệu tham khảo DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CBO ........................... Văn phòng ngân sách quốc hội Mỹ CPI ............................. Chỉ số giá cả tiêu dùng EU............................... Liên minh Châu Âu FDI ............................. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp GDP............................ Tổng sản phẩm quốc gia GMM ......................... Generalized Method of Moment System Estimation IMF ............................ Quỹ tiền tệ quốc tế ICRG.......................... Chỉ số đo lường rủi ro quốc gia OECD......................... Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới OLS ............................ Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất WB ............................. Ngân hàng thế giới VAR ........................... Mô hình tự hồi quy vecto VECM ........................ Mô hình tự hiệu chỉnh sai số vecto DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: GDP tiềm năng của tất cả các nước cần khảo sát........................................ 19 Bảng 3.2: Bảng mô tả biến ............................................................................................ 29 Bảng 4.1: Bảng kết quả hồi quy 1 ................................................................................. 30 Bảng 4.2: Kết quả kiểm định B-G.................................................................................. 32 Bảng 4.3: Hệ số thống kê theo tiêu chuẩn ADF ............................................................ 33 Bảng 4.4: Bảng sai phân các biến ngẫu nhiên .............................................................. 33 Bảng 4.5: Bảng kết quả kiểm tra đồng liên kết của các biến ........................................ 34 Bảng 4.6 : Kết quả mô hình VECM với các hệ số của biến nội sinh............................. 37 Bảng 4.7 : Hiệu chỉnh phần dư trong mô hình VECM .................................................. 38 Bảng 4.8: Sai phân cho các biến .................................................................................. 41 Bảng 4.9: Kết quả kiểm định Granger .......................................................................... 43 Bảng 4.10: Kết quả mô hình VECM với hệ số của các biến nội sinh và hiệu chỉnh phần dư của mô hình. ......................................................................................................................... 44 Bảng 4.11: Kết quả của mô hình VECM khi xem xét tác động của suy thoái ............... 46 Bảng 4.12: Hiệu chỉnh sai số của mô hình VECM........................................................ 47 Bảng 4.13: Kết quả kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) ................................................................................................................................................... 49 Bảng 4.14: Kết quả hồi quy biến tăng trưởng bằng GMM (1)...................................... 50 Bảng 4.15: Kết quả kiểm định Wald Test ...................................................................... 51 Bảng 4.16: Kết quả hồi quy biến tăng trưởng bằng GMM (2)...................................... 52 Bảng 4.17: Ma trận phương sai – hiệp phương sai....................................................... 54 Bảng 4.18: Kết quả hồi quy tăng trưởng bằng GMM cho mẫu trước năm 2008 (1) .... 55 Bảng 4.19: Kiểm định Wald Test cho mẫu trước năm 2008 (1).................................... 55 Bảng 4.20: Kết quả hồi quy tăng trưởng bằng GMM cho mẫu trước năm 2008 (2) .... 56 Bảng 4.21: Ma trận phương sai – hiệp phương sai cho mẫu trước năm 2008 ............. 57 Bảng 4.22: Bảng tóm tắt lại 10 phương trình hồi quy cho các ngưỡng ........................ 62 Bảng 4.23: Kiểm định tính đồng liên kết trong mô hình. .............................................. 66 Bảng 4.24: Kết quả mô hình VAR ................................................................................. 67 Bảng 4.24: Kiểm định nhân quả Granger ứng với 2 độ trễ. ......................................... 68 DANH MỤC HÌNH Hình 3.1: Bộ lọc chuỗi Hodrick-Prescott của Trung Quốc và Anh .............................. 18 Hình 4.1: Lược đồ phần dư của các chuỗi số liệu......................................................... 40 Hình 4.2 : Đồ thị phần dư của mô hình......................................................................... 45 Hình 4.3: Đồ thị phần dư............................................................................................... 53 Hình 4.4: Đồ thị phần dư cho mẫu trước năm 2008 ..................................................... 57 Hình 4.5: Cơ cấu vốn FDI theo ngành giai đoạn 1988 – 2007..................................... 61 Hình 4.6: Kết quả kiểm định phần dư ........................................................................... 70 viii TÓM TẮT Bài nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trước và sau khủng hoảng, xoay quanh hai vấn đề chính yếu, một là những yếu tố nào có vai trò trong việc định hướng dòng FDI vào Việt Nam, hai là FDI có tác động ra sao lên tăng trưởng Việt Nam để từ đó có thể rút ra các biện pháp thu hút vốn FDI hiệu quả cũng như làm cho FDI có tác động tích cực lên tăng trường kinh tế. Bài nghiên cứu đạt được một số kết quả đáng chú ý. Với câu hỏi, yếu tố nào tác động lên dòng vào FDI của Việt Nam, bằng phương pháp nghiên cứu được hỗ trợ bởi mô hình hồi qui OLS đã cho kết quả đi từ đúng như dự đoán như ảnh hưởng của GDP nước đi đầu tư lên FDI là tích cực cho đến những kết quả bất ngờ rằng dòng vào FDI của Việt Nam đi ngược với GDP của chính nước mình hay lãi suất thực RIR của nước đi đầu tư tăng lại có tương quan dương với FDI vào Việt Nam. Khi sử dụng mô hình VECM để kiểm tra tác động của suy thoái lên chiều quan hệ này, một điều thú vị mà tôi tìm được phải kể đến kết quả rằng “khi suy thoái, dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam nhiều hơn so với khi không suy thoái”. Đồng thời khi kiểm định thực nghiệm chiều ngược lại của mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, khi mà tăng trưởng đóng vai trò là một biến phụ thuộc, sử dụng mô hình GMM, cho thấy rằng hệ số tương quan của FDI là âm. Từ đó, tạo điều kiện cho bài nghiên cứu đi sâu vào phân tích tác động “ngưỡng” – một trong những phương pháp nghiên cứu của bài.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”

TÊN CÔNG TRÌNH:

MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH

TẾ VIỆT NAM HẬU KHỦNG HOẢNG 2008

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lời mở đầu 1

2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 3

2.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với các nước thu nhập thấp? 3

2.2 Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế 6

3 Phương pháp luận 12

3.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với Việt Nam? 12

3.1.1 Mô hình: 12

3.1.2 Phương pháp lấy số liệu: 14

3.1.2.1 Phương pháp đo lường sản lượng tiềm năng: 15

3.2.1.2 Phương pháp lấy số liệu về chỉ số rủi ro quốc gia 22

3.2 FDI và tác động tăng trưởng 24

3.2.1 Mô hình 24

3.2.1.1 Tác động FDI ở VN 25

3.2.1.2 Tác động của ngưỡng (Threshold Effects) 26

3.2.1.3 Mô hình Var: 28

3.2.2 Phương pháp lấy số liệu: 28

4 Nội dung và kết quả nghiên cứu 29

4.1 Kết quả những nhân tố nào có tác động dẫn dắt các dòng FDI đến Việt Nam 29

4.1.1 Kết quả hồi quy OLS: 29

4.1.2 Kiểm định củng cố kết quả (robustness test) 40

4.1.3 Tác động của suy thoái: 45

4.2 FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam 48

4.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị: 48

4.2.2 Mô hình hồi quy: 49

4.2.3 Tác động của ngưỡng 62

4.2.4 Mô hình VAR 65

4.2.4.1 Kiểm định đồng liên kết: 66

4.2.4.2 Mô hình VAR 67

4.2.4.3 Kiểm định Granger 68

4.2.5 Hạn chế: 71

5 Kết luận 72

Trang 3

5.1 Các giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI cho Việt Nam 72 5.2 Làm sao để FDI trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng hiệu quả 73 Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBO Văn phòng ngân sách quốc hội Mỹ

CPI Chỉ số giá cả tiêu dùng

EU Liên minh Châu Âu

FDI Nguồn vốn đầu tư trực tiếp

GDP Tổng sản phẩm quốc gia

GMM Generalized Method of Moment System Estimation IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

ICRG Chỉ số đo lường rủi ro quốc gia

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới OLS Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất

WB Ngân hàng thế giới

VAR Mô hình tự hồi quy vecto

VECM Mô hình tự hiệu chỉnh sai số vecto

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: GDP tiềm năng của tất cả các nước cần khảo sát 19

Bảng 3.2: Bảng mô tả biến 29

Bảng 4.1: Bảng kết quả hồi quy 1 30

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định B-G 32

Bảng 4.3: Hệ số thống kê theo tiêu chuẩn ADF 33

Bảng 4.4: Bảng sai phân các biến ngẫu nhiên 33

Bảng 4.5: Bảng kết quả kiểm tra đồng liên kết của các biến 34

Bảng 4.6 : Kết quả mô hình VECM với các hệ số của biến nội sinh 37

Bảng 4.7 : Hiệu chỉnh phần dư trong mô hình VECM 38

Bảng 4.8: Sai phân cho các biến 41

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định Granger 43

Bảng 4.10: Kết quả mô hình VECM với hệ số của các biến nội sinh và hiệu chỉnh phần dư của mô hình 44

Bảng 4.11: Kết quả của mô hình VECM khi xem xét tác động của suy thoái 46

Bảng 4.12: Hiệu chỉnh sai số của mô hình VECM 47

Bảng 4.13: Kết quả kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) 49

Bảng 4.14: Kết quả hồi quy biến tăng trưởng bằng GMM (1) 50

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định Wald Test 51

Bảng 4.16: Kết quả hồi quy biến tăng trưởng bằng GMM (2) 52

Bảng 4.17: Ma trận phương sai – hiệp phương sai 54

Bảng 4.18: Kết quả hồi quy tăng trưởng bằng GMM cho mẫu trước năm 2008 (1) 55

Bảng 4.19: Kiểm định Wald Test cho mẫu trước năm 2008 (1) 55

Bảng 4.20: Kết quả hồi quy tăng trưởng bằng GMM cho mẫu trước năm 2008 (2) 56

Trang 6

Bảng 4.21: Ma trận phương sai – hiệp phương sai cho mẫu trước năm 2008 57

Bảng 4.22: Bảng tóm tắt lại 10 phương trình hồi quy cho các ngưỡng 62

Bảng 4.23: Kiểm định tính đồng liên kết trong mô hình 66

Bảng 4.24: Kết quả mô hình VAR 67

Bảng 4.24: Kiểm định nhân quả Granger ứng với 2 độ trễ 68

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Bộ lọc chuỗi Hodrick-Prescott của Trung Quốc và Anh 18

Hình 4.1: Lược đồ phần dư của các chuỗi số liệu 40

Hình 4.2 : Đồ thị phần dư của mô hình 45

Hình 4.3: Đồ thị phần dư 53

Hình 4.4: Đồ thị phần dư cho mẫu trước năm 2008 57

Hình 4.5: Cơ cấu vốn FDI theo ngành giai đoạn 1988 – 2007 61

Hình 4.6: Kết quả kiểm định phần dư 70

Trang 8

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trước và sau khủng hoảng, xoay quanh hai vấn đề chính yếu, một là những yếu tố nào có vai trò trong việc định hướng dòng FDI vào Việt Nam, hai là FDI có tác động ra sao lên tăng trưởng Việt Nam để từ đó có thể rút ra các biện pháp thu hút vốn FDI hiệu quả cũng như làm cho FDI có tác động tích cực lên tăng trường kinh tế Bài nghiên cứu đạt được một số kết quả đáng chú ý

Với câu hỏi, yếu tố nào tác động lên dòng vào FDI của Việt Nam, bằng phương pháp nghiên cứu được hỗ trợ bởi mô hình hồi qui OLS đã cho kết quả đi từ đúng như

dự đoán như ảnh hưởng của GDP nước đi đầu tư lên FDI là tích cực cho đến những kết quả bất ngờ rằng dòng vào FDI của Việt Nam đi ngược với GDP của chính nước mình hay lãi suất thực RIR của nước đi đầu tư tăng lại có tương quan dương với FDI vào Việt Nam Khi sử dụng mô hình VECM để kiểm tra tác động của suy thoái lên chiều quan hệ này, một điều thú vị mà tôi tìm được phải kể đến kết quả rằng “khi suy thoái, dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam nhiều hơn so với khi không suy thoái” Đồng thời khi kiểm định thực nghiệm chiều ngược lại của mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, khi mà tăng trưởng đóng vai trò là một biến phụ thuộc, sử dụng mô hình GMM, cho thấy rằng hệ số tương quan của FDI là âm Từ đó, tạo điều kiện cho bài nghiên cứu đi sâu vào phân tích tác động “ngưỡng” – một trong những phương

pháp nghiên cứu của bài

Trang 9

1 LỜI MỞ ĐẦU

Thập kỉ vừa qua đã chứng kiến một sự gia tăng chưa từng thấy của các dòng FDI vào các nước thu nhập nhập thấp Sự dấy lên của dòng vào được qui cho thanh khoản toàn cầu phong phú và sự gia tăng trong giá cả hàng hóa, kết hợp với nền tảng kinh tế tốt hơn và những cải cách thị trường phương Đông ở nhiều quốc gia thu nhập thấp

Tuy nhiên, sự công phá của suy thoái tài chính toàn cầu đã thay đổi bức tranh

đó Hoạt động kinh tế ở hầu hết các nước phát triển – nguồn chính của FDI – đã thu nhỏ lại đáng kể, trong khi sự căng thẳng của điều kiện tín dụng toàn cầu đã kìm hãm khả năng tài trợ của các tổ chức đa quốc gia và làm gia tăng ác cảm với rủi ro Khôi phục kinh tế ở các nước phát triển được trông chờ sẽ rất chậm chạp và thanh khoản toàn cầu càng thêm khó khăn và ít phong phú trong những năm sắp tới Cạnh tranh giữa những nước đang phát triển để thu hút FDI sẽ có thể trở nên ác liệt hơn so với những năm trước đó Trong khi FDI từ những thị trường mới nổi, một nguồn quan trọng của FDI đang tăng lên của các nước thu nhập thấp, được mong chờ sẽ có khả năng phục hồi nhanh, tổng thể dòng FDI đến các nước thu nhập thấp có thể thấp đáng

kể so với trước khủng hoảng (WB 2010) Những vấn đề này đặt ra những câu hỏi quan

trọng và những thay đổi chính sách cho các nước thu nhập thấp Rằng FDI là một hình thức có sức ảnh hưởng to lớn của dòng vốn vào của các nước thu nhập thấp , một sự đảo ngược trong những dòng này không chỉ tác động trực tiếp lên nhu cầu tài trợ bên

ngoài, mà còn có một ảnh hưởng lên đầu tư và phát triển (IMF 2010)

Trong năm 2011, vốn FDI đăng ký và tăng thêm của Việt Nam đạt 14,7 tỷ USD, chỉ bằng 74% năm 2010 Sang 2012, phần FDI thực hiện dự kiến vẫn duy trì 11 tỷ USD Lý giải cho sự sụt giảm vốn đăng ký năm vừa qua, một phần do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới Hòa vào xu hướng chung của dòng FDI nói chung, và dòng FDI vào các nước thu nhập thấp nói riêng, có thể thấy được FDI vào Việt Nam đã giảm sút Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng của Việt Nam, nhất là trong thời

kì hậu suy thoái còn nhiều khó khăn này hay không? Dựa vào các nghiên cứu trên Thế

Trang 10

giới về vấn đề này, tôi thực hiện bài nghiên cứu nhằm tìm kiếm câu trả lời cho hai vấn

đề lớn như đã trình bày ở phần tóm tắt Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu sẽ chia thành năm phần chính

Mở đầu bài nghiên cứu, tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn mục tiêu nghiên cứu

và những kết quả đạt được như trên Nội chung nghiên cứu chính, tức là các phần trình bày sẽ được tóm tắt trong phần giới thiệu, cũng như vấn đề tại sao phải nghiên cứu đề tài đó Phần thứ hai là phần trình bày các nghiên cứu và các kết quả đã đạt được trước đây Đây là bài nghiên cứu mối quan hệ có tính hai chiều, một chiều FDI là biến phụ thuộc, trong các biến độc lập có biến tăng trưởng của nước phát triển – nước đi đầu tư

và cả nước chủ nhà – Việt Nam; chiều còn lại tăng trưởng của Việt Nam sẽ là biến phụ thuộc và FDI là một trong những biến độc lập bên Vì thế, phần trình bày các nghiên cứu trước đây, nhóm chia làm hai phần riêng biệt mỗi vấn đề Phương pháp nghiên cứu

và nội dung, kết quả được trình bày trong phần ba và phần bốn, trả lời cho hai câu hỏi lớn đã đặt ra ở phần giới thiệu sẽ có riêng hai phương pháp nghiên cứu khác nhau Tuy

nhiên đều sử dụng hai mô hình hồi quy đã từng được các tác giả Era Dabla-Norris,

Jiro Honda, Amina Lahreche, và Geneviève Verdier sử dụng trong bài nghiên cứu

“FDI-flow to low income countries: Global driver and Growth Implication” Working

paper/10/132, năm 2010 Phần kết luận, thảo luận, kiến nghị của nhóm nằm trong phần cuối cùng của bài nghiên cứu

Trang 11

2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với các nước thu nhập thấp?

Với sự lớn mạnh về nền kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế ở các nước phát triển, chúng có vai trò gì đối với nguồn vốn FDI chảy vào các nước kém phát triển trong thời kỳ trước khủng hoảng? Cũng câu hỏi đó, chúng ta nên quan tâm đến điều gì khi mà ảnh hưởng của suy thoái kinh tế là không nhỏ đến việc thu hút FDI của các nước chậm phát triển hiện nay? Để trả lời các câu hỏi đó, nhiều bài nghiên cứu

và phân tích đã được các chuyên gia tài chính cũng như các tổ chức kinh tế thế giới lớn như World Bank, IMF đề xuất, không ít bài nghiên cứu trong số đó như một cuộn băng tua chậm, giúp chúng ta thấy được một cái nhìn bao quát về tác động của nguồn vốn FDI đến các nước kém phát triển cũng như các nền kinh tế mới nổi trong thời kỳ trước khủng hoảng đến nay

Trọng tâm của phần nghiên cứu này chủ yếu để chỉ ra những yếu tố, nhân tố quan trọng, góp phần giải thích tại sao nguồn vốn lại chảy vào nước này hay châu lục này mà tại sao không phải chảy vào nước khác hay châu lục khác Các tác giả đã chia

những yếu tố tác động trên thành hai loại chính: yếu tố “đẩy” (push factor) và yếu tố

“kéo” (pull factor) Yếu tố đẩy – liên quan đến đặc điểm, mức độ lớn mạnh của nước

đi đầu tư, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng kinh tế, chính trị, luật pháp…Tương tự như vậy, yếu tố kéo phản ánh mức độ thu hút nguồn vốn FDI của các nước kém phát triển – thường là những nước tiếp nhận đầu tư, ví dụ như ưu đãi thuế, ưu đãi mang tính chính trị của chính phủ hai nước, mức độ tự do hoá thương mại… Chúng được gọi chung là

những yếu tố “đóng góp” (contributing factors)

Calvo et al (1993) và Fernandez-Arias (1996) đã phân tích mối quan hệ giữa

yếu tố đẩy và kéo trong việc phân phối các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn vay hay các danh mục đầu tư chứng khoán ở thị trường mới nổi, nhấn mạnh sự liên

Trang 12

quan của các yếu tố bên ngoài - yếu tố đẩy lên việc thu hút vốn Với cùng quan điểm,

Reinhart and Reinhart (2008) cho rằng những yếu bên ngoài có một thành phần chu

kỳ quan trọng ảnh hưởng đến FDI thông qua các kênh khác nhau Sự tăng trưởng kinh

tế ở các nước phát triển có thể tác động đến FDI thông qua tác động thu nhập (income effect) và tác động thay thế (subsitution effect) Cụ thể như sau, trong thời kỳ suy thoái,

khi mà thu nhập ở các nước phát triển giảm làm cho mức độ đầu tư ở trong cũng như ngoài nước cũng giảm xuống theo, kết quả là vốn FDI thuận chu kỳ Nhưng tác động thay thế thì có xu hướng ngược lại, nếu như công ty phân phối nguồn vốn của mình dựa trên tỷ suất lợi nhuận, suy thoái ở các nước phát triển sẽ hiển nhiên dẫn đến tăng khả năng sinh lợi cũng như mức độ thu hút của đồng vốn khi đầu tư ra bên ngoài nhiều hơn so với đầu tư trong nước, đây được gọi là dòng vốn FDI phản chu kỳ Quan điểm

này cũng nhận được sự đồng tình của Calvo et al (2003)

Sự di chuyển thuận chu kỳ lãi suất ở các nước phát triển tác động đến việc tài trợ bằng nguồn vốn FDI Phần lớn nguồn vốn FDI được huy động chủ yếu ở thị trường tài chính thế giới, do đó chi phí huy động vốn rất nhạy cảm đối với sự thay đổi trong tỷ

lệ lãi suất này World Bank (2010)với một bài nghiên cứu gần đây cho giai đoạn

2003-2007 đã nhận thấy rằng khi lãi suất trên toàn cầu giảm xuống sẽ dẫn tới hệ quả là chi phí đi vay thấp hơn, điều này đóng góp không nhỏ cho việc tăng thêm 70% nguồn vốn chảy vào các nước đang phát triển, đặc biết là nguồn vốn FDI

Bằng cách sử dụng tổng hợp dòng vốn FDI và chu kỳ kinh tế của Mỹ đại diện

cho chu kỳ của tất cả các nước đi đầu tư, Reinhart and Reinhart (2001) và Calvo et

al (2001) dòng vốn FDI trung bình vào những nước đang phát triển (đặc biệt vùng Mỹ

Latin và Caribbean) thường cao hơn khi nền kinh tế tăng trưởng và chính sách tiền tệ

mở rộng

Levy, Yeyati, Ugo Panizza (2007) đã nghiên cứu tác động của chu kỳ kinh tế

(business cycle) và lãi suất (rate of return) ở những nước phát triển (đặc biệt là các

nước trong khối OECD) ảnh hưởng như thế nào đến dòng FDI vào các nước đang phát triển Sau khi tổng hợp các dòng FDI từ 3 nguồn lớn (Mỹ, châu Âu và Nhật Bản), bài

Trang 13

nghiên cứu chỉ ra rằng dòng FDI có xu hướng ngược chiều đối với “output” và chu kỳ

lãi suất ở trường hợp của Mỹ và châu Âu, trong khi đó ở Nhật Bản lại không rõ ràng về tác động hay chúng chỉ có ảnh hưởng không đáng kể đến dòng chảy của vốn FDI

Cùng ý kiến như trên, Albuquerque et al (2005) cũng cho thấy một mức tăng trong lãi

suất ở các nước phát triển sẽ dẫn đến mối tương quan âm và có ý nghĩa thống kê đối với dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển Kết luận ở trường hợp của Mỹ và Châu Âu là hoàn toàn phù hợp giữa mối quan hệ kinh tế ngược chiều của mức độ đầu

tư trong nước (local investment) và “dòng vốn FDI” – phản ánh khả năng thực hiện

hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất-arbitrage của nhà đầu tư khi đứng trước các cơ hội tìm kiếm lợi nhuận

Dữ liệu bài nghiên cứu của ba tác giả Levy, Yeyati, Ugo Panizza (2007) về FDI song phương được lấy từ nguồn OECD International Direct Investment Statistics, chi

tiết hơn dữ liệu bao gồm 22 nước đi đầu tư (source countries), 56 nước tiếp nhận đầu

tư (host countries), do đó sẽ có 1,232 cặp quốc gia và khoảng 22,213 quan sát Bài

nghiên cứu có dựa trên mô hình “trọng lực” – gravity model, đây là một trong những

điều kiện chuẩn cho những bài nghiên cứu thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại song phương giữa 2 nước, và gần đây đã đưa thêm yếu tố phân tích về địa điểm FDI Trong thiết lâp đơn giản này, mô hình cho rằng dòng chảy thương mại song phương (trong trường hợp của chúng ta là FDI) phụ thuộc vào “sản phẩm” của 2 nước

tạo ra và “khoảng cách” giữa chúng – điều này cũng tương tự như lực hấp dẫn của Newton vậy Quan điểm này cho rằng, nếu như hai quốc gia sản xuất những sản phẩm

mà hai bên đều đang cần hoặc chúng có chung đường biên giới hay khoảng cách đia là gần nhau thì vốn FDI song phương có xu hướng nhiều hơn ở những cặp quốc gia khác không có yếu tố này Biến đặc trưng đưa vào để củng cố thêm về đặc điểm “trọng lực” kinh điển này chính là GDP trên đầu người, ngoài ra còn có thêm những chỉ báo giả định khác, chẳng hạn như xem hai nước có chia sẻ cùng biên giới chung hay không, có

sử dụng chung ngôn ngữ hay có xài chung đồng tiền hay không (ví dụ như EU), hoặc

có thể là nước thuộc địa của nhau, những giả định này sẽ được đặt chung thành biến giả

(dummy variables)

Trang 14

Phân tích dài dòng như vậy, nhưng mục đích chính của bài nghiên cứu của Levy,

Yeyati, Ugo Panizza (2007) chính là xoáy sâu vào bản chất chu kỳ của nguồn vốn FDI,

do đó tác giả sử dụng mô hình trọng lực chuẩn có điều chỉnh Cụ thể hơn, tác giả sử

dụng logarit tuyến tính của GDP xu hướng (log-linear trend GDP) (đại diện cho mức

GDP bền vững) thay vì sử dụng số liệu GDP từng năm ở các nước đi đầu tư, để làm nổi bật tác động của việc mở rộng hay suy thoái của những nước này lên dòng chảy FDI

Tóm lại, các bài nghiên cứu trên đây đã đánh giá vai trò quan trọng của các yếu

tố bên ngoài – yếu tố đẩy trong việc phân phối nguồn vốn FDI vào các nước đang phát triển Nói chung, thường không như mọi người nghĩ,hầu hết các bài nghiên cứu đặc

biệt là bài nghiêu cứu của Levy, Yeyati, Ugo Panizza (2007) kết luận rằng suy thoái ở

những nước công nghiệp chính là cơ hội tốt cho dòng vốn FDI chảy vào các nước kém phát triển để tìm kiếm cơ hội arbitrage, và thường chính là những nước có mối quan hệ mật thiết với khối EU và nền kinh tế lớn nhất thế giới – Mỹ

2.2 Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế

Như đã nói, dòng ra FDI đến các nước thu nhập thấp đã thu hẹp lại suốt cuộc suy thoái ở các nước phát triển và nhạy cảm với lãi suất Cuộc suy thoái toàn cầu hiện tại có mối quan hệ mật thiết nào không và hậu quả của nó cho viễn cảnh phát triển trung hạn của các nước thu nhập thấp trong đó có Việt Nam (dưới mức trung bình) như thế nào? FDI được mong chờ sẽ sản sinh nhiều lợi ích phát triển đáng kể bởi vì, thêm vào làm tăng đầu tư, nó sẽ có một tác động tích cực lên năng suất thông qua chuyển giao công nghệ và chuyên gia quản trị Vì thế, một sự đảo ngược FDI sẽ tác động bất lợi lên đà phát triển đã đạt được suốt 1 thập kỉ qua của các nước thu nhâp thấp

Về lý thuyết, FDI được trông chờ sẽ đem lại những lợi ích phát triển trực tiếp và gián tiếp tiềm năng cho các nước đang phát triển, và đặc biệt cho các nước có thu nhập thấp Lợi ích trực tiếp từ những tranh luận tân cổ điển tiêu chuẩn nói rằng FDI có thể chảy từ các nền kinh tế giàu vốn đến các nền kinh tế nghèo nàn nguồn vốn với mức cao tương đối của thu nhập trên vốn Những dòng này có thể bổ sung nguồn tiết kiệm nội địa có hạn trong các nền kinh tế nghèo nàn nguồn vốn và bằng cách giảm chi phí vốn,

Trang 15

thúc đẩy tăng trưởng Những lợi ích gián tiếp lên sự phát triển liên quan tới năng suất đạt được của các nước nhận FDI thông qua chuyển giao công nghệ (áp dụng những phương pháp sản xuất mới), tiếp thu kĩ năng (giáo dục và huấn luyện nhân công), cạnh tranh (sử dụng hiệu quả để tồn tại bởi các doanh nghiệp nội địa), và xuất khẩu (mở

rộng tiềm năng xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa) (Moran, 2005)

Các bằng chứng thực nghiệm về lợi ích phát triển của FDI, dựa vào bằng chứng thông qua các quốc gia, đã không mang đến kết quả cuối cùng Sự khác biệt về phương pháp luận, thời kì xem xét đã đưa đến sự không thống nhất ở các nghiên cứu thực

nghiệm Blonigen và Wang (2005), chỉ ra vấn đề về dữ liệu gộp đối với các nước với

mức độ phát triển khác nhau, lưu ý rằng dữ liệu gộp với các nước đã phát triển và đang phát triển có thể dẫn đến nhiều suy luận không chính xác Trong khi một vài nghiên cứu kết luận rằng có những lợi ích liên hệ với FDI, một số không có tác động hoặc tác động có giới hạn (những kết quả không vững chắc thông qua các lựa chọn chi tiết)

thông qua kênh truyền thống như là như tích lũy vốn đầu tư cho đất nước (Kose at al,

2009a)

Vài bài nghiên cứu đã đưa ra mối quan hệ dương tích cực giữa FDI và tăng trưởng Chẳng hạn, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và phát triển, với dữ liệu thời kì từ 1970 đến 2005 của India, Pakistan, Malaysia, Thailand, Chilê

và Mexico bằng mô hình VECM và kiểm định quan hệ nhân quả Granger, Miankhel,

Thangavelu (2009) cho thấy mối quan hệ trong dài hạn giữa FDI với tốc độ tăng

trưởng ở các nước Ấn độ, Malaysia, Chi lê Cùng quan điểm, Chakraborty và Basu

(2002) khi khám phá tác động hai chiều giữa FDI và tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ

bằng mô hình VECM, sử dụng dữ liệu 1974-1996 phát hiện trong dài hạn FDI có tương quan dương với GDP và độ mở của thương mại, tuy nhiên lại không đáng kể trong

ngắn hạn Dua và Rashid(1998) cũng cho ra kết quả tương tự Archanun Kohpaiboon

trong nghiên cứu tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế trong quá trình chuyển đổi thể chế của Thái Lan từ thể chế “ thay thế nhập khẩu” sang “khuyến khích xuất

Trang 16

khẩu”cũng tranh luận rằng tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào dòng FDI và có quan hệ đồng biến trong giai đoạn “khuyến khích xuất khẩu”

Tuy nhiên, như đã nói, kết quả nghiên cứu là có nhiều đối nghịch Nếu như

Chakraborty và Basu (2002) tranh luận rằng mối quan hệ là tích cực thì cũng với mẫu

nghiên cứu là Ấn Độ, Agrawal (2005) sử dụng dữ liệu gộp của 5 nước Nam Á trong đó

có Ấn Độ từ 1965-1996 cho thấy hệ số tương quan của FDI với GDP âm, mặc dù

không có ý nghĩa Tương tự, Pradhan (2002) sử dụng hàm Cobb-Douglas với FDI là

biến đầu vào và cho ra kết luận rằng hệ số tương quan không có ý nghĩa trong thời kì

1969-1997 Trong khi đó, Bhat (2004) dùng kiểm định nhân quả Granger và Fuller thì lại cho rằng không có mối quan hệ nhân quả hai hướng này Với Archanun

Dickey-Kohpaiboon, ông cũng tranh luận rằng: ngược lại với giai đoạn “khuyến khích xuất

khẩu”, giai đoạn “thay thế nhập khẩu” của Thai Lan, tác động này mang dấu âm Theo ước tính của tác giả, trung bình mỗi năm tác động âm này chiếm đến 4% trong suốt giai

đoạn nghiên cứu từ 1970 đến 1996 Ủng hộ cho quan điểm này, Hanson (2001)đã

tranh luận rằng việc FDI sản sinh ra những hiệu ứng lan tỏa tích cực là yếu, còn tác giả

Grog và Greenwood(2002) đã kết luận rằng tác động của FDI lên tăng trưởng hầu như

là tiêu cực Đóng góp khá nhiều vào các tranh luận xoay quanh mối quan hệ tích cực

hay tiêu cực của FDI lên tăng phải kể đến bài nghiên cứu của tác giả Alfano (2003),

đây là một phân tích thực nghiệm sử dụng dữ liệu các nước giai đoạn 1981-1999 nói rằng FDI có tác động rất khác nhau lên sự tăng trưởng Dòng FDI chảy vào khu vực khai khoáng dẫn đến một tác động tiêu cực lên tăng trưởng, nơi FDI vào khu vực sản xuất lại cho thấy một tác động tích cực và khu vực dịch vụ thì cho ra một tác động mơ

hồ, không rõ ràng Mặc dù bị giới hạn về dữ liệu sử dụng, các kết quả của ông khá vững chắc đối với các yếu tố quyết định khác của sự tăng trưởng, như là thu nhập, vốn con người, phát triền tài chính nội địa, chất lượng định chế nhà nước hay độ trễ của

FDI Tương đồng với ý kiến của Alfano, Chandana và Peter Nunnenkamp (2006)

cũng cho thấy các tác động khác nhau của FDI lên tăng trưởng sau khi nghiên cứu trường hợp của Ấn Độ, sử dụng kiểm định nhân quả Granger với khung làm việc đồng liên kết Ông cho thấy rằng FDI và sản lượng đầu ra tương tác mạnh mẽ trong lĩnh vực

Trang 17

sản xuất, ngược lại với lĩnh vực khai khoáng, thì vắng mặt quan hệ nhân quả giữa 2 yếu

tố đang xét Riêng khu vực dịch vụ, khu vực đã thu hút phần lớn FDI vào nó từ sau khi

Ấn Độ cải cách kinh tế, thì FDI lại có tác động chỉ tạm thời lên sản lượng đầu ra

Một hướng tiếp cận khác cũng được khá nhiều tác giả quan tâm và những nghiên cứu thực nghiệm này - tiếp cận bằng cách xem xét đến các điều kiện ban đầu khác nhau với một khái niệm được sử dụng xuyên suốt: “ngưỡng” - đã có nhiều thành

công hơn trong việc chỉ ra mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng Kose et al (2009b)chỉ

ra các ngưỡng xác định mà một quốc gia cần đạt được trước khi nó có thể nhận được lợi ích tăng trưởng của các dòng tài chính bao gồm FDI Chính xác là, nghiên cứu xác định rằng khả năng một quốc gia có thể đạt được thuận lợi từ ảnh hưởng của FDI dựa vào một loạt các yếu tố:

Sự phát triển mảng tài chính: thị trường tài chính nội địa phát triển tốt phải là

một công cụ phân bổ hiệu quả các dòng tài chính nước ngoài, bao gồm cả FDI, để cạnh

tranh các dự án đầu tư (Aoki, 2006) Các thị trường tài chính nội địa sâu cũng có thể

cung cấp các khoản tín dụng cần thiết cho các doanh nghiệp địa phương khi mà họ cần tài trợ để đạt được những thuận lợi về hiệu ứng lan tỏa công nghệ có liên hệ với FDI

(Alfaro, 2004) Norris, Honda, Amina và Verdier(2010) cũng tìm ra hệ số dương đáng

kể của FDI đối với những nước có nền tài chính phát triển cao, đối với những nước có nền kinh tế phát triển thấp, hệ số là nhỏ hơn và không có ý nghĩa thống kê, sau khi chia các quốc gia thành các nhóm theo tiêu chí “trên” hay “dưới” giá trị trung bình cho mỗi

giai đoạn 5 năm từ 1989-2008 để nghiên cứu Sâu sắc hơn, các tác giả Azman-Saini,

Hook Law, Halim Ahmad đã sử dụng mô hình hồi qui dựa vào khái niệm tác động

ngưỡng Mô hình cho phép mối quan hệ giữa tăng trưởng và FDI là tuyến tính với các chỉ số thị trường tài chính hoạt động như một hệ thống kích hoạt chuyển đổi Sử dụng các quan sát của 91 nước từ 1975 tới 2005 (bởi vì tầm ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng của các nước thu nhập thấp tăng lên trong thời gian này), tác giả tìm ra bằng chứng mạnh mẽ của tác động ngưỡng trong mối liên hệ FDI và tăng trưởng Đặc biệt, tác giả tìm ra rằng tác động của FDI lên tăng trưởng chỉ thật sự có khi sự phát triển tài

Trang 18

chính vượt một mức ngưỡng nào đó Không thì lợi ích của FDI là không tồn tại Phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của chính phủ trong việc xây dựng chính sách Chính sách hướng về thu hút FDI nên đi tay trong tay, không trước chính sách nhằm thúc đẩy phát triển thị trường tài chính

Chất lượng của định chế nhà nước: việc bảo hộ quyền sở hữu yếu kém ở các

nước nghèo ngụ ý rằng đầu tư nước ngoài có thể không trực tiếp vào các dự án ấp ủ vốn lâu, hay tỉ suất sinh lợi ban đầu thấp mà những dòng đầu tư như vậy có thể hữu ích

đối với các nước gặp khó khăn về tài chính (Rajan and Zingales, 1998) Chất lượng cơ

quan nhà nước kém có thể giới hạn tác động qua lại giữa các công ty nước ngoài và trong nước trong việc thuê mướn lao động Do đó làm giảm tác động gián tiếp của FDI

(Antras, 2003) Norris, Honda, Amina và Verdier (2010) cũng đồng tình với mối quan

hệ này giữa FDI và chất lượng định chế nhà nước

Các khu vực của dòng vào: lơi ích hiệu ứng lan tỏa tiềm năng của FDI có thể

khác nhau rõ rệt thông qua khu vực sản xuất và dịch vụ (Alfaro and Charlton, 2007)

FDI trong lĩnh vực khai khoáng có thể có những đóng góp rất giới hạn cho tăng trưởng bởi vì nó liên quan đến các dự án lớn và hầu như không sử dụng các sản phẩm được

sản xuất hay lao động nội địa

Sự mở cửa thương mại: mức độ càng cao của sự mở cửa thương mại và định

hướng xuất khẩu của nền kinh tế có thể làm dễ dàng hơn cho sự chuyển giao các kĩ năng quản trị, thông qua FDI, làm sôi động hơn thị trường đầu tư nội địa (

Balasubramanyam, 1996) Tuy nhiên, cũng có bài nghiên cứu không tìm ra bằng

chứng đo lường sự khác nhau trong tác động phát triển giữa các nước “trên” hay

“dưới” của mức độ độ mở thương mại và cho rằng đây là một biến đại diện kém hiệu

quả (Norris, Honda, Amina và Verdier 2010)

Nguồn vốn để lại: công nghệ và các hiệu ứng lan tỏa năng suất khác liên quan

đến FDI chỉ có thể chuyển hóa vào tăng trưởng kinh tế khi mà nước chủ nhà có mức độ

Trang 19

vốn con người (human capital) (Borensztein et al, 1998) hay cơ sở hạ tầng vật chất

(Kinda, 2007) thấp

Chính sách vĩ mô: chính sách vĩ mô đúng đắn có thể tạo ra một sự kích thích

chung cho hiệu ứng lan tỏa FDI đến đầu tư nội địa thông qua việc tăng sản phẩm biên

của những cuộc đầu tư mới và tạo ra môi trường khả dụng cho quá trình truyền bá công

nghệ (Mody và Murshid, 2005) FDI chỉ có tác động lên tăng trưởng khi các nước có

lạm phát thấp – ngụ ý sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô (Norris, Honda, Amina và

Verdier 2010)

Norris, Honda, Amina và Verdier (June 2010) cũng đã đóng góp thêm bộ 2 chỉ

số khá hấp dẫn để bổ sung cho các tiêu chí trên, cũng được chia “trên” và “dưới” so với

ngưỡng:

Sự cải cách kinh tế: 2 tiêu chí được sử dụng nằm trong khu vực thương mại và

tài khoản vốn là chỉ số thuế quan trung bình (đại diện cho tự do hóa thương mại) và chỉ

số tự do hóa tài khoản vốn ( thành phần phụ trong bài của Abiad et al 2008, cái mà cho

thấy sự giới hạn lên sự trao đổi vốn giữa dân cư và tổ chức tín dụng đối với người

không phải dân cư trong nước) Và kết quả là các tác giả không đo lường được sự khác

nhau nào giữa các nước khác nhau về tự do hóa thương mại trong giai đoạn

1989-2008, nhưng giai đoạn 1973-2008 thì lại có Tương tự, đối với tự do hóa tài khoản vốn

cũng không làm nên sự khác nhau giữa các nước đối với việc FDI tác động lên tăng

trưởng

Mỗi hướng tiếp cận – dù là tập trung tổng thể hay xác định ngưỡng của từng yếu

tố quyết định – đều có những ưu nhược điểm Các nghiên cứu vĩ mô đã tập trung chủ

yếu vào tổng thể FDI vì một phần có lí do hạn chế về dữ liệu Với cách tiếp cận của

Alfano (2003) chẳng hạn, ông đã cho thấy các tác động tiêu cực có thể có lên sự tăng

trưởng của một nước từ FDI, chi tiết từng khu vực của dòng vào (khai khoáng, sản

xuất, dịch vụ), không đơn giản là có tác động hay không tác động Điều này, có một ý

nghĩa quan trọng cho các nước đang muốn thu hút FDI, nên tập trung vào khu vực nào

Trang 20

trong việc tiếp nhận FDI Tuy nhiên, như đã nói, cách tiếp cận với khái niệm “ngưỡng”

như Norris, Honda, Amina và Verdier (2010) có nhiều thành công hơn, nó cho thấy rõ

ràng hơn các mối quan hệ gián tiếp giữa FDI và tăng trưởng qua các yếu tố quyết định Mang một ý nghĩa quan trọng cho các quốc gia muốn hấp thu FDI hiệu quả bằng cách cải thiện các yếu tố quyết định, ví như sự phát triển thị trường tài chính chẳng hạn

Trên cơ sở đó, tôi định hướng nghiên cứu vấn đề này theo hướng đi của các tác

giả Norris, Honda, Amina và Verdier (2010), vì hai lí do chính Thứ nhất, các bài

nghiên cứu đều đã xác nhận hướng tiếp cận này có nhiều thành công hơn Thứ hai, điều này phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà chúng ta có khá nhiều yếu tố quyết định cần cải thiện để hấp thu FDI tốt nhất theo quan điểm đạt được mức “trên” ngưỡng hay không? Từ đây, câu hỏi nghiên cứu của bài được hình thành, xoay quanh hai vấn đề lớn về mối quan hệ giữa dòng vào FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam

3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

3.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với Việt Nam?

3.1.1 Mô hình:

Mô hình đo lường tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn

vốn FDI cũng gần tương tự như mô hình của Levy-Yeyati et al (2007) mà tôi đã đề cập

ở trên:

Trong đó:

FDI ijt là FDI song phương của các nước đi đầu tư và Việt Nam

GDP i và GDP j lần lượt là GDP của nước đi đầu tư (source countries) và Việt Nam (host countries), chỉ tiêu GDP này đại diện cho độ lớn thị trường của quốc gia đó

TRADE là tổng giá trị giao dịch thương mai song phương giữa nước đi đầu tư

và Việt Nam

Trang 21

OUTPUT đo lường những hoạt động kinh tế của nước phát triển Chỉ tiêu này

đo lường hai nhân tố sau:

GROWTHlà tốc độ phát triển thực của GDP ở các nước phát triển

OUTPUT GAP là khoảng cách sản lượng, chỉ tiêu này dùng để xác định xem

nền kinh tế của quốc gia đi đầu tư hiện đang suy thoái hay mở rộng

RIR đo lường lãi suất thực của nước đi đầu tư vào Việt Nam, thường sẽ được

tính toán bằng cách lấy T-bill ba tháng và hiệu chỉnh cho yếu tố lạm phát

Sau khi chạy mô hình hồi quy thông thường (OLS), để khẳng định kết quả là tin cậy và có thể dự báo được trong trung và dài hạn, tôi sẽ thực hiện một vài kiểm định lên mẫu số liệu (tính dừng, mối quan hệ đồng liên kết, …) Nếu tất cả các yếu tố kiểm định này đều thỏa mãn, khi đó kết quả từ phương trình hồi quy OLS sẽ là cơ sở để tôi

mô tả mối quan hệ 2 chiều giữa FDI và tốc độ phát triển kinh tế, ngược lại, tôi sẽ thay thế bằng các kiểm định khác phù hợp hơn là phương trình tự hồi quy VAR và tổng quát hơn là phương trình tự hiệu chỉnh sai số VECM

 VAR

Mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không chỉ đơn thuần là một chiều, biến độc lập (biến giải thích) ảnh hưởng lên biến phụ thuộc mà trong nhiều trường hợp nó còn có ảnh hưởng ngược lại Do đó chúng ta phải kiểm tra ảnh hưởng qua lại giữa các biến này cùng một lúc Chính vì thế mô hình kinh tế lượng mà ta phải xét đến không phải là một hình phương trình mà là mô hình nhiều phương trình

Mô hình VAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình)

và có các trễ của các biến số VAR là mô hình động của một số biến thời gian

Trong mô hình trên, mỗi phương trình đều chứa p trễ của mỗi biến Với hai biến

mô hình có 2 hệ số gốc và 2 hệ số chặn

Trang 22

Ưu điểm nổi trội của cách sử dụng phương trình VAR để ứng dụng trong bài nghiên cứu này chính là : không cần xác định biến nào là biến ngoại sinh và biến nào là biến nội sinh và đơn giản hơn trong việc hồi quy từng phương trình

 VECM

Mô hình hiệu chỉnh sai số VECM là mô hình tổng quát hơn của mô hình VAR,

ưu điểm nổi trội của VECM hơn VAR là có thể được sử dụng để xác định mối quan hệ cân bằng trong dài hạn, do đó có thể đưa ra các dự báo và khuyến nghị, chính sách

Tuy nhiên để sử dụng mô hình thì tôi cần phải xử lý số liệu theo từng bước sau:

1 Các biến theo chuỗi thời gian là dừng, nếu không dừng thì tôi sẽ lấy sai phân, trong trường hợp các biến dừng tại các bậc sai phân khác nhau thì tôi

sẽ lấy bậc sai phân cao nhất

2 Việc hồi quy các chuỗi thời gian không dừng có thể dẫn đến hồi quy giả

mạo, tuy nhiên Engle và Granger (1987) cho rằng nếu kết hợp tuyến tính

của các chuỗi thời gian không dừng có thể là một chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là đồng liên kết Kết hợp tuyến tính dừng được gọi là phương trình đồng liên kết và có thể giải thích như mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến Và nếu như mô hình là đồng liên kết thì sẽ không xảy ra trường hợp hồi quy giả mạo, và khi đó các kiểm định dựa trên tiêu chuẩn t và F vẫn có ý nghĩa

3 Mối quan hệ nhân quả Granger :

Mục đích của kiểm định này là tìm kiếm mối quan hệ giữa các biến nội sinh với nhau để xem mối quan hệ nào là có ý nghĩa

3.1.2 Phương pháp lấy số liệu:

Số liệu về GDP, FDI, GROWTH, RIR của nước đi đầu tư và Việt Nam được lấy trên nguồn của website ngân hàng thế giới

TRADE – giá trị giao dịch thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước được lấy từ trang chủ của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam

Trang 23

Số liệu về OUTPUT GAP hầu như là không có trên các nguồn ở Việt Nam cũng như trên website của các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới Do đó trong trường hợp này tôi sẽ tự tính toán dựa trên các phương pháp tham khảo được của các nhà kinh tế ở các bài nghiên cứu khác, mà tôi sẽ đề cập ở phần sau Trước tiên, tôi sẽ định nghĩa về khoảng cách sản lượng hay còn gọi là OUTPUT GAP:

OUTPUT GAP được định nghĩa là chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng của một quốc gia Sản lượng tiềm năng là sản lượng tối ưu (không phải là tối đa) mà nền kinh tế đạt được ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (không phải là

tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất) với mức lạm phát vừa phải mà nền kinh tế có thế chấp nhận được

Hiện nay có rất nhiều cách để đo lường sản lượng tiềm năng của một đất nước được các nhà kinh tế học trên thế giới để xuất và tính toán Tuy nhiên, mỗi cách đều có những ưu và nhược điểm của nó ứng với từng trường hợp của mỗi quốc gia cũng như nguồn số liệu để tham khảo Sau đây tôi xin tóm tắt một cách ngắn gọn những phương thức được sử dụng cho đến thời điểm hiện nay và chọn ra phương thức tốt nhất để áp dụng vào Việt Nam:

3.1.2.1 Phương pháp đo lường sản lượng tiềm năng:

3.1.2.1.1 Ước tính theo phương pháp của văn phòng ngân sách quốc hội Mỹ (Congress Budget Office - CBO)

Ý tưởng về cách đo lường GDP tiềm năng cúa CBO dựa trên nền tảng của mô hình tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế - mô hình tăng trưởng Solow Mô hình tính toán tăng trưởng của GDP dựa trên tăng trưởng của lực lượng lao động (tính bằng tổng

số giờ làm việc), nguồn vốn và sự tiến bộ của khoa học – hay còn gọi là tổng các nhân

tố hiệu quả Từ đó ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y = F (A, L, K) Giả thiết hàm này có dạng Cobb-Douglass tức là :

Y = AK a L 1-a

Trong đó:

Trang 24

Để đo lường tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, CBO sử dụng chỉ số NAIRU là tỷ lệ thất nghiệp mà tại đó thị trường lao động ở trạng thái cân bằng và không có áp lực tăng hay giảm tỷ lệ lạm phát Nói một cách khoa học hơn, tỷ lệ NAIRU này được xem là tỷ lệ thất nghiệp không làm gia tăng lạm phát Tỷ lệ này có thể được tính toán dựa trên đường hiển thị mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp – đường cong Phillips Bằng cách lấy chênh lệch giữa tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và tỷ lệ thất nghiệp thực tế, áp dụng định luật Okun để tìm ra độ chênh lệch output gap và công việc cuối cùng chính

là áp dụng những công thức toán đơn giản để tìm ra GDP tiềm năng

3.1.2.1.2 Mô hình chuỗi thời gian đa biến

Phương pháp này sử dụng việc đo lường bằng thống kê được biết đến như là mô hình tự hồi quy vector (VARs) Những biến số như sản lượng (output), tỷ lệ việc làm (employment), khả năng sản xuất hiệu quả (productivity) và lạm phát (inflation) sẽ được tính toán bằng các phương pháp thống kê

Trang 25

3.1.2.1.3 Đo lường GDP tiềm năng bằng cách sử dụng bộ lọc Hodrick-Prescott (2004)

Giới thiệu về bộ lọc Hodrick - Prescott:

Bộ lọc này lần đầu tiên được sử dụng bởi hai nhà kinh tế học Robert J.Hodrick

và Edward C.Prescott, cả hai đã đạt được trao giải Nobel kinh tế năm 2004 cho sự đóng góp to lớn này

Ý tưởng của phương pháp toán này cũng tương tự như ý tưởng phân tích chuỗi thời gian Hai ông đã đưa ra công thức sau :

Trong đó

chính là logarit của biến chuỗi thời gian t=1,2,3…,T

Chuỗi thời gian được cấu thành bởi hai nhân tố, đó là nhân tố mang tính xu hướng, ký hiệu bởi và nhân tố mang tính chu kỳ, ký hiệu bởi mà tại đó nhân tố

xu hướng sẽ là đạt giá trị tối thiểu tức là :

 MIN Biểu thức đầu tiên chính là bình phương của độ lệch Còn biểu thức thứ hai là sự khác nhau giữa tốc độ tăng trưởng của hai thời kỳ trong xu hướng.Hệ sốcàng lớn thì mức độ sai lệch càng cao Hodrick và Prescott khuyến cáo, với dữ liệu lấy theo quý, thì hệ số lamblda nên lấy λ = 1600 là tốt nhất Phương pháp trên thường sử dụng trong kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong lý thuyết chu

kỳ kinh tế thực, để tách biệt nhân tố xu hướng của chuỗi thời gian từ dữ liệu thô ban đầu.Phương pháp này sẽ cho ra một đường cong phẳng cho chuỗi thời gian – chuỗi mà

có mức độ nhạy cảm trong biến động ở dài hạn nhiều hơn so với ngắn hạn Sự điều

Trang 26

chỉnh mức độ nhạy cảm cho biến động trong ngắn hạn được thực hiện bằng cách điều chỉnh số nhân λ

Hình 3.1: Bộ lọc chuỗi Hodrick-Prescott của Trung Quốc và Anh

Nguồn: Chạy dữ liệu với bộ lọc H-P

Thành phần mang tính xu hướng (trend) của GDP hay GDP tiềm năng (potential output)

Thành phần mang tính chu kỳ (cyclical) của GDP

Sản lượng GDP thực tế (output)

Trên đây là bộ lọc chuỗi Hodrick-Prescott tách GDP thành hai phần, một thành

phần mang tính xu hướng (trend) và một thành phần mang tính chu kì (cyclical) trong

trường hợp của hai quốc gia là Trung Quốc và Anh

Tương tự ta có được GDP tiềm năng của tất cả các nước cần khảo sát bằng cách

sử dụng lọc chuỗi, dựa vào công thức tính output gap = (sản lượng thực tế - sản lượng tiềm năng)/sản lượng tiềm năng Ta có bảng output gap sau:

Trang 27

Bảng 3.1: GDP tiềm năng của tất cả các nước cần khảo sát

Trang 28

2009 6.26% -1.31% 1.98% 14.24% 2.79% -12.64% -2.74% -7.24%

Nguồn: Chạy dữ liệu với bộ lọc H-P

3.1.2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của từng cách đo lường

Phương pháp đo lường của CBO sẽ có 2 lợi thế sau :

 Mô hình đo lường trực tiếp vào mức cung của nền kinh tế thông qua các biến số như lao động, vốn và tổng hiệu quả các yếu tố sản xuất TFP Do đó phương pháp này

sẽ đáp ứng linh hoạt để tính toán GDP danh nghĩa khi yếu tố về lao động và vốn thay đổi, ví dụ, nếu như các yếu tố khác không đổi khi số lượng lao động tăng lên 10% thì sản lượng đầu ra sẽ tăng 1,1a lần

 Số liệu là tương đối minh bạch

Tuy nhiên, hạn chế của mô hình theo CBO chính là việc xác định tỷ trọng cho lao động và vốn ở mô hình sản xuất, CBO đã áp đặt ra tỷ trọng này thay vì sử dụng ước lượng theo mô hình kinh tế

Hạn chế thứ 2 chính là việc ước lượng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên – NAIRU là khá khó khăn và đòi hỏi quy trình ước lượng phức tạp

 Phương pháp tự hồi quy VARs và bộ lọc Hodrick-Prescott :

Hai phương pháp này linh hoạt hơn so với phương pháp của CBO trong việc ước lượng xu hướng ở chuỗi số liệu Bộ lọc Hodrick-Prescott không đòi hỏi bất kỳ điều chỉnh nào khi xu hướng tăng trưởng ở trong mẫu số liệu thay đổi Bởi vì phương pháp này chủ yếu dựa trên con số trong mẫu, do đó nó có thể xác định xu hướng một cách nhanh hơn

Do chủ yếu dựa trên tính toán, hạn chế của phương pháp này chính là kết quả

sản lượng GDP khi phân tích sẽ mang tính xu hướng nhiều hơn (trend) là tính tiềm

Trang 29

năng (potential) Hơn nữa, như đã đề cập ở trên, chúng ta còn phải áp đặt thêm hệ số làm phẳng (smooth parameter) để thực hiện tính toán

Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế học đều áp dụng công cụ bộ lọc Prescott như là một phương pháp thích hợp để thực hiện các thử nghiệm thực tế nhằm

Hodrick-loại bỏ đi nhân tố mang tính chu kỳ của chuỗi số liệu Thêm vào đó, với việc hạn chế

về số liệu, số liệu chưa có mức tin cậy cao ở Việt Nam cũng như để đơn giản hóa tính toán, tôi sẽ sử dụng bộ lọc Hodrick-Prescott với số liệu GDP hằng năm để tính toán ra GDP tiềm năng của nền kinh tế

Một hạn chế khi gặp phải đó là dữ liệu trong một vài trường hợp sẽ bằng 0 hay không có quan sát, và lúc này thì log(0) sẽ không có ý nghĩa Nếu loại bỏ dữ liệu này ra thì kết quả sẽ không phản ứng đúng thực tế, bởi vì số liệu bằng 0 thường rơi vào thời

kỳ khủng hoảng khi mà vốn FDI của nước phát triển đầu tư vào nước kém phát triển sẽ không còn Vì vậy để khắc phục trường hợp dữ liệu bị kiểm lọc (censored data), tôi có

2 hướng giải quyết

Hướng thứ nhất tương tự như mục Literature review đã trình bày về hướng giải

quyết của Levy, Yeyati, Ugo Panizza (2007), ta cộng thêm 1 vào dữ liệu về FDI và

GDP, tức là phương trình hồi quy của mô hình sẽ là log (1+FDI) theo các biến độc lập như log (1+GDPi) và log (1+GDPj) Cách làm này sẽ không thay đổi kết quả của mô hình khi phân tích độ co giãn giữa biến phụ thuộc và biến độc lập bởi vì : log (1+x) = log(x) khi giá trị x là rất lớn, những dữ liệu bằng 0 ta có log (1+0) = log1 = 0 Ở đây,

dữ liệu về GDP và FDI tôi đều lấy đơn vị là triệu USD là rất lớn nên sẽ thỏa mãn điều kiện trên

Cách thứ hai để giải quyết về vấn đề dữ liệu bị kiểm duyệt (censored data)

chính là sử dụng mô hình Tobit

Biến phụ thuộc y, ở đây là FDI, được chuyển đổi từ một biến gốc y* như sau:

y = 0 nếu y* ≤ 0

y = y* nếu y* > 0

Trang 30

Cụ thể trong trường hợp của mô hình, biến phụ thuộc log(FDIijt) được biến đổi như sau :

y = log (FDI) nếu số liệu FDI tại năm lấy số liệu là khác 0

y = 0 nếu số liệu FDI tại năm cần xác định bằng 0

Cách tốt nhất để ước lượng mô hình Tobit đó chính là phương pháp Maximum Likelihood (MLE) với sự trợ giúp của các phần mềm máy tính như SHAZAM, RATS

và LIMDEP (Gujarati D (1955))

Tuy nhiên các phần mềm LIMDEP và SHAZAM chưa phổ biến nhiều như EVIEWS hay STATA, do đó để đơn giản hóa việc tính toán, tôi sẽ làm theo cách thứ

nhất – theo hướng giải quyết thiên về số liệu của Levy, Yeyati, Ugo Panizza (2007)

3.2.1.2 Phương pháp lấy số liệu về chỉ số rủi ro quốc gia

Số liệu về chi tiêu công trên GDP, số liệu về chỉ số giá tiêu dùng và phần trăm của tín dụng trên GDP, chúng tôi lấy trên website của ngân hàng thế giới World Bank

 Phương pháp tiếp cận điểm gãy và phân tích các thành phần trọng yếu

Trong các phương pháp trên thì phương pháp số 2 được sử dụng rộng rãi hơn vì tính đơn giản, dễ so sánh về độ rủi ro giữa các quốc gia khác nhau

Mô hình đánh giá xếp hạng rủi ro quốc gia – ICRG phân tích rủi ro của một quốc gia dựa trên 3 loại rủi ro:

Trang 31

 Rủi ro chính trị - Political risk (PR) bao gồm 12 khoản mục nhỏ, ví dụ như điều kiện xã hội, lực lượng quân đội, hệ thống luật pháp, mức độ quan liêu…

 Rủi ro kinh tế - Economic risk (ER) bao gồm các chỉ tiêu như : tỷ lệ phần trăm GDP đầu người so với tổng GDP đầu người trung bình trên thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP thực, mức độ lạm phát, ngân sách quốc gia và cán cân thanh toán

 Rủi ro tài chính – Financial risk (FR): bao gồm nợ nước ngoài tính theo phần trăm của GDP, nợ nước ngoài và cán cân tài khoản vãng lai tính theo phần trăm tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, mức độ ổn định của tỷ giá ngoại hối Sau khi tính toán mỗi loại rủi ro dựa trên biểu mức điểm, rủi ro tổng hợp

(composite risk) – hay rủi ro quốc gia được tính toán như sau :

Trang 32

Phần tiếp theo tôi sẽ nghiên cứu về tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng

kinh tế Tôi dựa trên phương pháp của Era Dabla-Norris, Jiro Honda, Amina

Lahreche, and Geneviève Verdier trong bài nghiên cứu “FDI Flows to Low-Income

Countries: Global Drivers and Growth Implications” tháng 6 năm 2010 Cụ thể,

phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được xây dựng dựa trên hồi quy dữ liệu thời gian Bên cạnh xem xét tác động của FDI, tác giả cũng nghiên cứu tác động của các biến kiểm soát khác và được thể hiện bằng phương trình sau:

yi,t – yi,t-1= α yi,t-1+β FDIi,t + γ Xi,t+ ε i,t

Trong đó yi,t là logarit của GDP trên đầu người năm t, FDIi,t là tỉ lệ phần trăm giữa dòng vào FDI và GDP năm t, Xi,t đại diện cho các biến kiểm soát, εi,t là phầndư

Vế trái của phương trình thể hiện tốc độ tăng trưởng, và vế phải là các biến độc lập

Đầu tiên tôi sẽ kiểm định tác động của FDI thông qua đánh giá phương trình hồi quy Bên cạnh đó, để xem khủng hoảng kinh tế có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay

không, tôi đưa thêm vào trong mô hình biến giả dummy mang giá trị 0 ứng với những

1

Bảng đánh giá của PRS GROUP http://www.prsgroup.com/ICRG_Methodology.aspx#EconRiskRating

Trang 33

năm trước 2009 và 1 với với hai năm 2009 và 2010 Tiếp theo, tôi cũng tách mẫu ra làm hai với mẫu trước năm 2009 và mẫu đầy đủ từ 1986-2010 để xem xét tác động của khủng hoảng kinh tế đến vai trò của FDI với tăng trưởng kinh tế

Sau đó, tôi tiếp tục xem xét rằng đâu là nhân tố chính dẫn truyền tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế Để làm điều này chúng tôi tiến hành xem xét các ngưỡng

đã được các tác giả trong bài nghiên cứu gốc xem xét đến thông qua khảo sát mẫu gồm các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình trên thế giới Sau khi đã tìm ra các ngưỡng, tôi kiểm định lại xem tác động của ngưỡng này bằng cách áp dụng mô hình VAR Từ đó đưa ra những khuyến nghị thích hợp Các bước tiến hành như sau

3.2.1.1 Tác động FDI ở VN

Trước hết, để đánh giá tác động của dòng FDI lên tăng trưởng kinh tế, tôi tiến hành hồi quy mô hình GMM ( Generalized Method of Moment System Estimation - Chi tiết mô hình GMM tôi sẽ đề cập ở phần sau) với các biến đã được Era Dabla-Norris, Jiro Honda, Amina Lahreche, and Geneviève Verdier sử dụng trong bài nghiên cứu của mình năm 2010

Một đặc trưng quan trọng của εi,t sẽ là một biến chuỗi có giá trị trung bình nhỏ

và không có xu hướng lớn dần hay nhỏ dần theo thời gian Vì vậy, nếu biến chuỗi sai

số này là biến ngẫu nhiên thì giá trị trung bình ước tính sẽ bằng 0 và có cùng phương sai Một biến chuỗi sai số với đặc tính này được gọi là biến chuỗi tĩnh (Stationary Time Series) Biến chuỗi tĩnh là khái niệm cơ bản và quan trọng hầu hết các mô hình Vì thế, trong khi ước lượng các tham số hoặc kiểm định giả thiết của các mô hình, nếu không kiểm định thuộc tính này của biến chuỗi thì các kỹ thuật phân tích thông thường (chẳng hạn như kỹ thuật OLS) sẽ không còn chính xác và hợp lý Do đó, nếu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tương quan như trên sẽ dẫn đến “tương quan giả“ (Granger và

Trang 34

Newbold, 1974)2 Kết quả của loại hồi quy này sẽ dẫn đến các kiểm định thống kê như

t, F, R2 sẽ bị lệch Nói một cách khác, hồi quy lệch sẽ cho kết quả các kiểm định thống

kê t và R2 rất tốt nhưng mô hình có thể hoàn toàn không có ý nghĩa Vì vậy, trước khi xây dựng và phân tích mô hình, cần phải có kiểm định thuộc tính tĩnh của các biến chuỗi trước khi đưa vào sử dụng

Hầu hết các biến đều được kiểm định thuộc tính tĩnh bằng cách thực hiện cả hai kiểm định nghiệm đơn vị2 Nếu các biến chưa dừng thì tôi tiến hành lấy sai phân

3.2.1.2 Tác động của ngưỡng (Threshold Effects)

Trong phần trước, tôi đã đề cập đến trường hợp khi FDI không đóng vai trò trong việc kích thích nền kinh tế, phần này, tôi sẽ tiếp tục trường hợp này bằng cách khảo sát các ngưỡng mà qua đó dẫn truyền tác động của FDI Các ngưỡng này đã được

đề cập ở trong literature Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu của mình, các tác giả Era Dabla-Norris, Jiro Honda, Amina Lahreche, and Geneviève Verdier (6/2010) đã cụ

thể hóa bằng cách chia thành 3 yếu tố chính:

Cơ sở hạ tầng kinh tế:

Sự phát triển của khu vực tài chính (với biến đại diện là tín dụng cho khu vực tư nhân)

Mức độ mở cửa thương mại ( tỉ lệ phần trăm giữa tổng xuất nhập khẩu so với GDP)

Chất lượng quản lý của cơ quan nhà nước (được đo lường bằng biến chỉ số kiểm soát tham nhũng của World Bank Governance Indicators)

Thể chế kinh tế: theo Christiansen et al., 2009 tôi xét chỉ số độc lập tài khoản

vốn (tự do hóa tài khoản vốn) như là biến đại diện cho Thể chế kinh tế Chỉ số này, tôi

sử dụng hệ số Kaopen được xây dựng bởi China Ito

Trang 35

Ổn định vĩ mô: các bài nghiên cứu cho thấy rằng môi trường kinh tế mạnh hơn

có thể củng cố mối quan hệ giữa FDI và đầu tư nội địa Và chỉ số giá tiêu dùng hằng

năm được sử dụng như là biến đại diện cho Ổn định vĩ mô

Cách thức tiến hành cụ thể gồm các bước như sau:

 Bước một là việc chọn mẫu để xem xét, dựa vào bài nghiên cứu gốc, tôi tiến hành lấy mẫu bao gồm 101 nước bao gồm các nước có thu nhập trung bình và thu nhập thấp

 Bước hai, ứng với 5 biến ở trên biến đại diện ở trên, với mỗi biến chung tôi sẽ tính ra trung bình của 101 nước qua chuỗi thời gian đang xem xét Từ đó với trung bình vừa tính được chúng tôi chia mẫu 101 nước thành hai phần: phần 1 bao gồm những nước có trung bình lớn lơn trung bình của mẫu, phần 2 là phần còn lại ứng với trung bình thấp hơn trung bình chung của mẫu Như vậy ứng với 5 biến thì chúng ta có 5 ngưỡng trung bình và tương ứng với 10 mẫu cần xem xét

 Bước ba, tôi áp dụng mô hình GMM (Generalized Method of Moment System Estimation) Và tiến hành hồi quy lại phương trinh trong bài nghiên cứu gốc:

yi,t –yi,t-1=α yi,t-1+β FDIi,t + γ Xi,t+ µt + ε i,t

Trong đó, ngoài các yếu tố yi,t, FDIi,t, Xi,t như đã được minh họa ở trên Yếu tố còn lại µt đại diện cho các tác động cố định ở một số nước mà không thể quan sát được, chẳng hạn như khoảng cách hay thời tiết

Vấn đề khó khăn trong việc hồi quy dữ liệu bảng với quá nhiều quốc gia là tác động ngược lại - là khả năng mà tốc độ tăng trưởng cao hơn thu hút nhiều FDI hơn-và vấn vấn đề liên quan đến các biến độc lập khác trong mô hình - như tốc độ tăng trưởng

và FDI có thể sẽ tác động ngược lại các biến còn lại Để xử lý vấn đề này, cùng với sự hiện diện của các tác động không quan sát được của các quốc gia, ctôi sử dụng phương

pháp GMM của Blundell và Bond (1998) với việc sử dụng những độ trễ phù hợp cũng

như sai phân của các biến chưa dừng như là công cụ chính Điểm mạnh của phương pháp này là nó xem xét cả mức độ thỏa mãn của các tham số GMM là phương pháp ước lượng củng cố mà không đòi hỏi thông tin về phân phối ban đầu của các biến Có

Trang 36

thể nói nhiều phương pháp ước lượng trong kinh tế lượng có thể được xem là trường hợp đặc biệt của GMM

3.2.1.3 Mô hình Var:

Sau khi đã tìm ra các ngưỡng dẫn truyền tác động của FDI đến tăng trưởng kinh

tế Tôi sử dụng mô hình Var để xem xét mối quan hệ của các ngưỡng này với FDI và tăng trưởng kinh tế trong quá khứ với độ trễ khác nhau

Mô hình VAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình)

và có các trễ của các biến số VAR là mô hình động của một số biến thời gian

Các vấn đề chi tiết về kĩ thuật toán học đã được trình bày nhiều trong các tài liệu kinh tế lượng, tôi xin chỉ đề cập đến một số vấn đề khi xây dựng mô hình Vςar

Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của mô hình Var: không cần xác định biến nào

là biến nội sinh và biến nào là biến ngoại sinh hay là ta có thể sử dụng phương pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ thì mô hình Var còn vướng phải một số hạn chế:

 Do trọng tâm mô hình được đặt vào dự báo nên Var ít phù hợp cho phân tích chính sách

 Khi xét đến mô hình Var thì yêu cầu các biến đầu vào phải là các biến dừng Nếu chưa dừng thì phải lấy sai phân Tuy nhiên khi lấy sai phân thì ta lại bỏ qua thông tin trong dài hạn

 Ngoài ra còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn độ trễ phù hợp Bên cạnh đó khi

độ trễ tăng sẽ làm cho bậc tự do giảm, do vậy ảnh hưởng đến đến chất lượng các ước lượng

3.2.2 Phương pháp lấy số liệu:

Dữ liệu về GDP đầu người, FDI và các biến kiểm soát khác được mô tả và trích nguồn trong bảng sau:

Trang 37

Bảng 3.2: Bảng mô tả biến

GDP Đầu Người

GDP Đầu Người (Giá Cố Định Năm 2000 Tính Theo $)

WDI (WORLD BANK)

Tín Dụng Cá Nhân

Tỉ Lệ Tín Dụng Cho Khu Vực Tư Nhân Trên GDP

WDI (WORLD BANK)

Tăng Trưởng Dân Số Tốc Độ Tăng Trưởng Dân Số Hằng Năm

WDI (WORLD BANK)

Chính Phủ Chi Tiêu Tiêu Dùng Của Chính Phủ

WDI (WORLD BANK)

Thương Mại

Tỉ Lệ Tổng Xuất Khẩu Và Nhập Khẩu Trên GDP

WDI (WORLD BANK)

Chất Lượng Quản Lý Chỉ Số Kiểm Soát Tham Nhũng

WDI (WORLD BANK)

4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Kết quả những nhân tố nào có tác động dẫn dắt các dòng FDI đến Việt Nam

4.1.1 Kết quả hồi quy OLS:

Sau khi hồi quy biến phụ thuộc FDI theo các biến độc lập bằng phần mềm Eviews, ta có kết quả

Trang 38

Bảng 4.1: Bảng kết quả hồi quy 1

Kết quả với R 2 =96% cho thấy mức độ tin cậy của mô hình là tương đối lớn,

trong đó log (1+GDP_SOURCE) và log(1+GDP_HOST (-1)) đại diện cho GDP của

các nước đi đầu tư và Việt Nam3

có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê đáng kể Điều này cũng hợp lý về mặt lý thuyết, khi mà GDP ở các nước phát triển tăng đồng nghĩa với thị trường ở nước đó mở rộng, vì vậy nó có xu hướng tìm kiếm cơ hội đầu tư nước ngoài thông qua nguồn vốn đầu tư FDI và dòng chảy vốn vào Việt Nam – nước tiếp nhận đầu tư gia tăng cũng là điều hợp lý

Tuy nhiên, biến GDP_GROWTH đại diện cho tốc độ tăng trưởng GDP thực của

Việt Nam lại không có ý nghĩa thống kê lớn, điều này chứng tỏ các nước đi đầu tư không quan tâm nhiều đến tốc độ tăng trưởng GDP nước ta

3

Trong đó chúng tôi lấy trễ pha số liệu GDP của Việt Nam sau 1 năm so với FDI

Trang 39

Các biến còn lại log (1+TRADE) và output gap đều không có ý nghĩa thống kê

Điều này trái với dự đoán của tôi, bởi khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng – lúc này GDP thực tế vượt quá GDP tiềm năng sẽ dẫn đến lạm phát, hệ lụy của nó làm cho nền kinh tế chậm thu hút vốn đầu tư bởi số tiền mà nhà đầu tư thu về đã bị sụt giảm do tình

trạng lạm phát gia tăng, vì vậy output gap và nguồn vốn đầu tư FDI thường sẽ có mối

quan hệ ngược chiều

Hệ số của RIR tuy có ý nghĩa thống kê nhưng lại có giá trị dương, điều này

cũng không phù hợp với dự đoán của tôi bởi nhà đầu tư sẽ tìm kiếm lợi nhuận với hành

vi kinh doanh chênh lệch lãi suất bằng cách gia tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài khi lãi suất trong nước giảm, do đó mối tương quan giữa RIR và FDI vào Việt Nam thường

sẽ có hệ số âm

Trường hợp R2 cao cũng có thể do mô hình có các biến tự tương quan với nhau,

để xem chúng có tự tương quan với nhau hay không, tôi chạy kiểm định

Breusch-Godfrey cho mô hình

Trang 40

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định B-G

Với probability = 80.25% điều này cho thấy có khả năng cao kiểm định B-G

bác bỏ giả thuyết H0 (không có tương quan giữa các biến) tức trong mô hình trên các biến có tự tương quan

Một trong những giả thiết của mô hình hồi quy cổ điển là các biến độc lập là phi ngẫu nhiên, chúng có giá trị xác định Nếu như chúng ta ước lượng một mô hình với chuỗi thời gian trong đó các biến độc lập không dừng, khi đó giả thiết của OLS bị vi phạm – lúc này phương pháp OLS sẽ không còn ý nghĩa đối với các chuỗi không dừng

Vì vậy để xem xét mức độ tin cậy của phương pháp OLS phía trên, tôi sẽ tiến hành kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu (kiểm định với chuỗi dữ liệu sau khi lấy LOG)

Ngày đăng: 01/04/2014, 01:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: GDP tiềm năng của tất cả các nước cần khảo sát - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 3.1 GDP tiềm năng của tất cả các nước cần khảo sát (Trang 27)
Bảng 3.2: Bảng mô tả biến - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 3.2 Bảng mô tả biến (Trang 37)
Bảng 4.1: Bảng kết quả hồi quy 1 - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 4.1 Bảng kết quả hồi quy 1 (Trang 38)
Bảng 4.7 : Hiệu chỉnh phần dƣ trong mô hình VECM - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 4.7 Hiệu chỉnh phần dƣ trong mô hình VECM (Trang 46)
Hình 4.1: Lƣợc đồ phần dƣ của các chuỗi số liệu - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Hình 4.1 Lƣợc đồ phần dƣ của các chuỗi số liệu (Trang 48)
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định Granger - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Granger (Trang 51)
Bảng 4.10: Kết quả mô hình VECM với hệ số của các biến nội sinh và hiệu - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 4.10 Kết quả mô hình VECM với hệ số của các biến nội sinh và hiệu (Trang 52)
Hình 4.2 : Đồ thị phần dƣ của mô hình - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Hình 4.2 Đồ thị phần dƣ của mô hình (Trang 53)
Bảng 4.11: Kết quả của mô hình VECM khi xem xét tác động của suy thoái - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 4.11 Kết quả của mô hình VECM khi xem xét tác động của suy thoái (Trang 54)
Hình 4.3: Đồ thị phần dƣ - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Hình 4.3 Đồ thị phần dƣ (Trang 61)
Hình 4.4: Đồ thị phần dư cho mẫu trước năm 2008 - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Hình 4.4 Đồ thị phần dư cho mẫu trước năm 2008 (Trang 65)
Hình 4.5: Cơ cấu vốn FDI theo ngành giai đoạn 1988 – 2007 - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Hình 4.5 Cơ cấu vốn FDI theo ngành giai đoạn 1988 – 2007 (Trang 69)
Bảng 4.24: Kết quả mô hình VAR - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 4.24 Kết quả mô hình VAR (Trang 75)
Bảng 4.24: Kiểm định nhân quả Granger ứng với 2 độ trễ. - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Bảng 4.24 Kiểm định nhân quả Granger ứng với 2 độ trễ (Trang 76)
Hình 4.6: Kết quả kiểm định phần dƣ - Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008
Hình 4.6 Kết quả kiểm định phần dƣ (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w