TÓM TẮT Lí do chọn đề tài Ở Đông Nam Á, sự hội nhập về mặt thương mại đang ngày càng tăng lên. Câu hỏi được đưa ra là, liệu ASEAN có thể hội nhập tiền tệ được hay khô ng? Để xem xét điều này, chúng ta c ần phân tích về sự truyền dẫn của tỷ giá, vì nếu sự dẫn truyền là thấp thì những cú sốc sẽ không truyền đến được các đối tác kinh do anh – một trong những yế u Bên c ạnh đó, tác động c ủa hành vi định giá cũng như việc lựa chọn đồng tiền trong giao thương đến sự truyề n dẫn c ủa tỷ giá là khá quan trọng. Như vậy, nghiên cứu sự dẫn truyền trong mối quan hệ với các yế u tố trên và từ đó đưa ra gợi ý về hội nhập tiền tệ ở ASEAN chính là đề tài của bài nghiên cứu này. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu c ủa bài nghiên cứu là kiểm tra hành vi thiết lập giá của những nhà xuất khẩu ASEAN dựa trên việc phân tích sự dẫn truyền tỷ giá. Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra gợi ý về việc hội nhập tiền tệ ở ASEAN. Câu hỏi nghiên cứu: (1) Khi tỷ giá thay đổi thì giá xuất khẩu sẽ thay đổi như thế nào? (2) Đối với các nước nhỏ như ASEAN, sự thay đổi của tỷ giá có thực sự dẫn truyền đến thị trường nhập khẩu hay không? (3) Sự điều chỉnh giá của nhà xuất khẩu (khiến cho sự dẫn truyề n tỷ giá thấp) là do hành vi định giá theo thị trường (PTM) hay là do yế u tố nào khác (Sự hội nhập c ủa thị trường, việc lựa chọn tiền tệ,…)? Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu sử dụng mô hình các yế u tố cố định (fixed-effect model) được phát triển bởi Knetter (1992) theo dữ liệu bảng cho năm nước ASEAN: Indonesia, Malaysia, Philippine, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 1999-2011. Bài nghiên cứu ước lượng sự dẫn truyề n tỷ giá lên giá xuất khẩu ở mức độ vi mô (từng mặt hàng theo mã HS 6 chữ số). Bài nghiên cứu tiến hành theo hai giai đoạn. Đầu tiên, tôi ước lượng sự dẫn truyề n tỷ giá song phương lên giá xuất khẩu theo đồng tiền c ủa nước xuất khẩu. Tiế p theo, để kiểm tra ước lượng trên, tôi tiếp tục ước lượng sự dẫn truyền tỷ giá song phương lên giá xuất khẩu theo đồng tiền nước nhập khẩu. Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu của tôi gồ m có bốn phần. Phần đầu tiên, tôi sẽ trình bày mối liên quan giữa sự dẫn truyền tỷ giá, sự định giá theo thị trường, sự sử dụng tiền tệ trong thanh toán thương mại quốc tế và vấn đề hội nhập tiền tệ. Tro ng phần này, tôi cũng trình bày lí do c ần phải ước lượng s ự dẫn truyề n tỷ giá ở ASEAN và những điểm mới bài nghiên cứu đem lại. Phần thứ hai, tôi trình bày những ước lượng sự dẫn truyề n tỷ giá trước đây ở khu vực Đô ng Á, s ắp xế p theo thứ tự sau: mức độ nghiên cứu (vi mô, vĩ mô), loại nước (phát triển và đang phát triển), cùng khu vực (Đô ng Á) và có kết quả nghiên cứu gần giống nhau. Dựa trên những nền tảng hiểu biết này, tôi đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh hơn về sự dẫn truyền tỷ giá trong khu vực ASEAN ở phần ba, bằng các tiến hai giai đoạn phân tích dựa trên quan điểm của nhà xuất khẩu và nhập khẩu. Phần bốn trình bày giải thích của tôi về kết quả, đồng thời đưa ra những thảo luận về vấn đề hội nhập tiền tệ ở ASEAN. Phần thứ năm là kết luận cùng với hướng phát triển của đề tài. Đóng góp của bài nghiên cứu: (1) Bài nghiên c ứu này đo lường một cách toàn diện hơn về sự dẫn truyền của tỷ giá ở ASEAN, bổ sung ước lượng dẫn truyền tỷ giá ở mức độ vi mô vào tư liệu nghiên cứu (2) Bài nghiên cứu xem xét sự dẫn truyền c ủa tỷ giá ở những nước đ ang phát triển hoặc những nước nhỏ, thu nhập thấp và so sánh với các nước phát triển. (3) Bài nghiên cứu trình bày sự thố ng trị của đồng đôla Mỹ trong thương mại quốc tế và những tác động đến triển vọng hội nhập tiền tệ khu vực. Hướng phát triển của đề tài: Sự dẫn truyề n tỷ giá là một câu hỏi thực nghiệm, do đó cần phải được tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhiều hơn nữa, với các mô hình, quốc gia, ý tưởng khác nhau dưới sự thay đổi liên tục của nền kinh tế toàn cầu. MỤC LỤC 1. Giới thiệu ...............................................................................................................................4 2. Những ƣớc tính trƣớc đây: ................................................................................................9 3. Ƣớc tính mới ...................................................................................................................... 11 3.1 Mô hình:......................................................................................................................... 12 3.2 Dữ liệu ............................................................................................................................ 15 3.3 Kết quả ........................................................................................................................... 19 4. Giải thích và những g ợi ý về vấn đề hội nhập tiền tệ ở ASEAN ............................ 21 5. Kết luận: ............................................................................................................................. 24 PHỤ LỤC................................................................................................................................ 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 38 1. Giới thiệu Khi sự hội nhập kinh tế của ASEAN đ ang ngày càng trở nên sâu rộng thông qua các lực của thị trường: thương mại xuyên biên giới, FDI và tài chính, có một cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra rằng, ASEAN có thể trở thành một liên minh tiền tệ thành công hay khô ng. Việc nghiên cứu về liên minh tiền tệ ở ASEAN thường theo hai cách tiếp cận sau. Cách thứ nhất là áp dụng lí thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu đối với ASEAN và kiểm tra xem liệu khu vực này có đ áp ứng được những điều kiện tiền đề để trở thành một khu vực tiền tệ tối ưu (OCA) 1 không. Theo đó, nếu từng nước xuất hiện những cú sốc không đối xứng mà khô ng có cơ chế điều chỉnh thích hợp, thì các nước này không nên tham gia khu vực tiền tệ hoặc tạo đồng tiền chung, vì chi phí của việc cố định tỷ giá lớn hơn so với lợi ích do chính sách mang lại. Tỷ giá có thể đóng vai trò điều chỉnh, với điều kiện sự dẫn truyề n của tỷ giá lên giá nhập khẩu là lớn, tạo ra sự chuyển dịch giữa hàng hóa nội và ngoại.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2ASEAN chính là đề tài của bài nghiên cứu này
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu c ủa bài nghiên cứu là kiểm tra hành vi thiết lập giá của những nhà xuất
khẩu ASEAN dựa trên việc phân tích sự dẫn truyền tỷ giá Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra gợi ý về việc hội nhập tiền tệ ở ASEAN
Câu hỏi nghiên cứu:
(1) Khi tỷ giá thay đổi thì giá xuất khẩu sẽ thay đổi như thế nào?
(2) Đối với các nước nhỏ như ASEAN, sự thay đổi của tỷ giá có thực sự dẫn truyền đến thị trường nhập khẩu hay không?
(3) Sự điều chỉnh giá của nhà xuất khẩu (khiến cho sự dẫn truyền tỷ giá thấp) là do
hành vi định giá theo thị trường (PTM) hay là do yếu tố nào khác (Sự hội nhập của thị trường, việc lựa chọn tiền tệ,…)?
Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình các yếu tố cố định (fixed-effect model) được phát triển bởi Knetter (1992) theo dữ liệu bảng cho năm nước ASEAN: Indonesia, Malaysia, Philippine, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 1999-2011 Bài nghiên cứu ước lượng sự dẫn truyền tỷ giá lên giá xuất khẩu ở mức độ vi mô (từng mặt hàng theo mã
HS 6 chữ số)
Bài nghiên cứu tiến hành theo hai giai đoạn Đầu tiên, tôi ước lượng sự dẫn truyền tỷ giá song phương lên giá xuất khẩu theo đồng tiền của nước xuất khẩu Tiếp theo, để
Trang 32
kiểm tra ước lượng trên, tôi tiếp tục ước lượng sự dẫn truyền tỷ giá song phương lên giá
xuất khẩu theo đồng tiền nước nhập khẩu
Nội dung nghiên cứu:
Bài nghiên cứu của tôi gồ m có bốn phần Phần đầu tiên, tôi sẽ trình bày mối liên quan giữa sự dẫn truyền tỷ giá, sự định giá theo thị trường, sự sử dụng tiền tệ trong thanh toán thương mại quốc tế và vấn đề hội nhập tiền tệ Trong phần này, tôi cũng trình bày lí do c ần phải ước lượng sự dẫn truyền tỷ giá ở ASEAN và những điểm mới bài nghiên cứu đem lại Phần thứ hai, tôi trình bày những ước lượng sự dẫn truyền tỷ giá trước đây ở khu vực Đông Á, sắp xếp theo thứ tự sau: mức độ nghiên cứu (vi mô, vĩ mô), loại nước (phát triển và đang phát triển), cùng khu vực (Đông Á) và có kết quả nghiên cứu gần giống nhau Dựa trên những nền tảng hiểu biết này, tôi đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh hơn về sự dẫn truyền tỷ giá trong khu vực ASEAN ở phần ba, bằng các tiến hai giai đoạn phân tích dựa trên quan điểm của nhà xuất khẩu và nhập khẩu Phần bốn trình bày giải thích của tôi về kết quả, đồng thời đưa ra những thảo luận về vấn đề hội nhập tiền tệ ở ASEAN Phần thứ năm là kết luận cùng với hướng phát triển
của đề tài
Đóng góp của bài nghiên cứu:
(1) Bài nghiên c ứu này đo lường một cách toàn diện hơn về sự dẫn truyền của tỷ giá
ở ASEAN, bổ sung ước lượng dẫn truyền tỷ giá ở mức độ vi mô vào tư liệu nghiên cứu (2) Bài nghiên cứu xem xét sự dẫn truyền của tỷ giá ở những nước đang phát triển hoặc những nước nhỏ, thu nhập thấp và so sánh với các nước phát triển
(3) Bài nghiên cứu trình bày sự thống trị của đồng đôla Mỹ trong thương mại quốc
tế và những tác động đến triển vọng hội nhập tiền tệ khu vực
Hướng phát triển của đề tài:
Sự dẫn truyền tỷ giá là một câu hỏi thực nghiệm, do đó cần phải được tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhiều hơn nữa, với các mô hình, quốc gia, ý tưởng khác nhau dưới sự thay đổi liên tục của nền kinh tế toàn cầu
Trang 43
MỤC LỤC
1 Giới thiệu 4
2 Những ước tính trước đây: 9
3 Ước tính mới 11
3.1 Mô hình: 12
3.2 Dữ liệu 15
3.3 Kết quả 19
4 Giải thích và những g ợi ý về vấn đề hội nhập tiền tệ ở ASEAN 21
5 Kết luận: 24
PHỤ LỤC 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 54
1 Giới thiệu
Khi sự hội nhập kinh tế của ASEAN đang ngày càng trở nên sâu rộng thông qua các lực của thị trường: thương mại xuyên biên giới, FDI và tài chính, có một cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra rằng, ASEAN có thể trở thành một liên minh tiền tệ thành công hay không Việc nghiên cứu về liên minh tiền tệ ở ASEAN thường theo hai cách tiếp cận sau
Cách thứ nhất là áp dụng lí thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu đối với ASEAN và kiểm tra xem liệu khu vực này có đáp ứng được những điều kiện tiền đề để trở thành một khu vực tiền tệ tối ưu (OCA)1 không Theo đó, nếu từng nước xuất hiện những cú sốc không đối xứng mà không có cơ chế điều chỉnh thích hợp, thì các nước này không nên tham gia khu vực tiền tệ hoặc tạo đồng tiền chung, vì chi phí của việc cố định tỷ giá lớn hơn so với lợi ích do chính sách mang lại Tỷ giá có thể đóng vai trò điều chỉnh, với điều kiện sự dẫn truyền của tỷ giá lên giá nhập khẩu là lớn, tạo ra sự chuyển dịch giữa hàng hóa nội và ngoại
Cách tiếp cận thứ hai là áp dụng khuôn khổ của “nền kinh tế vĩ mô mở kiểu mới” 2 cho vấn đề hội nhập tiền tệ, neo theo rổ tiền tệ tối ưu và các vấn đề liên quan khác Otani (2002), ví dụ, đã phát triển một mô hình lí thuyết nhằm kiểm tra những tác động truyền dẫn của các chính sách tiền tệ trong và ngoài nước; tiến hành mô phỏng những tác động truyền dẫn quốc tế giữa Nhật Bản và Mỹ Mô hình “nền kinh tế vĩ mô
mở mới” tạo ra một giả định đặc biệt về hành vi định giá xuất khẩu của các doanh nghiệp; giả định này có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả phân tích lí thuyết và mô hình
mô phỏng của ông Otani (2002) cho rằng tác động truyền dẫn quốc tế của chính sách
1 OCA: Optimal currency area (tạm dịch là khu vực tiền tệ tối ưu)
Khu vực tiền tệ là khu vực có tỷ giá hối đoái cố định giữa các nước hoặc tồn tại một đồng tiền chung,
đi kèm với sự lưu động tự do của hàng hóa, vốn và lao động
Theo lí thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu được phát triển bởi Mundell (1961) và McKinnon (1963), một khu vực tiền tệ tối ưu có nghĩa là các nước trong khu vực sẽ tốt hơn khi áp dụng tỷ giá cố định hoặc tạo thành một khu vực tiền tệ dưới những điều kiện sau: mở cửa với các nước trong khu vực; hội nhập thị trường tài chính, các yếu tố sản xuất và hàng hóa; tính đối xứng của các cú sốc lên các thành viên.
2 Kinh tế vĩ mô mở kiểu mới (New open-economy macroeconomic) là một bước phát triển hàng đầu trong Kinh tế quốc tế Mục tiêu của nó là đem lại những khuôn khổ lí thuyết mới để nghiên cứu nền kinh tế mở và xây dựng chính sách, nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình Mundell-Fleming trong khi vẫn đảm bảo ý nghĩa thực nghiệm, đồng thời kết nối những tranh cãi về chính sách trước đây Khuôn khổ mới bao gồm: sự lựa chọn mang tính lí thuyết, mô hình cân bằng chung và sự cạnh tranh không hoàn hảo trong thị trường hàng hóa và lao động.
Trang 65
tiền tệ trong nước có thể không cân xứng với chính s ách tiền tệ ở nước ngoài khi các doanh nghiệp ở hai nước có hành vi định giá khác nhau Shioji (2006) điều tra hệ thống neo rổ tiền tệ tối ưu cho những nền kinh tế Đông Á với mô hình nền kinh tế vĩ mô mới Đáng chú ý là, Shioji giới thiệu rằng sự lựa chọn của việc sự dụng đồng tiền trong hành
vi định giá của những nhà xuất khẩu Đông Á như là một biến, và tiếp tục tìm thấy những kết quả nhạy cảm với sự khác nhau vủa việc sử dụng đồng tiền trong thương mại Do đó, hành vi định giá và sử dụng đồng tiền của các doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong các tài liệu về những nền kinh tế vĩ mô mở kiểu mới
Hành vi định giá là rất quan trọng khi chúng tôi nghiên cứu về sự đồng bộ của chu kì kinh doanh và đối xứng trong những cú sốc dưới khuôn khổ OCA Shin và Wang (2004) cho rằng, chuyển động sản lượng thực được điều khiển bởi thương mại quốc tế, đặc biệt là thương mại nội ngành Tuy nhiên mức độ truyền dẫn thông qua thương mại phần lớn phụ thuộc vào hành vi định giá của doanh nghiệp Nếu mức độ truyền dẫn của
tỉ giá là thấp, những cú sốc trong nước sẽ không được truyền tải đầy đủ cho các đối tác thương mại, tạo ra sự bất đối xứng trong các cú sốc ở các nước, ảnh hưởng đến tính khả thi của hội nhập tiền tệ
Một lí do nữa khiến chúng ta quan tâm về sự dẫn truyền tỷ giá dưới ý nghĩa của hội nhập tiền tệ là, sự hội nhập tiền tệ sẽ làm giảm sự dẫn truyền tỷ giá3 Có hai giải thích chính là: thứ nhất, sự hội nhập tiền tệ sẽ làm các thành viên thúc đẩy thương mại với các nước thành viên và cũng có thể làm giảm thương mại đối với những nước không phải là thành viên Nếu các thành viên này ít phụ thuộc vào nhập khẩu từ những nước thứ ba và ít tiếp xúc với những cú sốc tỷ giá thì sự dẫn truyền tỷ giá được kì vọng
sẽ giảm Thứ hai, sự hội nhập tiền tệ sẽ làm giảm tỷ lệ lạm phát Theo Taylor (2000) tỷ
lệ lạm phát thấp hơn sẽ làm giảm sự dẫn truyền tỷ giá Do đó, nếu chúng ta không phân tích các mô hình c ủa sự truyền dẫn tỷ giá, thì thật khó để thảo luận về vấn đề hội nhập tiền tệ có khả thi trong khu vực hay không
Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm tra hành vi định giá của các nhà xuất khẩu ASEAN dựa trên việc phân tích mô hình của sự truyền dẫn tỷ giá Sự truyền dẫn
tỷ giá được định nghĩa là mức độ thay đổi giá nhập khẩu (bằng đồng tiền trong nước)
3 Xem Slavi T Slavov (2008) “Does Monetary Integration Reduce Exchange Rate Pass-Through?”
Trang 76
khi có sự thay đổi của tỷ giá giữa nước xuất khẩu và nhập khẩu.4 Giả sử đồng tiền của nước xuất khẩu được đánh giá cao hơn so với nước nhập khẩu Nếu sự thay đổi của tỷ giá được truyền dẫn đến giá nhập khẩu (bằng đồng tiền trong nước), giá nhập khẩu tăng
có thể làm dịch chuyển từ hàng hóa nhập khẩu sang hàng hóa nội địa và kết quả là một
sự cải thiện (ho ặc suy giảm) của cán cân thương mại của nước nhập khẩu (hoặc xuất khẩu) Định giá theo thị trường (Pricing to market)5 là một sự mở rộng của nghiên cứu
về sự truyền dẫn của tỷ giá đối với sự phân biệt giá cả trên thị trường quốc tế Nếu sự thay đổi tỷ giá làm những nhà xuất khẩu tiến hành định giá khác nhau đối với những thị trường nhập khẩu tương ứng, thì hành vi phân biệt giá này sẽ được gọi là PTM
Trong khi đã có rất nhiều nghiên cứu về sự truyền dẫn của tỷ giá và PTM trong hai thập kỉ qua (xem Marston, 1990; Knetter, 1993; và Gil-Pareja, 2002…), những nghiên cứu này thường tập trung vào các nước phát triển, ví dụ như Mỹ, Nhật Bản và liên minh châu Âu Gần đây, cũng có một số nghiên cứu về định giá xuất khẩu ở MERCOSUR6 (Chang và Winters, 2002) và một số ít nghiên cứu về các nước châu Á ngoài Nhật Bản (Lee, 1995; Toh và Ho, 2001; và Parsley, 2004) tuy nhiên những nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá đối với các nước có thu nhập trung bình và thấp vẫn còn khan hiếm Bên c ạnh đó, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 97-98
đã thúc đẩy tôi phải tìm hiểu thêm về việc các cú sốc được truyền dẫn trong khu vực bằng cách nào và mức độ bao nhiêu Nghiên cứu cho thấy, phần lớn các nước ASEAN
có thể điều chỉnh các cú sốc về trạng thái cân bằng nhanh hơn so với các nước EU trước khi đưa ra đồng EURO.7
Điều này đ ặt ra một câu hỏi, sự điều chỉnh này đến từ sự thay đổi tỷ giá danh nghĩa hay từ các nguồn khác, ví dụ như sự thay đổi tiền lương và giá
cả, dẫn tới ý nghĩa khác nhau về sự hội nhập tiền tệ trong khu vực Nếu sự điều chỉnh
4
Sự dẫn truyền hoàn toàn: tỷ giá thay đối 1% làm cho giá thay đổi >=1%
Sự dẫn truyền không hoàn toàn: tỷ giá thay đổi 1% làm cho giá thay đổi <1%
Sự không dẫn truyền: tỷ giá thay đổi không làm giá thay đổi
5 Định giá theo thị trường (pricing to market) theo Krugman (1987) được định nghĩa là một hình thức phân biệt giá, theo đó, nhà xuất khẩu sẽ điểu chỉnh “mark-up” theo sự thay đổi tỷ giá để giữ giá ở thị trường nhập khẩu.
Trang 87
Nguồn IMF
các cú sốc (thay đổi tỷ giá thực) bằng cách thay đổi tỷ giá danh nghĩa thì triển vọng về một khu vực tiền tệ là giới hạn Trong một liên minh tiền tệ (ho ặc có chế độ tỷ giá cố định) tỷ giá thực chỉ được điều chỉnh bởi thay đổi mức lạm phát tương ứng Nếu tiền
Trang 98
lương và giá cả điều chỉnh chậm chạp thì sẽ làm một thời gian dài tỷ giá thực bị sai lệch, gây chi phí cho nền kinh tế Hơn thế nữa, trong phản ứng với cuộc khủng hoảng, những nền kinh tế bị ảnh hưởng nhiều nhất đã từ bỏ hệ thống tiền tệ neo vào đồng Đôla
Mỹ và bắt đ ầu áp dụng những chính sách t ỷ giá linh hoạt hơn Theo đuổi những hệ thống tỷ giá linh hoạt hơn, do sự gia tăng biến đổi của tỷ giá song phương so với đồng Đôla Mỹ, vấn đề định giá và/hoặc sử dụng đồng tiền tự nhiên trở hành một mối quan tâm lớn
Hình 1 trình bày tỷ giá song phương theo tháng (1/1999 = 100) từ năm 1999 đến năm 2005 của đồng tiền bốn nước ASEAN so với ba đồng tiền lớn: Đôla Mỹ, Yên Nhật
và Euro Rõ ràng là tỷ giá song phương theo đồng Đôla Mỹ của Malaysia là cố định cho tới tháng 7/2005 do việc neo đồng tiền sau khủng hoảng Tuy nhiên, tỷ giá trải qua những dịch chuyển khá lớn so với đồng Đôla Mỹ ở ba quốc gia khác, đặc biệt là ở Indonesia Tỷ giá song phương (bao gồm cả đồng Ringgit của Malaysia bởi vì nó dịch chuyển song song với đồng Đôla Mỹ) theo đồng Yên Nhật và Euro cũng có những thay đổi đang kể Do đó, việc hiểu được sự thay đổi tỷ giá đã có những tác động gì lên giá nhập khẩu là rất quan trọng
Theo đó, những thông số về sự truyền dẫn của tỷ giá bắt nguồn từ một câu hỏi thực nghiệm sẽ giúp các quyết định về chính sách hối đoái phù hợp và các vấn đề kinh
tế vĩ mô mở khác được thông tin một cách tốt hơn Công việc của tôi sẽ đóng góp vào lĩnh vực này bằng cách cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về hành vi định giá của những nhà xuất khẩu ở các nước ASEAN được nghiên cứu
Bài nghiên cứu này có những điểm mới sau: (1) đo lường toàn diện hơn về sự truyền dẫn của tỷ giá ở ASEAN, nhằm bổ sung vào những kiến thức hiện có về sự truyền dẫn tỷ giá ở châu Á (chúng tôi bao gồm 5 nước lớn ở ASEAN); (2) có rất ít nghiên cứu về những nước kém phát triển và những nước nhỏ, do đó, bài nghiên cứu này sẽ đóng góp vào sự hiểu biết về sự truyền dẫn tỷ giá của những nước nhỏ và thu nhập thấp, cho phép chúng ta so sánh với kết quả của những nghiên cứu trước đây về những nước phát triển.; (3) chúng tôi trình bày sự thống trị của đồng Đôla Mỹ trong thương mại ở các nước xuất khẩu Đông Nam Á và từ đó đưa ra những gợi ý về bối cảnh hội nhập tiền tệ khu vực xảy ra; (4) là một bức tranh toàn c ảnh về mối quan hệ giữa sự chuyển động của tỷ giá và sự truyền dẫn những cú sốc dựa trên (1) và (2) sẽ đem lại những hiểu biết quan trọng về tính khả thi của hội nhập tiền tệ trong khu vực
Trang 109
Bài nghiên cứu này được sắp xếp như sau Mục 2 tổng kết những nghiên cứu trước đây về ước lượng sự truyền dẫn tỷ giá ở Đông Á Mục 3 trình bày hai đặc điểm của sự truyền dẫn tỷ giá, sau đó mô t ả dữ liệu được sử dụng trong ước lượng theo 34 loại hàng hóa được xuất khẩu bởi 5 nước ASEAN, cuối cùng trình bày kết quả của hai
bộ hồi quy Mục 4 thảo luận về sự phổ biến của việc sử dụng đồng Đôla Mỹ trong thương mại và những gợi ý đối với sự truyền dẫn của tỷ giá và hội nhập tiền tệ trong khu vực Mục 5 kết luận bài nghiên cứu bằng cách tóm tắt kết quả về việc tìm ra sự truyền dẫn tỷ giá thấp và sử dụng đồng Đôla Mỹ rộng rãi và đặt những điều này trong những điều kiện lớn hơn của hội nhập tiền tệ ở ASEAN
2 Những ước tính trước đây:
Ước lượng sự dẫn truyền của tỷ giá có thể được thực hiện ở mức độ rất vi mô (xem, ví dụ, Bourdet, 1996; Hellerstein, 2004), thông thường là ở mức độ ngành (mặt hàng) (Feenstra, 1989; Knetter, 1989; và Gil-Pareja, 2002), và c ả mức độ vĩ mô (xem Campa, 2005; Campa và Gold berg, 2002)
Những ước lượng đầu tiền về sự dẫn truyền tỷ giá và định giá theo thị trường (PTM) của châu Á, phần lớn là ở Nhật Bản Đa số những nghiên cứu này đều được thực hiện ở mức độ mặt hàng, giống như bài nghiên cứu này Chuyên đề của Marston (1990)
đã tìm thấy một sự dẫn truyền thấp và định giá theo thị trường cao, ít nhất là trong hai mặt hàng xuất khẩu vận tải và máy móc điện tử của Nhật Bản Những nghiên cứu gần đây thường tập trung vào thương mại của Nhật Bản (Takagi và Yoshida, 2001; Sasaki, 2002) Những nghiên cứu gần hơn nữa đã mở rộng ước lượng bằng cách sử dụng dữ liệu xuất nhập khẩu theo mã HS 9 chữ số (Sato, 2003, Sasaki, 2005) Và nhìn chung, có
vẻ như vẫn chưa có sự nhất quán nào về sự dẫn truyền ở Nhật Bản là cao hay thấp, mặc
dù sự dẫn truyền trong xuất khẩu được xác định là lớn hơn so với trong nhập khẩu (Takagi và Yoshida, 2001)
Một số nghiên cứu cũng đã được thực hiện với các nước OCED ở mức độ vĩ mô, bao gồm một số nước ở ASEAN Campa và Goldberg (2002) là một trong những nghiên cứu khá toàn diện và được trích dẫn nhiều trong những năm gần đây
Ngược lại, có rất ít các nghiên cứu được thực hiện cho các nước nhỏ và càng ít hơn ở mức độ mặt hàng Lee (1995) đã xem xét xuất khẩu của Hàn Quốc và tìm thấy một sự dẫn truyền thấp (hàm ý P TM dưới giả định trong mô hình của ông) Toh và Ho
Trang 1110
(2001) đã kiểm tra một số hàng hóa xuất khẩu cơ bản và một số hàng hóa sản xuất ở mức độ bán tổng hợp cho các nước Malaysia, Singapore, Đài Loan và Thái Lan giai đoạn trước khủng hoảng Nghiên cứu của họ không phải là cho giữa hai nước song phương trong tự nhiên, mà thay vào đó ước lượng sự di chuyển cùng nhau của giá xuất khẩu với tỷ giá hiệu dụng Đối với Đài Loan, họ tìm thấy một sự dẫn truyền thấp (13%)
và được giải thích rằng, có thể do các nhà xuất khẩu Đài Loan là người nhận giá trong thị trường thế giới Aw (1993) đã tiến hành một nghiên cứu cẩn thận lên mặt hàng xuất khẩu giày dép ở Đài Loan và cũng tìm thấy không có sự dẫn truyền ở hai trong bốn thị trường nhập khẩu được nghiên cứu, hai thị trường còn lại (US và Hong Kong) thì lại có
sự dẫn truyền hoàn toàn
Parsley (2004) xem xét xuất khẩu của Hong Kong ở mức độ mặt hàng và tìm thấy không có sự định giá theo thị trường Ông tương đương điều này với sự dẫn truyền hoàn toàn và quy điều này cho điều kiện thị trường cạnh tranh và s ự thiếu phân khúc thị trường của một nước nhỏ, mở cửa Ông nhấn mạnh, giải thích thay thế này cũng rất có khả năng Toh và Ho (được nhắc ở trên) cũng tìm thấy một sự dẫn truyền lớn trong nghiên cứu của ông về xuất khẩu ở Singapore Trong cả hai trường hợp, các nước đều
là điểm trung gian xuất nhập khẩu, do đó các kết quả cần được xử lí cẩn thận do sự phụ thuộc của xuất khẩu vào đầu vào nhập khẩu.8
Một số nghiên cứu khác, Parson và Sato (2004) và Parson (2004) đã sử dụng dữ liệu cụ thể với mức độ mặt hàng (9 chữ số và 6 chữ số) đối với Malaysia, Indonesia và Philipine và cũng tìm được rất ít bằng chứng của sự dẫn truyền.9
Với những nền tảng trên đây, tôi cố gắng đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh hơn
về mối quan hệ giữa biến động c ủa tỷ giá và giá xuất khẩu trong khu vực Điều này sẽ được thực hiện ở phần tiếp theo – tôi trình bày kết quả ước lượng mới cho năm nước ASEAN Ngoài ra, quan trọng hơn, ở những mục kế tiếp, tôi thảo luận về tác động của việc sử dụng đồng Đôla rộng rãi trong xuất khẩu ở các nước nhỏ lên việc truyền dẫn các cú sốc trong khu vực Kết quả của chúng tôi cùng với dữ liệu về sử dụng tiền tệ trong thương mại quốc tế, phần nào, làm cho những thực tế chung của các nhà mô hình
vĩ mô-mở về sự dẫn truyền một phần hoặc hoàn toàn bị thử thách
Trang 1211
3 Ƣớc tính mới
Hầu hết các nghiên cứu về sự dẫn truyền tỷ giá ho ặc định giá theo thị trường (PTM) đều có một số mô hình rõ ràng hoặc ngầm hiểu trong đầu và tiến hành ước lượng mối quan hệ giữa sự chuyển dịch tỷ giá và giá cả hàng hóa dưới quan điểm của nhà xuất khẩu (xem Knetter, năm 1989 và 1993; Gil-Pareja năm 2002; Parsons và Sato 2006) hoặc bằng cách xem xét giá nhập khẩu (xem Freenstra 1989) Cả hai quan điểm này đều dưới giả định về hành vi của giá ở hai đầu trong mối quan hệ xuất khẩu/ nhập khẩu Như Kreinin (1977) đã nói trong nghiên cứu,
Mức độ mà sự thay đổi tỷ giá được chuyển thành những thay đổi trong giá nhập khẩu (bằng đồng nội tệ) và giá xuất khẩu (bằng đồng ngoại tệ) được gọi là tác động truyền dẫn của
tỷ giá.
Theo mô hình được sử dụng rộng rãi của Knetter (tương tự như mô hình tôi sử dụng dưới đây), mối tương quan giữa sự thay đổi trong giá xuất khẩu (bằng đồng tiền nước xuất khẩu) và tỷ giá song phương thường được giải thích như là bằng chứng của PTM Từ mô hình và mối tương quan này cho thấy rằng sự thay đổi tỷ giá và giá liên quan không truyền dẫn qua thị trường nhập khẩu Ngược lại, trong nghiên cứu của Feenstra, ông xem xét sự dịch chuyển của giá nhập khẩu Mỹ ở các hàng hóa xe ô tô, xe tải và xe máy của Nhật theo sự thay đổi của tỷ giá Yên/ Đôla Mỹ Dưới những giả định của ông, thực tế là không có sự truyền dẫn hoàn toàn c ủa việc tăng giá đồng Đôla đầu thập kỉ 80 Điều này có nghĩa là, những điều chỉnh trong giá có thể xuất hiện ở đầu bên kia – nhà xuất khẩu Nhật Bản Như vậy, chúng ta có thể nói rằng, khi tỷ giá song phương thay đổi, nếu giá không thay đổi ở đầu này thì nó sẽ thay đổi ở đầu bên kia Tuy nhiên khá ít trường hợp nhà nghiên cứu xem xét ở cả hai đầu xuất khẩu và nhập khẩu Đó sẽ là điều chúng ta làm trong bài nghiên cứu này
Đầu tiên, tôi ước lượng mô hình dưới quan điểm của Knetter, xem xét sự chuyển dịch của giá xuất khẩu khi tỷ giá song phương thay đổi Tiếp theo, tôi ước lượng mô hình (với cùng hàng hóa) xem xét mối quan hệ giữa giá theo đồng tiền nước nhập khẩu,
để xem sự tăng hoặc giảm giá trị của đồng tiền nước xuất khẩu có thực sự “dẫn truyền” vào giá hay không Thông qua việc ước lượng hai phương trình một cách song song này, tôi có thể xác định được các câu hỏi nghiên cứu sau (1) đối với những nước nhỏ cụ thể như ASEAN khi tỷ giá song phương thay đổi thì có dẫn truyền sang thị trường nhập khẩu hay không, (2) liệu sự dẫn truyền thấp (như phần lớn các nghiên cứu) có phải là
Trang 13Ở thị trường này, những dự đoán của mô hình, dựa trên giả định về cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường phân khúc, có thể không chính xác Kết quả ước lượng của tôi
khá đơn giản, nhưng có nhiều ý nghĩa về vấn đề hội nhập tiền tệ
3.1 Mô hình:
Phương trình thứ nhất tôi ước lượng dựa trên tư liệu về “định giá theo thị trường” (PTM) và phân tích mức độ phản ứng của giá xuất khẩu đối với sự thay đổi tỷ giá Bài nghiên cứu này là một biến thể của mô hình yếu tố cố định (fixed-effect) được
đề xuất bởi Knetter (1989 và 1993) sử dụng dữ liệu theo bảng Phương pháp này là phù
hợp với ít nhất ba lí do sau Thứ nhất, thông tin theo mẫu chéo ở các thị trường nhập
khẩu cho phép chúng ta phân biệt sự thay đổi “mark-up” từ những thay đổi chi phí mà không c ần sử dụng dữ liệu kế toán để đại diện cho chi phí cận biên Theo Goldberg và Knetter (1997), khi nghiên cứu về định giá theo thị trường (PTM), việc sử dụng biến đại diện có thể tạo ra sai số đo lường – có thể tương quan với tỷ giá, làm sai lệch cách
hệ số ước lượng về phía những điều chỉnh “mark-up” vượt trội Th ứ hai, dữ liệu bảng
có thể giúp chúng ta phân tích hành vi định giá theo đặc thù từng thị trường Thứ ba,
trong mô hình “sai phân” này, dữ liệu được sử dụng không cần phải kiểm tra tính dừng
it it i
t x
p
Với,
i=1,…,N thể hiện thị trường xuất khẩu
t= 1,…, T thể hiện thời gian
biểu thị sai phân bậc 1
px
là giá xuất khẩu ở đồng tiền của nước xuất khẩu
e là tỷ giá song phương (đơn vị tiền tệ của nước xuất khẩu/tiền tệ của thị
trường xuất khẩu) nhân cho chỉ số giá ở thị trường xuất khẩu
là sai số, được giả định là độc lập và phân phối theo giá trị trung bình bằng 0 và phương sai 2không đổi
Trang 1413
t
và ilà 2 thông số cần được ước lượng
Do chất lượng hàng hóa có thể khác nhau giữa các thị trường nhập khẩu, giá c ả
và chi phí cận biên có thể khác nhau giữa các thị trường này Những khác biệt này, với điều kiện là chúng không thay đổi theo thời gian mà chỉ khác biệt giữa các thị trường nhập khẩu, thì có thể được giải quyết bằng cách lấy sai phân, như Knetter (1993) và Parson và Sato (2004) đã làm Nếu như chất lượng hàng hóa có thay đổi theo thời gian, nhưng tương tự ở các thị trường nhập khẩu, thì có thể được tính toán bằng cách sử dụng biến giả thời gian
Mối quan tâm chính c ủa tôi là hệ số i Mô hình đầu tiên cho phép hệ số
dốcikhác nhau giữa các thị trường nhập khẩu Yếu tố thời gian (biến giả thời gian) tđại diện cho khả năng chất lượng hàng hóa thay đổi theo thời gian; yếu tố này là chung cho các thị trường nhập khẩu và có thể có hoặc không có ý nghĩa Như người đọc có thể
thấy, mẫu của tôi khá nhỏ trong một số trường hợp, do đó, nếu Beta có thể được gộp lại
cho các thị trường nhập khẩu thì điều này sẽ làm tăng sự bền vững của các kiểm định Kiểm định F được xây dựng cho hai nước có mẫu lớn nhất (Indonesia và Malaysia), đã đưa ra những ủng hộ vượt trội cho giả thuyết “beta chung”10 Do đó, theo Gil-Paraja
(2002) và Parsley (2004) tôi thấy giả định về hệ số Beta chung là hợp lệ và được giả
định cho tất cả các hồi quy Về sự hợp lệ của yếu tố thời gian, để phù hợp với những nghiên cứu trước, thà sai vì nhiều hệ số còn hơn sai vì ít hệ số, tôi đưa yếu tố thời gian vào tất cả các hồi quy
có thể được giải thích như sau Theo mô hình cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường là phân khúc – sự phân biệt giá cả có thể xuất hiện- một giá trị gần bằng 0 thể hiện rằng, giá xuất khẩu ở đồng tiền của nước xuất khẩu không phản ứng với những dao động của tỷ giá song phương (đồng tiền nước xuất khẩu/đồng tiền nước nhập khẩu) Do đó, những thay đối trong tỷ giá, được dẫn truyền hoàn toàn sang nhà nhập khẩu.11 Một giá trị dương và có ý nghĩa, thể hiện có một mối quan hệ cùng chiều giữa giá xuất khẩu (theo đồng tiền của nước xuất khẩu) và tỷ giá Điều này thể hiện rằng, nhà xuất khẩu có xu hướng ổn định giá xuất khẩu (theo đồng tiền của nước nhập
10 Kết quả kiểm định không được trình bày trong bài, nhưng có thể cung cấp nếu được yêu cầu.
11 Trong mô hình cạnh tranh không hoàn hảo, =0 thể hiện cầu không co giãn với giá theo đồng tiền ở nước nhập khẩu – giá được tính bằng một phần “markup” cố định trên cho chi phí biên.
Trang 15Do đó, tôi không tìm thấy bất kì một mối liên quan nào gi ữa giá xuất khẩu (theo đồng tiền nước nhập khẩu) với tỷ giá song phương (đồng tiền nước xuất khẩu theo đồng tiền nước nhập khẩu Trong trường hợp này, =0 sẽ phù hợp với mô hình đối với các nước nhỏ trong một thị trường thế giới hội nhập (SCIM) Những nghiên cứu trước đây thường giả định mô hình cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường là phân khúc, đồng thời, chọn cách phân loại hàng hóa
mà họ nghĩ là có thể xảy ra PTM (ví dụ như, rượu, xe oto…) Tuy nhiên, tôi muốn ước tính hệ số truyền dẫn mà có thể phản ánh được tổng thể thương mại, do đó, tôi không loại trừ trường hợp thị trường hội nhập này một cách ưu tiên
Theo đó, sẽ có hai cách giải thích cho =0 ở phương trình (1) phụ thuộc vào giả định về cấu trúc thị trường Để xác định xem giải thích nào phù hợp hơn, tôi đề xuất một giai đoạn thứ hai của phân tích thực nghiệm với phương trình sau:
it it i
t m
p
Với pm là giá xuất khẩu theo đồng tiền của nước nhập khẩu Trong phương trình
này, ta có thể giải thích =0 theo những cách sau =0 hàm ý rằng giá được trả bởi
12
Hệ số dương và ý nghĩa thể hiện đường cầu ít lồi hơn so với đường cầu không co giãn
13 McKinnon (1979) lập luận rằng hàng hóa đồng nhất và / hoặc ít phân biệt được giao dịch trong một thị trường thế giới hội nhập được lập hoá đơn bằng một đồng tiền quốc tế lớn, điển hình là đồng đô la
Mỹ
Mặc dù nó được công nhận rộng rãi rằng sử dụng tiền tệ trong thương mại có thể quan trọng rất nhiều trong nghiên cứu PTM và pass-through tỷ giá (xem, ví dụ, Knetter, năm 1989 và 1993; Gagnon và Knetter, 1995; và Goldberg và Knetter, 1997), chỉ có một vài nỗ lực đã được thực hiện kiểm tra thực nghiệm về vấn đề này Một vài trường hợp ngoại lệ là Fukuda và Ji (1994), Sato (1999 và 2003) và Donnenfeld và Haug (2003)
Trang 16Mặt khác, giá trị của âm và ý nghĩa sẽ biểu thị rằng ít nhất phần nào đó dao động của tỷ giá sẽ truyền dẫn sang nhà nhập khẩu, có thể làm giá cao hơn hoặc thấp hơn tùy theo trường hợp = -1 sẽ thể hiện sự truyền dẫn tỷ giá hoàn toàn Những cách giải thích khác nhau sẽ được tóm tắt ở Bảng 1 và trình bày l ại một lần nữa khi tôi giải thích kết quả thực nghiệm
3.2 Dữ liệu
Bài nghiên cứu này sử dụng giá trị đơn vị xuất khẩu hàng năm (1999-2011) (bằng giá trị xuất khẩu chia cho số lượng) để đại diện cho giá xuất khẩu của 5 nước ASEAN: Indonesia, Malaysia, Philipines, Thái Lan và Việt Nam, được phân biệt theo từng thị trường và hàng hóa xuất khẩu Dữ liệu này được lấy từ cơ sở dữ liệu UN COMTRADE Có một số tranh luận rằng, chuỗi giá trị đơn vị không thể tính toán được
sự thay đổi chất lượng của hàng hóa theo thời gian Tuy nhiên, chuỗi dữ liệu giá trị đơn
vị được sử dụng trong nghiên cứu này là cách duy nhất đo lường giá xuất khẩu của từng nước, ở cùng một thời gian, được phân biệt theo thị trường xuất khẩu Lợi thế của cách
sử dụng này lớn hơn rất nhiều so với những bất lợi khi ước lượng sự truyền dẫn tỷ giá.14 Theo Knetter (1989) lập luận rằng, sự khác biệt hệ thống trong chất lượng sản phẩm (những hàng hóa có chất lượng khác nhau được bán ở những thị trường khác nhau) sẽ được nắm giữ bởi biến giả theo nước Hơn thế nữa, những thay đổi chất lượng hàng hóa
mà chung cho các nước thì sẽ được nắm giữ bởi biến giả thời gian Do vậy, tác động của sự thay đổi chất lượng hàng hóa lên việc đánh giá PTM là tối thiểu
14 Như đã được trình bày, biến giả tác động thời gian sẽ tính toán đến sự thay đổi trong chât lượng hàng hóa.
Trang 17Dẫn truyền
hoàn toàn hoặc SCIM
Dẫn truyền hoàn toàn Dẫn truyền
hoàn toàn hoặc SCIM Không dẫn truyền
hoặc SCIM
Dẫn truyền hoàn toàn
Không dẫn truyền Không dẫn truyền
Phương
trình (1)
Phương trình (2)
Lưu ý:
Cột thứ nhất thể hiện giả thuyết của hệ số Beta được chấp nhận của phương trình (1)
Hàng thứ nhất thể hiện giả thuyết của hệ số Beta được chấp nhận của phương trình (2)
Ví dụ:
Cột thứ hai, giả thuyết β=0 được chấp nhận ở phương trình (1) có ý nghĩa là:
(a) sự dẫn truyền hoàn toàn hoặc (b) SCIM
Việc lựa chọn thị trường xuất khẩu dựa trên những thị trường nhập khẩu có doanh số lớn và có đồng tiền có biến động so với đồng tiền của nước xuất khẩu Mục đích của việc chọn những thị trường nhập khẩu lớn là để tăng sự chính xác của cách đo lường giá bằng giá trị đơn vị và giảm thiểu những giai đoạn mà không có quan sát về
giá do thiếu hụt hàng hóa Bảng A1-phần phụ lục, trình bày danh sách những thị trường
nhập khẩu được sử dụng trong bài WPI (hoặc PPI) được sử dụng để đại diện cho giá ở thị trường nhập khẩu Những dữ liệu này được thu thập từ IMF, International Financial Statistics (IFS) CD-ROM
Tỷ giá song phương (đồng tiền nước xuất khẩu/đồng tiền nước nhập khẩu) được xây dựng từ những tỷ giá chéo theo đồng Đôla Mỹ, lấy từ nguồn IFS.15 Tỷ giá danh
15 Tỷ giá song phương theo đồng Mark Đức và Franc Pháp được tính toán từ tỷ lệ quy đổi euro, lấy từ website của Ngân hàng trung ương EU (http://ecb.int/)
Trang 1817
Bảng 2 Những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của ASEAN-5
Indonesia
HS-84 Máy móc thiết bị lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi
Malaysia
HS-84 Máy móc thiết bị lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi
Philippines
HS-84 Máy móc thiết bị lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi
Thái Lan
HS-84 Máy móc thiết bị lò phản ứng hạt nhân, nồi
Trang 19
18
nghĩa này được điều chỉnh bằng cách nhân cho chỉ số giá sản xuất ở các thị trường nhập khẩu Sự điều chỉnh này là nhằm cho giá xuất khẩu có thể trung tính với những thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa tương ứng với lạm phát ở thị trường nhập khẩu
Rất khó để có thể tìm được những mặt hàng khác nhau mà được 5 nước cùng xuất khẩu tích cực trong một thời gian dài Điều này có thể là do nó không được xuất khẩu ở thời điểm đó, ho ặc có thể là do sự thay đổi trong cách phân loại ở nguồn dữ liệu
Do đó, độ dài của bảng dữ liệu vẫn còn chưa đầy đủ Điều này là một điểm yếu nhưng cũng là một điểm mạnh Bởi vì mẫu thời gian chưa đủ dài, chúng ta có thể giảm sự lo ngại về chất lượng hàng hóa thay đổi đáng kể theo thời gian (nhưng không bỏ qua) Cũng như, thời gian bắt đầu mẫu sau cuộc khủng hoảng 1997-98 sẽ giúp ta bỏ qua một
số vấn đề do các cú sốc lớn mang lại
Chúng tôi chọn những loại hàng hóa dựa trên số lượng xuất khẩu của 5 nước
ASEAN Bảng 2 trình bày nhóm 5 lo ại hàng được xuất khẩu nhiều nhất ở 5 nước
ASEAN nghiên cứu Như chúng ta thấy, các lo ại hàng hóa không khác nhau nhiều Tuy nhiên trong mỗi phân loại HS-2 chữ số, ở mức HS-6 chữ số, có rất nhiều mặt hàng mà một nước có thể xuất khẩu cho rất nhiều nước khác, nhưng các nước ASEAN còn lại thì lại không xuất khẩu Do đó, ngoài mục tiêu cơ bản của nghiên cứu này là ước lượng hệ
số dẫn truyền cho những hàng hóa mang tính đại diện cho từng quốc gia, chúng ta còn
muốn có thể so sánh giữa các quốc gia Như ta có thể thấy trong Bảng A2-phần phụ lục,
ta chọn một số lượng lớn các mặt hàng được nhiều nước xuất khẩu, và một số mặt hàng khác mang tính “thương hiệu” của mỗi quốc gia nhằm mở rộng mẫu, phản ánh những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của ASEAN
Cụ thể, gần một nửa các mặt hàng là được phân loại HS-85 -top5 các mặt hàng xuất khẩu của cả năm quốc gia Tuy nhiên, để tìm những mặt hàng tương tự được xuất khẩu ở cả năm nước, tôi đã chọn những mặt hàng (HS-85) 6 chữ số được xuất khẩu với khối lượng lớn ở Indonesia16, với thời gian đồng thời ở 4 nước kia Thành phần xuất khẩu của Malaysia tương tự như Indonesia, do đó, tôi đã tìm được đủ dữ liệu ở tất cả các loại Đối với Thái Lan, Philipine và Việt Nam, mẫu hình có vẻ khác hơn, những vẫn không gọi là ít dữ liệu để tiến hành phân tích thích hợp Dầu, cao su, dầu cọ và gỗ cũng được chọn, không những vì đây là những mặt hàng nằm trong top5 mà còn vì đây
16 Indonesia được chọn chỉ đơn thuần với lí do thứ tự trong bảng chữ cái.
Trang 2019
là thương hiệu xuất khẩu cho khu vực và cũng là chủ đề của nhiều nghiên cứu trước Cuối cùng, quần áo (HS-62) và giày dép (HS-64), là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Philipine và Việt Nam, cũng được chọn để mở rộng mẫu cho hai nước này.17
3.3 Kết quả
Như đã đề cập phía trên, tôi đã ước lượng riêng cho từng hàng hóa-quốc gia (ví
dụ, xuất khẩu dầu cọ, dầu thô ở Indonesia) Với năm nước và 39 hàng hóa xuất khẩu, sau khi bỏ qua những mặt hàng không có ở các nước, tôi đã ước lượng 173 phương trình.18 Bảng phụ lục A1 và A2 trình bày danh sách các thị trường nhập khẩu và các mặt hàng Tôi tiến hành giai đoạn 1 của phân tích sự dẫn truyền của tỷ giá bằng phương trình (1) Với tổng cộng 173 hệ số ước lượng được trình bày ở Bảng phụ lục A3a-e.19Bảng 3 trình bày kết quả tổng hợp đối với ước lượng hệ số chung giữa các mặt hàng cho các nước nhập khẩu
Thật thú vị, giả thuyết Ho: =0 trong phương trình (1) không thể bị bác bỏ trong hầu hết các trường hợp Giả thuyết Ho chỉ bị bác bỏ 5 trong số 39 mặt hàng xuất khẩu của Indonesia và Malaysia, 4 trong 29 mặt hàng của Philipine, 2 trong 38 mặt hàng của Thái Lan Trong khi giả thuyết Ho bị bác bỏ hơn ¼ các mặt hàng ở Việt Nam thì việc cho rằng giả thuyết không thể bị bác bỏ trong hầu hết các trường hợp vẫn là an toàn Điều này có nghĩa rằng, dưới giả định của PTM, sự dẫn truyền hoàn toàn thống trị trong giao thương của 5 nước ASEAN Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để giải thích kết quả này
Như đã trình bày ở phần trước, =0 có thể có hai hướng giải thích đối với phương trình (1) Cụ thể, giải thích được dựa trên giả định về cấu trúc thị trường: (1) nếu thị trường cạnh tranh không hoàn hào, =0 ngụ ý sự dẫn truyền hoàn toàn.; nhưng (2) nếu thị trường cạnh tranh hoàn hảo hoặc thị trường thế giới hội nhập thì =0 ngụ ý
17 Trong tiến trình lựa chọn này, việc tìm hàng hóa xuất khẩu ở Thái Lan, Philippine, Việt Nam và đồng thời được xuất khẩu ở Indonesia và Malaysia thì tương đối đơn giản Tuy nhiên, trường hợp ngược lại thì lại có nhiều khó khăn hơn.