MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................................i DANH MỤC BẢNG HÌNH ....................................................................................ii TÓM TẮT ĐỀ TÀI ................................................................................................iii CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG.................................................................... 1 1.1 Tổng quan ........................................................................................................ 1 1.2 Bố cục trình bày............................................................................................... 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY............. 3 2.1 Lý thuyết bộ ba bất khả thi cổ điển ................................................................. 3 2.2 Lý thuyết tam giác mở rộng............................................................................. 6 2.3 Mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi ..................................................... 7 2.4 Thước đo bộ ba bất khả thi .............................................................................. 8 2.5 Một số công trình nghiên cứu khác ............................................................... 10 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 16 3.1 Phương pháp đo lường độc lập tiền tệ mới.................................................... 16 3.2 Đo lường độ ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế dưới góc nhìn bộ ba bất khả thi................................................................................................... 18 3.3 Mô hình nghiên cứu....................................................................................... 22 3.4 Mô tả dữ liệu.................................................................................................. 25 CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM .................. 27 4.1 Áp dụng phương pháp mới đo lường độc lập tiền tệ cho Việt Nam ............. 27 4.2 Độ ổn định chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế qua thời gian .......................... 27 4.2.1 Giai đoạn 1997-2000.............................................................................. 28 4.2.2 Giai đoạn 2007-2008.............................................................................. 29 4.3 Mẫu hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam .......................................................... 31 4.4 Xem xét tác động của dự trữ ngoại hối đến độ ổn định của Bộ ba bất khả thi ......................................................................................................................... 34 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................... 1 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT IMF Quỹ tiển tệ thế giới ERS Chỉ số ổn định tỷ giá KAOPEN Chỉ số hội nhập tài chính MI Chỉ số đo lường độc lập tiền tệ LSDV Mô hình hồi quy biến giả bình phương tối thiểu NHNN Ngân hàng nhà nước DANH MỤC BẢNG HÌNH Hình 1: Bộ ba bất khả thi cổ điển. Hình 2: Lý thuyết tam giác mở rộng. Hình 3: Mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi. Hình 4: Phương pháp đo lường độc lập tiền tệ mới. Hình 5: Vectơ đo lường độ ổn định trong chính sách, Indonesia 1996-97. Hình 6: Vectơ đo lường độ ổn định trong chính sách, Việt Nam 2008-09. Hình 7: Đồ thị diễn biến thay đổi tỷ giá USD/VND từ 1996-2009. Bảng 1: Khoảng cách của Việt Nam với từng mẫu hình từ năm 1996- 2009. Bảng 2: Ước lượng OLS- những quốc gia có thu nhập ở mức trung bình thấp (Lower Middle Income Economies). Bảng 3: Ước lượng Probit. TÓM TẮT ĐỀ TÀI Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam luôn phải chứng kiến sự biến động mạnh của các biến số kinh tế vĩ mô và những bất ổn đi kèm. Dòng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài đang ồ ạt đổ vào nước ta, lãi suất cho vay luôn ở mức rất cao, tỷ giá hối đoái luôn được định ở mức cao hơn so với thực tế. Điều đó đặt cho các nhà hoạch định chính sách trước bài toán vô cùng nan giải giữa lựa chọn giữa độc lập tiền tệ và chế độ tỷ giá hối đoái trong xu thế hội nhập tài chính là xu thế tất yếu của nền linh tế. Sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã tác động rất mạnh vào chính sách kinh tế của Việt Nam. Để lượng hóa những thay đổi trong chính sách kinh tế của Việt Nam dưới góc nhìn Bộ ba bất khả thi, bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ cung cấp them một công cụ để đo lường độ ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Lý thuyết bộ ba bất khả thi kinh điển của Robert Mundell và Marcus Fleming vào thập niên 1960 cho rằng một quốc gia không thể nào đạt được sự ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ. Mỗi quốc gia phải đánh đổi những mục tiêu này. Khi một chính sách được lựa chọn, liệu chính sách nền kinh tế đóng có ổn định hơn so với chính sách tỷ giá thả nổi hay tỷ giá cố định. Để trả lời câu hỏi này, Helen Popper, Alex Mandilaras và Graham Bird (2011) đã dựa trên lý thuyết bộ ba bất khả thi kinh điển để đưa ra thước đo đơn biến mới đo lường sự ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế và sử dụng thước đo mới để đo độ độc lập của tiền tệ. Mục tiêu của chúng tôi là đo lường độ độc lập tiền tệ (MI) theo thước đo mới của Helen Popper, Alex Mandilaras và Graham Bird (2011) dựa trên các chỉ số về hội nhập tài chính (KAOPEN) và độ ổn định tỷ giá (ERS) của Chinn và Ito (2008). Từ đó đánh giá sự ổn định của chính sách vĩ mô quốc tế của Việt Nam. Thêm vào đó, chúng tôi cũng muốn xem xét đến sự ảnh hưởng của dự trữ ngoại hối đến sự ổn định của chính sách. Xác định vấn đề nghiên cứu Bài này nghiên cứu độ ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế sử dụng cách đo lường đơn biến mới. Chúng tôi cũng áp dụng cách đo lường độc lập tiền tệ mới của Popper cùng cộng sự (2011) để đo độ ổn định của tỷ giá hối đoái, độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính của Việt Nam nhằm mục đích đánh giá sự ổn định của những chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế của Việt Nam. Thêm vào đó, chúng tôi xem xét đến dự trữ ngoại hối có tác động như thế nào đến sự ổn định của chính sách vĩ mô quốc tế trong trường hợp của những nền kinh tế có thu nhập trung bình (thấp)- lower Middle income economies ( trong đó có Việt Nam, theo phân loại của World bank).
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG HÌNH ii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI iii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Tổng quan 1
1.2 Bố cục trình bày 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3
2.1 Lý thuyết bộ ba bất khả thi cổ điển 3
2.2 Lý thuyết tam giác mở rộng 6
2.3 Mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi 7
2.4 Thước đo bộ ba bất khả thi 8
2.5 Một số công trình nghiên cứu khác 10
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Phương pháp đo lường độc lập tiền tệ mới 16
3.2 Đo lường độ ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế dưới góc nhìn bộ ba bất khả thi 18
3.3 Mô hình nghiên cứu 22
3.4 Mô tả dữ liệu 25
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM 27
4.1 Áp dụng phương pháp mới đo lường độc lập tiền tệ cho Việt Nam 27
4.2 Độ ổn định chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế qua thời gian 27
4.2.1 Giai đoạn 1997-2000 28
Trang 44.2.2 Giai đoạn 2007-2008 29
4.3 Mẫu hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam 31 4.4 Xem xét tác động của dự trữ ngoại hối đến độ ổn định của Bộ ba bất khả thi 34
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
tối thiểu
Trang 6DANH MỤC BẢNG HÌNH
Hình 1: Bộ ba bất khả thi cổ điển
Hình 2: Lý thuyết tam giác mở rộng
Hình 3: Mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi
Hình 4: Phương pháp đo lường độc lập tiền tệ mới
Hình 5: Vectơ đo lường độ ổn định trong chính sách, Indonesia 1996-97 Hình 6: Vectơ đo lường độ ổn định trong chính sách, Việt Nam 2008-09 Hình 7: Đồ thị diễn biến thay đổi tỷ giá USD/VND từ 1996-2009
Bảng 1: Khoảng cách của Việt Nam với từng mẫu hình từ năm 1996- 2009 Bảng 2: Ước lượng OLS- những quốc gia có thu nhập ở mức trung bình thấp
(Lower Middle Income Economies)
Bảng 3: Ước lượng Probit
Trang 7TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam luôn phải chứng kiến sự biến động mạnh của các biến số kinh tế vĩ mô và những bất ổn đi kèm Dòng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài đang ồ ạt đổ vào nước ta, lãi suất cho vay luôn ở mức rất cao, tỷ giá hối đoái luôn được định ở mức cao hơn so với thực tế Điều
đó đặt cho các nhà hoạch định chính sách trước bài toán vô cùng nan giải giữa lựa chọn giữa độc lập tiền tệ và chế độ tỷ giá hối đoái trong xu thế hội nhập tài chính là xu thế tất yếu của nền linh tế Sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia Khủng hoảng kinh tế toàn cầu
2008 đã tác động rất mạnh vào chính sách kinh tế của Việt Nam Để lượng hóa những thay đổi trong chính sách kinh tế của Việt Nam dưới góc nhìn Bộ ba bất khả thi, bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ cung cấp them một công cụ để đo lường độ ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam Lý thuyết bộ ba bất khả thi kinh điển của Robert Mundell và Marcus Fleming vào thập niên
1960 cho rằng một quốc gia không thể nào đạt được sự ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ Mỗi quốc gia phải đánh đổi những mục tiêu này Khi một chính sách được lựa chọn, liệu chính sách nền kinh tế đóng có ổn định hơn so với chính sách tỷ giá thả nổi hay tỷ giá cố định Để trả lời câu hỏi này, Helen Popper, Alex Mandilaras và Graham Bird (2011) đã dựa trên lý thuyết
bộ ba bất khả thi kinh điển để đưa ra thước đo đơn biến mới đo lường sự ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế và sử dụng thước đo mới để đo độ độc lập của tiền tệ Mục tiêu của chúng tôi là đo lường độ độc lập tiền tệ (MI) theo thước đo mới của Helen Popper, Alex Mandilaras và Graham Bird (2011) dựa trên các chỉ số về hội nhập tài chính (KAOPEN) và độ ổn định tỷ giá (ERS) của Chinn và Ito (2008) Từ đó đánh giá sự ổn định của chính sách vĩ
Trang 8mô quốc tế của Việt Nam Thêm vào đó, chúng tôi cũng muốn xem xét đến sự ảnh hưởng của dự trữ ngoại hối đến sự ổn định của chính sách
Xác định vấn đề nghiên cứu
Bài này nghiên cứu độ ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế sử dụng cách đo lường đơn biến mới Chúng tôi cũng áp dụng cách đo lường độc lập tiền tệ mới của Popper cùng cộng sự (2011) để đo độ ổn định của tỷ giá hối đoái, độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính của Việt Nam nhằm mục đích đánh giá sự ổn định của những chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế của Việt Nam Thêm vào đó, chúng tôi xem xét đến dự trữ ngoại hối có tác động như thế nào đến sự ổn định của chính sách vĩ mô quốc tế trong trường hợp của những nền kinh tế có thu nhập trung bình (thấp)- lower Middle income economies ( trong
đó có Việt Nam, theo phân loại của World bank)
Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu giúp chúng tôi trả lời những câu hỏi sau:
Vị trí hiện nay chính sách Việt Nam trên hệ không gian ba chiều với ba trục tương ứng là ba chỉ số của bộ ba bất khả thi? Độ ổn định của chính sách kinh tế
vĩ mô quốc tế của Việt nam qua đó được đánh giá như thế nào?
Việt Nam được phân loại vào mẫu hình nào trong 4 mẫu hình “ Trung Quốc”, “ Hoa Kỳ”, “Hồng Kong” “ Trung gian” qua từng năm
Ảnh hưởng của dữ trữ ngoại hối đến độ ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô của các nền kinh tế có thu nhập trung bình (thấp)
Phương pháp nghiên cứu
o Dữ liệu
Trong nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam, chúng tôi sử dụng mẫu gồm
45 nước có thu nhập trung bình thấp và ba nước Mỹ, Hong Kong và Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2009 Vì Mỹ, Hong Kong và Trung Quốc là ba nước có mẫu hình bộ ba bất khả thi lệch về hai đỉnh của tam giác
Trang 9Chúng tôi đưa số liệu của Mỹ Hong Kong và Trung Quốc vào để xem xét mẫu hình Bộ ba bất khả thi của Việt Nam thiên về mẫu hình nào của ba quốc gia này Số liệu về các chỉ số đo lường Bộ ba bất khả thi ERS và KAOPEN lấy từ kết quả tính toán của Chinn, Ito (2008) Sau đó chúng tôi tính lại chỉ số đo lường độc lập tiền tệ mới MI theo phương pháp của Helen Popper Alex Mandilaras và Graham Bird (2011) Số liệu về dự trữ ngoại hối chính thức và GDP chúng tôi thu thập từ cơ sở dữ liệu của WB Sau đó, chúng tôi tính toán tỷ
số dự trữ ngoại hối chính thức trên GDP để đưa vào mô hình nghiên cứu
o Mô hình
Chúng tôi giới thiệu một sự đo lường thay thế về sự độc lập tiền tệ mà
nó tránh được hạn chế trên, và chúng tôi sử dụng sự đo lường mới cho sự đôc lập này để đánh giá sự ổn định, ni,t Sự đo lường mới của chúng tôi về sự độc lập bắt đầu bằng việc tiếp cận bộ ba bất khả thi này một cách cẩn trọng: chúng tôi giả định rằng bộ ba này tồn tại Với sự giả định đó, sự đo lường tồn tại của
ổn định tỉ giá, Si,t, và sự hội nhập tài chính, Fi,t, cung cấp cho ta một sự đo lường thay thế của sự độc lập về tiền tệ, Mi,t, Đặc biệt, sự đo lường thay thế này về độc lập tiền tệ là:
Trong đó:
Ri,t= (Si,t, Fi,t, Mi,t)
Si,t độ ổn định của tỷ giá
Fi,t hội nhập tài chính
Mi.t độc lập tiền tệ
Để xem xét xem Việt Nam được xếp vào mẫu hình nào qua từng năm, chúng tôi sử dụng công thức:
Trang 10type VN , t = type j
Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp định tính, định lượng, thống kê và hồi quy phân tích để làm rõ những vấn đề nêu trên Về mặt định lượng bằng mô hình hồi quy OLS với ảnh hưởng cố định và mô hình Probit dựa trên phương pháp tiếp cận của Grambird (2011) với bộ số liệu mới cho Việt Nam và một số nước thuộc khu vực có thu nhập trung bình thấp Qua
đó chúng ta có thể thấy được sự thay đổi trong chính sách (độ dài được điều chỉnh) với dữ trữ ngoại hối trong quá khứ, độ ổn định tỷ giá và độ mở tài chính trong quá khứ và sự tương tác giữa dữ trữ ngoại hối và 2 chỉ số đó
Hồi quy sự thay đổi trong chính sách với dữ trữ ngoại hối nhưng thay vì sử dụng chỉ số độ ổn định tỷ giá và độ mở tài chính thì sử dụng biến giả mẫu hình kinh tế vĩ mô quốc tế:
Mỗi phương trình trên được ước lượng lần lượt với không có hiệu ứng, cố định (fixed effect), có hiệu ứng cố định quốc gia, với hiệu ứng thời gian và với
cả hiệu ứng thời gian và của cả quốc gia
Tiếp theo, chúng tôi sử dụng mô hình probit cho phương trình (I) nhưng thay vì biến độ dài vectơ là biến định lượng thì ở đây, độ dài vectơ được hiệu chỉnh là biến giả nhận giá trị là 1 nếu độ dài vectơ vượt qua giá trị ngưỡng và bằng 0 ngược lại
Nội dung nghiên cứu
giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực
Trang 11o Chương II: chúng tôi sẽ giới thiệu một vài nghiên cứu của các nhóm
tác giả khác và những quan điểm khác về đề tài này
bài nghiên cứu, cách thức nghiên cứu mà chúng tôi đã sử dụng, mô hình nào được áp dụng và dữ liệu được sử dụng như thế nào?
thu được trong nghiên cứu thực nghiệm Bộ ba bất khả thi ở Việt Nam
tôi đang nghiên cứu
Đóng góp của đề tài
Bài nghiên cứu này khắc phục những hạn chế trong các chỉ số đo lường
Bộ ba bất khả thi theo Aizenman, Chinn và Ito (2008) Bên cạnh đó, bài nghiên
cứu này cung cấp thêm một công cụ để đo lường sự ổn định kinh tế vĩ mô Đây chính là điều khác biệt so với các nghiên cứu trước đây Qua đó đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật nói chung và nghiên cứu Bộ ba bất khả thi nói riêng
Về mặt thực tiễn, bài nghiên cứu này rất quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động như ở Việt Nam chúng ta Bằng việc sử dụng các mô hình hồi quy, chúng tôi có thể định lượng được độ ổn định Bộ ba bất khả thi Qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách có them những hợi ý cho những chính sách phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể
Hướng phát triển đề tài
Dữ liệu về các chỉ số ERS và KAOPEN chúng tôi thu thập được từ Chinn, Ito (2008) có thể nói là khá ngắn về mặt thời gian Chúng tôi chỉ có thể thu thập được số liệu cho các nước có thu nhập trung bình thấp (đã loại bỏ một
số nước do không có số liệu) trong khoảng thời gian từ 1996 đến 2009 Nếu có
Trang 12thể thu thập được chuỗi số liệu dài hơn, chúng tôi kỳ vọng sẽ có kết quả chính xác hơn
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Tổng quan
Trước khủng hoảng, ổn định kinh tế vĩ mô đã được nhìn nhận là một
điều kiện cần thiết, nhưng chưa được xem là điều kiện đủ cho tăng trưởng bền vững Đã từng có những sự kinh doanh rơi vào thất bại, những cú sốc, và bong bóng tài sản ở các nền kinh tế tiên tiến, nhưng sự bất ổn đó đã từng được cho là không thực sự đe dọa sự cân bằng của các nền kinh tế phát triển Thay vào đó,
sự bất ổn định kinh tế vĩ mô chủ yếu được nhìn nhận như một thách thức trong nền kinh tế đang phát triển
Sau khủng hoảng, cả những nước phát triển và đang phát triển không phải lúc nào cũng luôn luôn có sự ổn định kinh tế vĩ mô, do đó chúng ta phải xem xét lại các ý kiến cho rằng các nền kinh tế mới nổi dễ bị mất ổn định hơn
so với những nền kinh tế tiên tiến Tuy nhiên, điều kiện cần thiết ở trên vẫn còn đúng và những thách thức đặt ra là làm thế nào để đạt được sự ổn định, cả ở trong nước và trong nền kinh tế toàn cầu
Thế giới đang phải đối mặt với viễn cảnh không mấy lạc quan về kinh tế năm 2013: nợ công Châu Âu, sự phục hồi chưa rõ ràng của nền kinh tế Mỹ, những nguy cơ tiềm ẩn của cuộc chạy đua vũ trang khi Trung Quốc thể hiện tham vọng bành trướng ở biển Đông, xung đột quân sự hai miền Triều Tiên, v.v Tất cả những thông tin bất ổn hiện tại của thế giới đã nói lên những điều
mà các nhà hoạch định chính sách, những nhà kinh tế đang lo lắng về viễn cảnh thế giới đang ở cận kề một cuộc khủng hoảng mới
Hầu hết các cuộc thảo luận của các chuyên gia đều được tập trung dành cho các khuôn khổ của các chính sách kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, một điều chắc chắn rằng các chính sách ứng với những nhiệm vụ quan trọng cần phải được xem xét cẩn trọng Việt Nam là một nước đang phát triển và để thực hiện mục tiêu trở thành một nước công nghiệp phát triển trong tương lai, chúng ta cần sự
Trang 14ổn định cần thiết của các chính sách kinh tế vĩ mô để tập trung phát triển Nhận thức được tầm quan trọng này mà Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội là các mục tiêu, nhiệm
vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay
Những vấn đề xoay quanh lạm phát, tỷ giá và lãi suất cũng đã và đang được quan tâm, và hơn lúc nào hết, “bộ ba bất khả thi” trong chính sách kinh
tế vĩ mô vẫn hiện diện với những nhận định chưa đi đến hồi kết
Về việc nghiên cứu thực tiễn Bộ ba bất khả thi ở Việt Nam, cho đến bây giờ, đa số các bài nghiên cứu khác đều sử dụng phương pháp của Aizenman, Chinn và Ito (2008) để tính toán, đo lường các chỉ số trong bộ ba bất khả thi và đưa ra sự lựa chọn chính sách Trong khi đó, phương pháp này vẫn còn có những hạn chế nhất định về mặt chỉ số Vì vậy, bài nghiên cứu của chúng tôi ngoài việc xem xét lại những phương pháp của Aizenman, Chinn và Ito (2008) đã được dùng để kiểm định cho Việt Nam, chúng tôi còn sử dụng thêm một phương pháp mới của Helen Popper, Alex Mandularas và Graham Bird (2011) với các chỉ số thay thế nhằm khắc phục được những nhược điểm trong cách tính toán của Aizenman, Chinn và Ito (2008) và từ đó có thể đưa ra được cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn cho thực tiễn bộ ba bất khả thi tại Việt Nam Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng mong muốn tạo lập được các tình huống có thể của các chính sách trong tương lai, qua đó có thể đề xuất lộ trình chính sách
bộ ba bất khả thi thích hợp cho Việt Nam trong giai đoạn sắp tới
1.2 Bố cục trình bày
Bài nghiên cứu sẽ được tổ chức như sau, ở chương 2 chúng ta sẽ xem lại một số các nghiên cứu trước đây về các lý thuyết cũng như các phương pháp đo lường bộ ba bất khả thi trong các chính sách Chương 3 sẽ đi vào lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu của chúng tôi Chương 4, nghiên cứu trên thực tế tại Việt Nam bằng cách phương pháp truyền thống cũng như những điểm mới
Trang 15trong các phương pháp Chương 5 sẽ đi tới các kết luận rút ra của bài nghiên cứu
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Lý thuyết bộ ba bất khả thi cổ điển
Bộ ba bất khả thi là lý thuyết rất phổ biến trong kinh tế được phát triển bởi Robert Mundell và Marcus Fleming vào thập niên 1960 Tiếp đó, Krugman (1979) và Frankel (1999) đã tổng quát thành Lý thuyết Bộ ba bất khả thi Lý thuyết bộ ba bất khả thi được phát biểu như một định đề: một quốc gia không thể đồng thời đạt được tỷ giá cố định, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ Theo đó, một quốc gia chỉ có thể lựa chọn cùng một lúc đồng thời hai trong ba mục tiêu là độc lập tiền tệ, hội nhập tài chính và ổn định tỷ giá Ba mục tiêu đó được diễn đạt như sau:
Độc lập tiền tệ: giúp cho chính phủ chủ động thực hiện các công cụ chính sách tiền tệ để thực hiện chính sách phản chu kì kinh tế Chẳng hạn nếu nền kinh tế có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc thắt chặt cung tiền và ngược lại Trong các trường hợp này chính phủ không quan tâm đến tỷ giá tăng hay giảm và các biến số kinh tế vĩ mô khác Chính vì sự độc lập tiền tệ này mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định hơn Tuy nhiên vấn đề trong một thế giới mà tiền lương và giá
cả tương đối cứng nhắc, độc lập tiền tệ quá mức có thể là một cái cớ đề chính phủ lạm dụng thực hiện các chiến lược tăng trưởng méo mó trong ngắn hạn Độc lập tiền tệ nhiều hơn vì vậy dễ dẫn đến bất ổn trong tăng trưởng và nguy
cơ lạm phát cao Đó là chưa kể, độc lập tiền tệ quá mức có khả năng làm cho
Trang 16chính phủ tiền tệ hóa chi tiêu của chính phủ bằng cách phát hành tiền trang trải cho thâm hụt ngân sách
Hội nhập tài chính tất nhiên là xu thế khó có thể cưỡng lại được trong bối cảnh toàn cầu hoá Lợi ích của hội nhập tài chính đến từ hai mặt : hữu hình
và vô hình Về mặt hữu hình, lợi ích của hội nhập tài chính giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn Chúng cũng giúp nhà đầu tư
đa dạng hoá đầu tư, nhờ vậy mà họ mới mạnh dạn bỏ vốn vào nền kinh tế, thị trường tài chính nội địa nhờ đó mà cũng phát triển theo Lợi ích lớn nhất – lợi ích vô hình – mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và đưa ra chính sách tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập Mặc dù vậy, hội nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh tế những năm gần đây Các cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 1990 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng có nguyên nhân từ hội nhập tài chính nhưng thiếu quy tắc điều kiện kèm theo Tình trạng bong bóng chứng khoán và bất động sản ở Việt Nam giai đoạn 2005-2008 dẫn đến những bất ổn kinh tế vĩ mô một phần cũng do tự do hóa tài chính nhưng thiếu
cơ chế giám sát tương thích Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần
là ngắn hạn và mang tính đầu cơ
Trang 17Việc lựa chọn trong bộ ba bất khả thi được thể hiện như hình dưới đậy:
Hình 1: Bộ ba bất khả thi cổ điển
Mỗi cạnh tượng trưng cho chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính Và mô tả một mục tiêu kì vọng, tuy nhiên không thể thực hiện đồng thời cả ba cạnh của một tam giác Đỉnh của tam giác, được gọi là “ thị trường vốn đóng”, là sự kết hợp giữa độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá, nhưng không có hội nhập tài chính Đây được xem là lựa chọn ưa thích của hầu hết các nước đang phát triển trong giữa đến cuối những năm giữa sau thập niên
1980 Bất kì cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bằng một chế độ tỷ giá tương ứng nhưng phải từ bỏ mục tiêu chính sách còn lại:
o Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá cố định nhưng phải từ bỏ mục tiêu độc lập tiền tệ Điều này
có nghĩa là chính phủ đã mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài
o Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá Với lựa
Trang 18chọn này, chính phủ (NHTW) được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo những nguyên tắc chung của thị trường
o Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường vốn đóng Lụa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ
2.2 Lý thuyết tam giác mở rộng
Năm 2001, Yigang và Tangxian tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất
khả thi của Mundell và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng Nền tảng của thuyết này là những quan niệm mới về sự độc lập của chính sách tiền tệ và ổn định tỷ giá Theo đó, bộ ba bất khả thi của Mundell kết luận rằng một quốc gia không thể có một chính sách tỷ giá ổn định một nửa (half-stability) và chính sách tiền tệ độc lập một nửa (half- independence) Nói rõ hơn, tam giác bất khả thi của Mundell chỉ mới tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm ở các đỉnh (hay góc) tam giác mà chưa đề cập đến một cơ chế tỷ giá trung gian nằm đâu đó trong tam giác bất khả thi
Hình 2: Lý thuyết tam giác mở rộng
Trang 19Ta thấy trên hình điểm O sẽ là điểm phối hợp lựa chọn của 3 mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính Ở điểm này không hoàn toàn ưu tiên mục tiêu nào cả cũng không có sự đánh đổi ở đây mà
sự lựa chọn này sẽ thay đổi tùy vào điều kiện của quốc gia đó Khoảng cách từ
O đến mỗi cạnh càng ngắn thể hiện quốc gia đó trong giai đoạn này ưu tiên mục tiêu đó nhiều hơn các mục tiêu khác Một điều đặc biệt là 3 khoảng cách này cộng lại sẽ không đổi và sẽ bằng chiều cao của tam giác
2.3 Mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi
Azenman, Chinn và Ito (2008) đã triển khai một dạng đồ thị hình kim
cương để đo lường xu hướng của những thay đổi này Azenman, Chinn, Ito xây dựng cho mỗi quốc gia một bộ ba bất khả thi và những cấu hình của dự trữ ngoại hối để đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính và dự trữ ngoại hối Những thước đo này dao động từ 0 đến 1 Cấu hình của mỗi quốc gia được tổng hợp bằng đồ thị kim cương tổng quát với 4 đỉnh đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP và hội nhập tài chính Tuy nhiên chi phí của việc gia tăng nắm giữ dự trữ ngoại hối và các can thiệp
vô hiệu hóa vào thị trường ngày càng gia tăng đã đặt một dấu hỏi lớn cho tính bền vững của mẫu hình này ở các nước mới nổi, cũng chính là, tính bền vững của mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi
Trang 20Hình 3: Mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi
Hình dưới đây cũng làm sáng tỏ sự thật là các nền kinh tế mới nổi đã hướng tới
tỷ giá linh hoạt cao hơn và hội nhập tài chính sâu hơn Điều đáng lưu ý đối với các nền kinh tế mới nổi là bên cạnh hội nhập tài chính sâu hơn, tỷ giá linh hoạt hơn, thì dự trữ ngoại hối cũng được tích lũy nhiều hơn Ngược lại, các quốc gia công nghiệp hóa lại ngày càng giảm đi dự trữ ngoại hối của mình
2.4 Thước đo bộ ba bất khả thi
Tỷ giá, yếu tố đầu tiên của bộ ba, dễ đo lường nhất Độ ổn định tỷ giá được đo lường dựa vào chế độ tỷ trên thực tế thay vì chế độ tỷ giá như cam kết của một quốc gia với IMF
Yếu tố thứ hai của bộ ba bất khả thi là độc lập tiền tệ, Rose (1996) có đề
xuất đo lường độc lập tiền tệ bằng cách xem phản ứng của tỷ giá đối với những thay đổi trong sản lượng, lãi suất và cung tiền Tuy nhiên đối với cung tiền, phương pháp này có nhược điểm là khó thể nào phân biệt được đâu là một cú sốc cung, đâu là một cú sốc cầu tiền tệ trong thực tế, đó là chưa kể đến phải giả định tốc độ lưu thông tiền tệ là không đổi
Khác với Rose, Obstfeld, Jay C Shambaugh và Taylor (2005) đề xuất
cách tiếp cận mới để đo lường độc lập tiền tệ bằng cách không dựa trên số lượng mà dựa trên lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn Phương pháp này gây tranh cãi vì chỉ dựa chủ yếu dựa vào mức lãi suất mục tiêu hơn là dựa trên số lượng tiền tệ
Yếu tố khó đo lường nhất chính là hội nhập tài chính Thường thì các nhà kinh tế dựa vào phương pháp kiểm soát vốn của mỗi quốc gia theo phân loại của IMF để xem xét chỉ số độ mở của tài khoản vốn Tuy nhiên điều mà các nhà kinh tế thực sự quan tâm là mức độ hội nhập tài chính trên thực tế Có
Trang 21thể một quốc gia tuy tuyên bố kiểm soát chặt các giao dịch vốn nhưng trên thực
tế các chính sách lại khá thông thoáng
Chinn và Ito đã phát triển 3 thước đo để đánh giá mức độ độc lập tiền tệ MI, ổn định tỷ giá ERS và hội nhập tài chính KAOPEN
Độc lập tiền tệ (MI) Mức độ độc lập tiền tệ được đo lường bằng hàm đảo nghịch của mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở
Trong đó i: quốc gia sở tại, j: quốc gia cơ sở Với công thức như trên, giá trị tối
đa, tối thiểu tương ứng là 1 và 0 Giá trị càng tiến về 1 có nghĩa là chính sách tiền tệ càng độc lập hơn
Ổn định tỷ giá (ERS) Độ ổn định tỷ giá chính là độ lệch chuẩn của tỷ giá, được tính theo năm dựa trên dữ liệu tỷ giá mỗi tháng giữa quốc gia sở tại
và quốc gia cơ sở Độ ổn định tỷ giá nằm giữa giá trị 1 và 0, càng tiến về 1 tỷ
Hội nhập tài chính (KAOPEN) Trong các chỉ số đo lường bộ ba bất khả thi, khó đo lường nhất là hội nhập tài chính Muốn đánh giá mức độ hội nhập tài chính, chúng ta phải đo lường mức độ mà một quốc gia tiến hành kiểm soát vốn Tuy nhiên việc đo lường mức độ kiểm soát vốn rất phức tạp trong thực tế Chinn và Ito 2008 đưa ra đề xuất sử dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo lường mức độ hội nhập tài chính
Trang 22KAOPEN dựa trên thông tin trong báo cáo hằng năm về cơ chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối do IMF phát hành Nhìn vào KAOPEN sẽ thấy một quốc gia trên thực tế có tiến hành chính sách đa tỷ giá hay không Mặc dù vậy KAOPEN
có nhược điểm là không phản ứng đúng mức những gì diễn ra trong thực tế, nhất là việc khu vực tư nhân tìm mọi cách để né tránh các biện pháp kiểm soát vốn của chính phủ Ví dụ chúng ta thấy ở Việt Nam, các sai số thống kê hằng năm trong cán cân thanh toán quốc tế nhiều khi lên đến hàng tỷ đô la Các sai
số này được quy cho khu vực doanh nghiệp tìm cách chuyển tiền xuyên biên giới vì mục đích khác nhau Tuy có một số nhược điểm nhưng chỉ số KAOPEN vẫn được nhiều nhà kinh tế đánh giá là đã phản ánh được các mục tiêu chính sách quan trọng mà một quốc gia theo đuổi trong tiến trình hội nhập tài chính KAOPEN biến thiên giữa giá trị 1 và 0 Giá trị càng gần 1 cho thấy quốc gia
mở cửa hơn với những giao dịch vốn xuyên quốc gia Lưu ý rằng chỉ số KAOPEN chỉ cho ta thấy độ mở tài khoản vốn theo pháp lý dựa trên các báo cáo chính phủ cho IMF, WB các chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan kiểm soát vốn
và ngoại hối
Lane và Milesi-Ferretti (2006) có đề xuất sử dụng chỉ số độ mở tài khoản vốn trên thực tế Chỉ số này đo lường khối lượng nợ và tài sản nước ngoài trong cán cân thanh toán Khi đo lường tổng lượng nợ và tài sản nước ngoài trong cán cân thanh toán, ta sẽ thấy được mức độ kiểm soát vốn trên thực
tế mà một quốc gia theo đuổi Ngoài ra còn một phương pháp nữa dùng để đo lường độ mở tài chính trên thực tế đó là tính toán tỷ số dòng tài chính xuyên biên giới trong cán cân thanh toán quốc tế so với GDP
Thường thì khi phân tích các chỉ số của bộ ba bất khả thi các nhà kinh tế
có xu hướng sử dụng đồng thời cả 2 chỉ số độ mở tài khoản vốn theo pháp lý và trên thực tế cùng một lúc
2.5 Một số công trình nghiên cứu khác
Trang 23Barassi (2005) cho rằng trạng thái của lãi suất ngắn hạn có thể được giải
thích với hai phương pháp tiếp cận khác nhau Một mặt, lãi suất có thể được xem như giá của các tài sản khác, trong trường hợp này sự thay đổi của nó được xác định bởi dòng vốn trên thị trường vốn, làm gia tăng những điều kiện của Arbitrage ví dụ như sự ngang bằng lãi suất có phòng ngừa Mặt khác, lãi suất có thể xem xét như một công cụ quản lý của chính phủ Nó được xác định thông qua các mục tiêu của chính sách như tỷ giá hối đoái hay tỷ lệ lạm phát mục tiêu
Clarida (1998; 1999; 2001); Adam (2005) nghiên cứu sự thay đổi của
lãi suất trong dài hạn, tính toán với các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động lên lãi suất, và tạo một đường dẫn có hệ thống đến chính sách tỷ giá hối đoái Mặc dù độc lập tiền tệ là trung tâm của các tranh luận về chính sách tỷ giá hối đoái, những bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này thì bị trộn lẫn
Shambaugh (2004) và Obstfeld (2004; 2005) tìm ra rằng lãi suất của những
nền kinh tế thả nổi lãi suất có sự liên kết kém hơn với lãi suất cơ bản so với các
nước giữ cố định lãi suất Borensztein (2001) cũng tìm thấy một số bằng
chứng phù hợp với quan điểm truyền thống về việc độc lập tiền tệ hơn nữa cho các quốc gia thả nổi lãi suất
Caroline Duburcq và Eric Girardin (2010) tìm ra bằng chứng thực
nghiệm ở khu vực Mỹ Latin, chế độ tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng đến mức
độ độc lập của chính sách tiền tệ Thực ra, một mặt là các quốc gia có tỷ giá neo đậu cứng thích chính sách tiền tệ độc lập vì lãi suất không những được xác định bởi các biến của US mà còn bởi các yếu tố nội địa Mặt khác, thậm chí tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn có thể không đảm bảo cho chính sách tiền tệ độc lập vì lãi suất của nền kinh tế có tỷ giá thả nổi hoàn toàn, ngoại trừ Brazil, không những được xác định bởi các yếu tố trong nước mà còn bởi các yếu tố của US Tác giả đã đưa ra kết luận rằng, với tỷ giá cố định không ảnh hưởng nhiều đến chính sách tiền tệ độc lập như là chính sách tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Trang 24Joshua Aizeman, Menzie D Chinn, Hiro Ito (2012) đưa ra những
phương pháp mới để đo lường ba yếu tố của bộ ba bất khả thi: tính linh hoạt của tỷ giá, mức độc lập tiền tệ, độ mở tài khoản vốn, có xem xét đến dự trữ ngoại hối Từ 1990, những biến số của bộ ba bất khả thi ở những nước thị trường mới nổi có xu hướng hội tụ về mức độ trung bình với tỷ giá thả nổi có quản lý, sử dụng một lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn trong khi chính sách tiền tệ vẫn giữ ở mức độ thích hợp Trong bài này, tác giả cũng đưa ra kiểm định tuyến tính đối với bộ ba bất khả thi và tác giả nhận thấy rằng tổng ba biến của
bộ ba bất khả thi là một hằng số Vì vậy, một sự tăng trưởng của một biến sẽ đánh đổi bằng việc giảm xuống của một hoặc cả hai biến khác
Joshua Aizenman, Menzie D Chinn, Hiro Ito (2012) đã đưa ra một số
nhận định:
o Những xu hướng gần đây ở các quốc gia mới nổi cho thấy ba yếu tố của mẫu hình bộ ba bất khả thi: chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính có xu hướng hội tụ xung quanh mức độ trung bình với
tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý, có thể đạt được bằng một lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn trong khi giữ mức độ trung lập của chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính
o Mặt khác, ở các quốc gia công nghiệp, ba yếu tố của bộ ba bất khả thi có
xu hướng phân tán và di chuyển về phía mẫu hình ổn định tỷ giá cao và hội nhập tài chính cao trong khi đó chính sách tiền tệ độc lập ở mức
thấp
Cũng liên quan đến dự trữ ngoại hối, trong bài nghiên cứu của mình Garcia,
Pablo và Claudio 2004 nhận thấy sự tích lũy dự trữ ngoại hối góp phần làm
giảm khả năng các cuộc tấn công của các nhóm đầu cơ Đồng thời nhẫn mạnh hơn nữa dự trữ ngoại hối là một chiến lược tự bảo hiểm tương đối tốn kém có thể gây tác dụng ngược trở lại Dự trữ nhiều các loại chứng khoán có thể tạo ra vấn đề rủi ro đạo đức mà có thể làm suy yếu hệ thống tài chính của đất nước
Trang 25Điều này lại làm khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn Với việc lấy dữ liệu từ các nước Đông Á và Chile, tác giả ước lượng mức độ dự trữ tối ưu cho những quốc gia này và cũng thấy rằng các quốc gia như Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia đã không đáp ứng được dự trữ tối ưu này trước khi có cuộc tấn công tiền tệ xảy ra Trong khi Trung Quốc lại đáp ứng hơn 85% dự trữ tối ưu Xu hướng hiện này của các nước ở khu vực này là việc tích lũy dự trữ ngoại hối để đối phó với những điều kiện kinh tế vĩ mô hiện nay trên toàn thế giới Bài nghiên cứu đã chứng minh tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP của các quốc gia này tăng lên đáng kể sau cuộc khủng hoảng Châu Á 1997 Một kết luận nữa từ
bài nghiên cứu của Dominguez, Kathryn M , Yuko Hashimoto, Ito 2011 ủng
hộ cho quan điểm: một sự tích lũy dự trữ cao trong giai đoạn trước khủng hoảng có liên hệ với tăng trưởng GDP sau khủng hoảng
Nghiên cứu thực nghiệm của Chinn, Ito 2005 về vấn đề kiểm soát vốn Kết
luận được rút ra đó là một mức độ cao hơn của độ mở tài chính đóng góp vào
dự phát triển của thị trường vốn chỉ khi nào hệ thống luật pháp và thể chế đạt được đến một ngưỡng nào đó Điều này thì thể hiện rõ ràng nhất trong số các quốc gia của nên kinh tế mới nổi Khi các nước này có một lượng vốn từ nước ngoài chảy vào dồi dào bởi sự hấp dẫn của các cơ hội đầu từ, điều này có thể thúc đẩy thị truờng tài chính các quốc gia này phát triển thịnh vượng nếu như các quốc gia này có những chính sách thể chế phù hợp đúng đắn như là tấm lọc giúp hạn chế bớt các dòng vốn mang tính đầu cơ, nguy hại cho nền kinh tế nước nhà
Xét đến khía cạnh của 2 mục tiêu còn lại là độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá
cũng thu hút được rất nhiều các nghiên cứu Như trong bài nghiên cứu “ Sự
truyền dẫn toàn cầu của lãi suất: độc lập tiền tệ và chính sách tiền tệ” của
nhóm tác giả Jeffrey Frankel, Sergio L Schmukler, Luis Serven năm 2004
Các ông đã sử dụng dữ liệu của các nước công nghiệp hóa và các nứớc đang phát triển trong giai đoạn 1970-1999, để nghiên cứu sự lựa chọn của chính sách
Trang 26tỷ giá tác động đến độ nhạy cảm của lãi suất đại phương đến lãi suất quốc tế Trong nhiều trường hợp, không thể bác bỏ sự truyền dẫn hoàn toàn của lãi suất quốc tế trong dài hạn, thậm chí là quốc gia đó lựa chọn chính sách thả nổi tỷ giá Chỉ có một vài quốc gia công nghiệp là có thể lựa chọn cho họ một lãi suất trong dài hạn Tuy nhiên những tác động ngắn hạn lại có sự khác nhau giữa các chính sách Những ước lượng thực sự đáng chú ý đã chỉ ra rằng lãi suất của nhiều quốc gia với chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt điều chỉnh chậm hơn với những thay đổi của lãi suất quốc tế, ngụ ý có một vài khả năng của sự độc lập
tiền tệ ở các quốc gia này Cũng theo hướng này Helmut Herwart và Jan
Roestel 2010 nghiên cứu có chủ đề “ Các quốc gia nhỏ có khả năng thiết lập
cho mình một lãi suất độc lập được không? Theo cách tiếp cận của bộ ba bất khả thi” Cụ thể là các nước thả nổi tỷ giá có khả năng độc lập lãi suất của nước
mình thậm chí dưới một thị trường vốn hóa toàn cầu Những bằng chứng gần đây gây sự ngờ vực liệu điều này đạt được độc lập một cách đáng kể Kế thừa
từ lý thuyết bộ ba bất khả thi, rủi ro hối đoái được nhận thấy là tăng lên với những quốc gia ở trạng thái tỷ giá hối đoái cố định và thị trường vốn linh động Việc đạt được chính sách tiền tệ độc lập xuất hiện đáng kể ở các quốc gia mà từ
bỏ ổn định tỷ giá hối đoái của họ, nhưng lợi ích biên đạt được từ việc chấp nhận độ rủi ro cao hơn là biến động tỷ giá nhanh chóng tan biến đi Do đó mà các nước thả nổi tỷ giá có thể ổn định ở một mức độ vừa phải tỷ giá hối đoái với mức chi phí thấp
John C Bluedorn, Christopher Bowdler (2009) Sự truyền dẫn chính
sách tiền tệ qua biên giới là vấn đề trọng tâm của nhiều mô hình kinh tế mở Những nghiên cứu trước đây đã cố gắng đánh giá bộ ba bất khả thi qua việc ước lượng sự lien hợp lãi suất quốc tế với chế độ tỷ giá hối đoái thay thế sử dụng lãi suất nước cơ sở hầu hết lãi suất bao gồm các yếu tố tiên đoán và nội sinh, cần cho truyển dẫn rộng rãi Tác giả so sánh lãi suất quốc tế theo chế độ
tỷ giá neo và không neo để xác định sự thay đổi trong lãi suất tiên đoán và nội sinh Tác giả tìm ra sự khác nhau đáng kể trong việc ước lượng sự truyền dẫn