1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam

52 1,2K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế - Tài chính
Thể loại Nghiên cứu thực nghiệm
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục 1. Giới thiệu .................................................................................................. 2 1.1. Lý do chọn đề tài ................................................................................ 2 1.2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................... 2 1.3. Tổng quan nội dung và bố cục trình bày toàn bài .............................. 3 2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây ...................................... 5 2.1. Khái niệm và những nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ............................................................................................................ 5 2.2. Các công trình nghiên cứu chứng minh kênh lãi suất hoạt động hiệu quả .......................................................................................................... 11 2.3. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ và một số công trình nghiên cứu các kênh truyền dẫn khác ............. 13 2.4. Một số bài nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam15 2.5. Kết luận phần 2 ................................................................................. 17 3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 18 3.1. Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................... 18 3.2. Mô hình nghiên cứu: SVAR- mô hình tự hồi quy vector cấu trúc .. 19 3.2.1. Lý do chọn mô hình ..................................................................... 19 3.2.2. Ý tưởng hình thành mô hình SVAR............................................ 19 3.2.3. Lý thuyết mô hình SVAR............................................................ 20 3.2.4. Định dạng và ước lượng reduce form VAR ................................ 25 3.2.5. Ứng dụng SVAR bốn biến để phân tích định lượng ................... 28 4. Nội dung và kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam ............. 29 5. Kết luận, hạn chế và hướng mở rộng của bài nghiên cứu ................. 39 5.1. Kết luận ................................................................................................ 39 5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng ............ 40 Danh mục chữ viế t tắ t NHNN: Ngân hàng nhà nước NHTM: Ngân hàng thương mại GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội CPI (Consumer Price Index): Chỉ số giá tiêu dùng LSCB: Lãi suất cơ bản LSTCV: Lãi suất tái cấp vốn M2: Cung tiền rộng M2 VAR (Vector Autoregression): Mô hình vectơ tự hồi quy SVAR (Structural Vector Autoregression): Mô hình tự hồi quy vecto cấu trúc AIC: Akaike information criterion SC: Schwarz information criterion HQ: Hannan-Quinn information criterion Danh mục bảng Bảng 4.1. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi gốc Bảng 4.2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi đã lấy sai phân Bảng 4.3 Kết quả chọn độ trễ của mô hình SVAR dạng rút gọn Bảng 4.4 Kết quả ước lượng mô hình SVAR dạng rút gọn Bảng 4.5 Kết quả ước lượng ma trận quan hệ giữa et và et Danh mục hình Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ Hình 4.1 Sơ đồ các bước thực nghiệm Hình 4.2 Phản ứng của tăng trưởng GDP trước sự thay đổi lãi suất cơ bản Hình 4.3 Phản ứng của CPI trước sự thay đổi lãi suất cơ bản Hình 4.4 LSCB phản ứng trước sự thay đổi CPI Hình 4.5 Phản ứng của GDP và CPI trước sự biến đổi của cung tiền Hình 4.6 Phản ứng của tăng trưởng GDP và CPI trước thay đổi lãi suất tái cấp vốn Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam Tóm tắt: Chính sách tiền tệ ngày nay đã trở thành một trong những chính sách trọng tâm để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững với mức lạm phát thấp. Để điều chỉnh nền kinh tế thành công bằng chính sách tiền tệ, các nhà hoạch định chính sách phải có những đánh giá chính xác về tính kịp thời và ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế. Theo các tài liệu thì lãi suất là một công cụ chính sách tiền tệ mạnh và điều hành chính sách lãi suất ở Việ Nam trải qua nhiều giai đoạn, ví dụ trong năm 2012, NHNN Việt Nam đã 6 lần điều chỉnh lãi suất chính sách. Vậy khi điều chỉnh lãi suất chính sách sẽ có tác động như thế nào đến tăng trưởng GDP và lạm phát? Nhờ vào mô hình tự hồi quyvector cấu trúc (SVAR) theo quý với dữ liệu của Việt Nam giai đoạn 2000-2012, tôi tìm thấy bằng chứng rằng lãi suất chính sách có ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP và lạm phát,cụ thể là tác động nghịch biến đến tăng trưởng GDP với độ trễ là 3 quý và tác động làm giảm lạm phát với độ trễ là 2 quý. Điều này có thể hiểu là một thay đổi trong điều hành chính sách lãi suất thì sau khoảng 2-3 quý thì sẽ phát huy tác dụng rõ ràng nhất.Kết quả này như là một bằng chứng thực tế thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trang 1

Mục lục

1 Giới thiệu 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Tổng quan nội dung và bố cục trình bày toàn bài 3

2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 5

2.1 Khái niệm và những nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ 5

2.2 Các công trình nghiên cứu chứng minh kênh lãi suất hoạt động hiệu quả 11

2.3 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ và một số công trình nghiên cứu các kênh truyền dẫn khác 13

2.4 Một số bài nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam15 2.5 Kết luận phần 2 17

3 Phương pháp nghiên cứu 18

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 18

3.2 Mô hình nghiên cứu: SVAR- mô hình tự hồi quy vector cấu trúc 19

3.2.1 Lý do chọn mô hình 19

3.2.2 Ý tưởng hình thành mô hình SVAR 19

3.2.3 Lý thuyết mô hình SVAR 20

3.2.4 Định dạng và ước lượng reduce form VAR 25

3.2.5 Ứng dụng SVAR bốn biến để phân tích định lượng 28

4 Nội dung và kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam 29

5 Kết luận, hạn chế và hướng mở rộng của bài nghiên cứu 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng 40

Trang 3

Danh mục chữ viết tắt

NHNN: Ngân hàng nhà nước

NHTM: Ngân hàng thương mại

GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội

CPI (Consumer Price Index): Chỉ số giá tiêu dùng

LSCB: Lãi suất cơ bản

LSTCV: Lãi suất tái cấp vốn

M2: Cung tiền rộng M2

VAR (Vector Autoregression): Mô hình vectơ tự hồi quy

SVAR (Structural Vector Autoregression): Mô hình tự hồi quy vecto cấu trúc AIC: Akaike information criterion

SC: Schwarz information criterion

HQ: Hannan-Quinn information criterion

Trang 4

Danh mục bảng

Bảng 4.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi gốc

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi đã lấy sai phân

Bảng 4.3 Kết quả chọn độ trễ của mô hình SVAR dạng rút gọn

Bảng 4.4 Kết quả ước lượng mô hình SVAR dạng rút gọn

Bảng 4.5 Kết quả ước lượng ma trận quan hệ giữa et và et

Danh mục hình

Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ

Hình 4.1 Sơ đồ các bước thực nghiệm

Hình 4.2 Phản ứng của tăng trưởng GDP trước sự thay đổi lãi suất cơ bản

Hình 4.3 Phản ứng của CPI trước sự thay đổi lãi suất cơ bản

Hình 4.4 LSCB phản ứng trước sự thay đổi CPI

Hình 4.5 Phản ứng của GDP và CPI trước sự biến đổi của cung tiền

Hình 4.6 Phản ứng của tăng trưởng GDP và CPI trước thay đổi lãi suất tái cấp vốn

Trang 5

Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam

Tóm tắt:

Chính sách tiền tệ ngày nay đã trở thành một trong những chính sách trọng tâm

để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững với mức lạm phát thấp Để điều chỉnh nền kinh tế thành công bằng chính sách tiền tệ, các nhà hoạch định chính sách phải có những đánh giá chính xác về tính kịp thời và ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế Theo các tài liệu thì lãi suất là một công cụ chính sách tiền tệ mạnh và điều hành chính sách lãi suất ở Việ Nam trải qua nhiều giai đoạn, ví dụ trong năm 2012, NHNN Việt Nam đã 6 lần điều chỉnh lãi suất chính sách Vậy khi điều chỉnh lãi suất chính sách sẽ có tác động như thế nào đến tăng trưởng GDP và lạm phát? Nhờ vào mô hình tự hồi quyvector cấu trúc (SVAR) theo quý với dữ liệu của Việt Nam giai đoạn 2000-2012, tôi tìm thấy bằng chứng rằng lãi suất chính sách có ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP và lạm phát,cụ thể là tác động nghịch biến đến tăng trưởng GDP với độ trễ là 3 quý và tác động làm giảm lạm phát với độ trễ là 2 quý Điều này có thể hiểu là một thay đổi trong điều hành chính sách lãi suất thì sau khoảng 2-3 quý thì sẽ phát huy tác dụng rõ ràng nhất.Kết quả này như là một bằng chứng thực tế thể hiện được vai trò

và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 6

1 Giới thiệu

1.1 Lý do chọn đề tài

Chính sách tiền tệ ngày nay đã trở thành một trong những chính sách trọng tâm

để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững với mức lạm phát thấp Chính sách tài khóa đã không còn hoàn toàn giữ vai trò là công cụ ổn định toàn bộ nền kinh tế bởi sự

lo ngại về tính kịp thời trong việc thực thi chính sách và vấn đề thâm hụt ngân sách

Để điều chỉnh nền kinh tế thành công bằng chính sách tiền tệ, các nhà hoạch định chính sách phải có những đánh giá chính xác về tính kịp thời và ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế; vì vậy đòi hỏi một sự hiểu biết về cơ chế tác động mà qua

đó chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế

Theo các tài liệu, có nhiều kênh dẫn truyền chính sách tiền tệ như kênh lãi suất, kênh tín dụng, kênh tỷ giá hối đoái, kênh giá các tài sản…Trong đó, lãi suất là một công cụ chính sách tiền tệ mạnh và có nhiều tài liệu nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách tiền tệ cũng như là nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất được nghiên cứu ở nhiều nước phát triển trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì tài liệu thực nghiệm về vấn đề này có rất ít và việc tiếp cận phân tích định lượng còn nhiều hạn chế Vì vậy, tôi muốn nghiên cứu truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất

ở Việt Nam như thế nào, cụ thể là lãi suất chính sách thay đổi thì tác động như thế nào

đến GDP và lạm phát chủ yếu dựa vào bài nghiên cứu gốc “Evidence of Interest Rate Channel of Monetary Policy Transmission in India” của tác giả Deepak Mohanty –

Giám đốc điều hành của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ, năm 2012

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung vào mục tiêu chính đó là nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất ở Việt Nam Cụ thể, bằng cách sử dụng mô hình SVAR với dữ liệu theo quý, bài nghiên cứu trả lời hai câu hỏi:

(1) Kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ có hoạt động ở Việt Nam?

Cụ thể là khi có sự thay đổi của cung tiền M2 và lãi suất chính sách thì sẽ

tác động như thế nào đến GDP và lạm phát?

Trang 7

(2) Thời gian để GDP và lạm phát phản ứng lại một chính sách mới là bao lâu? Hay nói cách khác, một chính sách đưa ra để giải quyết vấn đề lạm phát thì

cần thời gian bao lâu mới phát huy tác dụng?

1.3 Tổng quan nội dung và bố cục trình bày toàn bài

Chính sách tiền tệ ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng và lạm phát là một câu hỏi quan trọng Khuôn khổ chính sách tiền tệ của một ngân hàng trung ương nhằm mục đích đạt được các mục tiêu mong muốn của chính sách trong điều kiện lạm phát

và tăng trưởng Thông thường, các ngân hàng trung ương thực hiện kiểm soát chính sách tiền tệ dựa vào lãi suất ngắn hạnchẳng hạn như lãi suất mà ngân hàng trung ương cung cấp hoặc thu hút dự trữtừ hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng các công cụ chính sách, bao gồm chính sách tiền tệ

- lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng, hoạt động thị trường mở,

tỷ lệ dự trữ bắt buộc; và chính sách tỷ giá: tỷ giá giao dịch liên ngân hàng Kết quả vận hành các chính sách này sẽ có ảnh hưởng tới nền kinh tế thông qua các kênh, mà tổng

thể tạo ra cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ

Truyền dẫn tiền tệ là một quá trình mà thông qua đó thay đổi trong chính sách được truyền sang các mục tiêu cuối cùng là lạm phát và tăng trưởng Theo truyền thống, bốn kênh chính trong truyền dẫn chính sách tiền tệ đã được xác định trong các tài liệu như (i) kênh lãi suất, (ii) kênhtín dụng, (iii) kênh tỷ giá hối đoái và (iv) kênh giá tài sản Trong những năm gần đây, kênh thứ năm, tức là kênh kỳ vọng đã có vai trò

quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ

Các nghiên cứu trước đâycũng đã phân biệt truyền dẫn tiền tệ thông qua hai kênh: (i) các kênh cổ điển và (ii) các kênh tân cổ điển Các kênh cổ điển tập trung vào lãi suất thay đổi tác độngnhư thế nào đếnmục tiêu cuối cùng thông qua đầu tư, tiêu dùng và thương mại Các kênh tân cổ điển hoạt động chủ yếu thông qua sự thay đổi trong cung tín dụng và tác động đến hành vi và bảng cân đối kế toáncủa các ngân hàng (theo Boivin, 2011) Các kênh này hoạt động như thế nào trong nền kinh tế phụ thuộc

vào giai đoạn phát triển của nền kinh tế vàcấu trúc của hệ thống tài chính

Điều đáng quan tâm là các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ thường được gọi là một hộp đen - ngụ ý rằng chúng ta biết chính sách tiền tệ làm ảnh hưởng đến sản lượng

Trang 8

và lạm phát, nhưng chúng ta không biết chắc chắn chính xác nó làmvậy như thế nào Xuất hiện điều này bởi vì không chỉ các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ khác nhau

có xu hướng hoạt động cùng một lúc mà còn thay đổi theo thời gian Như Bernanke và Gertler (1995) quan sát: ở phạm vi lớn, phân tích thực nghiệm về tác động của chính sách tiền tệ đã xem xét cơ chế truyền dẫn tiền tệ như là một "hộp đen" Kết quả là, các câu hỏi vẫn còn: chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đến nền kinh tế thực? Nếu vậy, cơ chế truyền dẫn mà những tác động xảy ra là gì? Chính sách tiền tệ thay đổi ảnh hưởng đến lãi suất thị trường như lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi của ngân hàng ở mức độ

khác nhau theo thời gian

Lý thuyết về cơ chế truyền dẫn qua kênh lãi suất về mặt định tính có thể được hiểu là thay đổi lãi suất của các cơ quan quản lý tiền tệ có thể gây ra biến động về giá tài sản để tạo ra ảnh hưởng mạnh về giá thị trường của tài sản tài chính và nợ phải trả Lãi suất cao hơn có thể gây ra một sự đánh giá của đồng nội tệ, lần lượt, có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng, và do đó, tác động đến tổng cầu và sản lượng Đồng thời, hoạt động và thông báo chính sách ảnh hưởng đến kỳ vọng về tương lai của nền kinh

tế và mức độ của sự tự tin với những kỳ vọng này được thiết lập

Đối với sản lượng, những thay đổi lãi suất này ảnh hưởng đến các hành vi chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư của các cá nhân và các công ty trong nền kinh tế Đơn giản là những thứ khác bằng nhau thìkhi lãi suất cao hơn có xu hướng khuyến khích tiết kiệm hơn là chi tiêu Tương tự như vậy, giá trị của tiền tệ cao hơn trong thị trường ngoại hối khuyến khích chi tiêu bằng cách làm hàng hóa nước ngoàirẻ hơnso với hàng hoá sản xuất trong nước Vì vậy, những thay đổi trong lãi suất và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng

đến nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ sản xuất

Về phía lạm phát, mức độ nhu cầu liên quan đến khả năng cung ứng trong nước - trong thị trường lao động và các nơi khác - là một ảnh hưởng quan trọng về áp lực lạm phát trong nước Nếu nhu cầu lao động vượt quá nguồn cung cấp, sẽ có áp lực về tiền lương, trong đó một số công ty sẽ đưa giá cao hơn vào tính cho người tiêu dùng Ngoài

ra, biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả trong nước của hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, và tác động gián tiếp vào giá của những hàng hóa và

Trang 9

dịch vụ cạnh tranh với hàng nhập khẩu hoặc sử dụng đầu vào nhập khẩu, và do đó tác

động đến các thành phần của lạm phát tổng thể

Nhìn chung, cơ chế truyền dẫnbị tác động chủ yếu bởi khuôn khổ chính sách tiền

tệ, cấu trúc và độ sâu của hệ thống tài chính ở nơi mà các ngân hàng trung ương điều hành và tình trạng của nền kinh tế thực Trong khi có tài liệu thực nghiệm rộng lớn về truyền dẫn chính sách tiền tệ đối với các nền kinh tế tiên tiến, chỉ có một số giới hạn các nghiên cứu thực nghiệm đã xem xét cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (EDEs) Điều này là dễ hiểu do tính chất kém phát triển của thị trường tài chính và thay đổi cấu trúc nhanh chóng trongEDEs Tuy nhiên, kể từ những năm 2000, phân tích các cơ chế lan truyền tiền tệ trong EDEs, bao gồm Việt Nam, đã đạt được sự nổi bật do cải cách cơ cấu kinh tế và quá trình sau khi chuyển đổi chế độ chính sách theo định hướng thị trường Tài liệu về truyền dẫn chính sách tiền tệ

ở Việt Nam vẫn còn khá ít, mặc dù trong thời gian gần đây, một vài nghiên cứu đã được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp tự hồi quy vector truyền thống (VAR)

và tự hồi quy vector cấu trúc (SVAR)

Dựa vào bối cảnh đó, bài viết này trình bàynghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam dựa trên mô hìnhSVARvới dữ liệu theoquý, từ quý 1 năm 2000 đến quý 3 năm 2012 Bài viết này được tổ chức như sau Trong phần 2, chúng ta xem xét các các nghiên cứu trước đây, bao gồm cả lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, trong phạm vi quốc tế cũng như ở Việt Nam Trong phần 3, tôi trình bày phương pháp nghiên cứu, cụ thể là trình bày lý thuyết về mô hình và dữ liệu về các biến SVAR mà tôi sử dụng cho bài viết Trong phần 4, trình bày các bước nghiên cứu thực nghiệm và kết quả phản ứng của GDP và lạm phát trước những đổi mới chính sách tiền tệ được ước tính bằng cách sử dụng mô hình SVAR Phần 5 trình bàykết luận

2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

2.1 Khái niệm và những nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ

Truyền dẫn chính sách tiền tệ là một quá trình mà thông qua đó thay đổi trong

chính sách được truyền sang các mục tiêu cuối cùng là lạm phát và tăng trưởng Trong tài liệu, có một sự công nhận chung rằng chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế

Trang 10

thực, ít nhất là trong ngắn hạn Tuy nhiên, không có thống nhất chung về kênh mà qua

đó chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến biến động của sản lượng và giá cả Điều này thể hiện qua từ những nghiên cứu ban đầu về truyền dẫn như trong lý thuyết tổng quát của Keynes về sản lượng và việc làm đã mô tả tầm quan trọng của kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ Tuy nhiên giả thuyết vòng đời của Ando và Modigliani (1963) nhấn mạnh ảnh hưởng sự giàu có, trong khi Tobin (1969) nhấn mạnh tầm quan trọng của chi phí vốn và lựa chọn danh mục đầu tư trong việc truyền dẫn chính sách tiền tệ

Trong những năm gần đây, truyền dẫn chính sách tiền tệ là một vấn đề được nghiên cứu sâu rộng đặc biệt là kể từ bài viết chuyên đề của Bernanke vào năm 1986, trong đó cung cấp cách giải thích khác là nguồn gốc thực tế và danh nghĩa của giá để giải thích mối quan hệ giữa thu nhập và tiền Tuy nhiên, những phát hiện về hiệu quả của các kênh khác nhau của truyền dẫn vẫn còn một vấn đề chưa được giải quyết Việc thiếu một sự đồng thuận về các kênh lan truyền tiền tệ này có thể được nhìn thấy rõ ràng từ những cuộc tranh luận trong một hội nghị chuyên đề về "Truyền dẫn chính sách tiền tệ” được công bố trong Tạp chí Economic Perspectives trong năm 1995

Bernanke và Gertler (1995) đã tranh luận về hiệu quả của kênh lãi suất Họ lập luận

rằng chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn nhưng ít tác động tới lãi suất dài hạn mà chỉ có thể có tác động lớn đối với việc mua sắm tài sản lâu bền, ám chỉ rằng chính sách tiền tệkhông hiệu quả Họ lập luận rằng câu hỏi khó đó có thể được

giải quyết thông qua các kênh tín dụng trong truyền dẫn Tuy nhiên, Edwards và

Mishkin [1995], nghi ngờ tính hiệu quả kênh cho vay của ngân hàng cho rằng với

những cải cách tài chính, các ngân hàng đang ngày càng trở nên ít quan trọng trong thị trường tín dụng

Vì những quan điểm tương phản, để hiểu rõ hơn về truyền dẫn chính sách tiền tệ

truyền dẫn này trong bài “The Channels of Monetary Transmission Lessons for Monetary Policy” Kết quả nghiên cứu được tóm tắt như sau:

Trang 11

(1) Kênh lãi suất truyền thống:

Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tế trong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS-

LM của phái Keynes, một nền tảng cho lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện nay Quan điểm của phái Keynes với mô hình IS-LM phát biểu rằng khi nới lỏng chính sách tiền

tệ, khiến lãi suất thực giảm ( ir ), do đó làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I), từ đó dẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y)

Một điểm quan trọng của kênh lãi suất này là nhấn mạnh vào lãi suất thực hơn lãi suất danh nghĩa khi lãi suất có ảnh hưởng tới đến quyết định của doanh nghiệp và người tiêu dùng Thêm vào đó, cơ chế này cho rằng lãi suất thực tế dài hạn chứ không phải lãi suất thực tế ngắn hạn mới tác động mạnh đến chi tiêu Làm thế nào để sự thay đổi lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mà ngân hàng trung ương đưa ra dẫn đến một sự thay đổi tương ứng ở mức lãi suất thực trên cả trái phiếu ngắn và dài hạn? Điểm quan trọng

ở đây là giá cả có tính cố định, do đó khi chính sách tiền tệ nới lỏng làm giảm lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn cũng đồng thời làm giảm lãi suất thực ngắn hạn; điều này

sẽ vẫn đúng ngay cả khi có các kỳ vọng hợp lý Lý thuyết kỳ vọng về cấu trúc kỳ hạn phát biểu rằng lãi suất dài hạn là trung bình của các lãi suất ngắn hạn trong tương lai, tức là việc giảm lãi suất thực ngắn hạn sẽ làm giảm lãi suất thực dài hạn Mức lãi suất thực thấp hơn này sẽ làm tăng đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp, đầu tư nhà ở, chi tiêu hàng lâu bền và đầu tư hàng tồn kho và kết quả là làm gia tăng tổng sản lượng

Việc lãi suất thực có tác động đến chi tiêu chứ không phải là lãi suất danh nghĩa cho thấy một cơ chế quan trọng cho chính sách tiền tệ kích thích nền kinh tế như thế nào, ngay cả trong trường hợp lãi suất danh nghĩa chạm sàn trong thời kỳ lạm phát

Khi lãi suất danh nghĩa ở mức 0%, một sự mở rộng cung tiền tệ (M ) có thể tăng mức giá dự kiến (Pe) khiến lạm phát dự kiến tăng (  , qua đó giảm mức lãi suất thực ( ir ); ngay cả khi lãi suất danh nghĩa cố định ở 0 %, vẫn khuyến khích chi tiêu thông qua kênh truyền dẫn bằng lãi suất đã nêu ở trên

Trang 12

Vì vậy, cơ chế này chỉ ra rằng chính sách tiền tệ vẫn có thể có hiệu quả ngay cả khi lãi suất danh nghĩa bị đẩy xuống 0% Và trong thực tế, cơ chế này là một nhân tố chủ chốt được nhắc đến trong những cuộc hội đàm của các chuyên gia kinh tế về nguyên nhân kinh tế Mỹ không rơi vào bẫy thanh khoản trong suốt cuộc Đại suy thoái

và lý do chính sách tiền tệ nới lỏng có thể ngăn ngừa sự sụt giảm mạnh của sản lượng trong suốt thời kỳ đó

(2) Những kênh giá tài sản khác: Một số quan điểm phê phán phái trọng tiền đối

với thuyết IS-LM trong phân tích những tác động của chính sách tiền tệ lên nền kinh tế cho rằng nó chỉ tập trung chủ yếu vào giá của một loại tài sản là tiền tệ, tức là lãi suất, mà không đề cập đến giá của các tài sản khác Bên cạnh trái phiếu, có hai loại tài sản chính được quan tâm đặc biệt trong lý thuyết về

cơ chế truyền dẫn là ngoại hối và cổ phiếu

Kênh tỷ giá hối đoái: Kênh này cũng liên quan tới những tác động của lãi suất, vì

khi lãi suất thực trong nước giảm, tiền gửi bằng nội tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với những khoản tiền gửi bằng các ngoại tệ khác, dẫn tới sự sụt giảm trong giá trị của tiền gửi bằng nội tệ so với tiền gửi bằng các đồng tiền khác, đó chính là sự giảm giá của đồng nội tệ Giá trị của đồng nội tệ thấp hơn làm cho hàng hóa nước đó trở nên rẻ hơn

so với hàng hóa nước ngoài, và do đó làm tăng xuất khẩu ròng và GDP Vai trò quan trọng của kênh tỷ giá hối đoái trong việc truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ lên nền kinh tế trong nước đã được dẫn chứng trong những nghiên cứu gần đây của Bryant, Hooper, Mann (1993), và Taylor (1993)

Những kênh giá cổ phiếu: Có hai kênh quan trọng có liên quan đến giá cổ phiếu

trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ: kênh liên quan tới học thuyết q của Tobin về đầu tư và

những tác động của mức độ giàu có lên tiêu dùng

Học thuyết q của Tobin Học thuyết q của Tobin đưa ra một cơ chế sử dụng các

công cụ chính sách tiền tệ tác động tới nền kinh tế thông qua tác động lên giá trị của

vốn cổ phần (xem Tobin [1969]) Tobin định nghĩa q là giá thị trường của doanh nghiệp chia cho chi phí thay thế vốn Nếu q cao, giá thị trường của công ty sẽ cao so

với chi phí thay thế vốn hay vốn mở nhà xưởng mới và thiết bị mới sẽ rẻ hơn so với

Trang 13

giá trị thị trường của công ty Các công ty khi đó có thể phát hành vốn cổ phần và thu được giá cao so với chi phí trang thiết bị và nhà xưởng mà họ đang mua Do đó, đầu tư

sẽ nhiều hơn vì doanh nghiệp có thể mua được rất nhiều hàng hóa đầu tư mới bằng

một lượng nhỏ vốn cổ phần phát hành.Mặt khác, khi q thấp, công ty sẽ không mua

hàng hóa đầu tư mới vì giá trị thị trường của công ty là thấp so với chi phí vốn Nếu

công ty muốn thu được vốn khi q thấp, họ mua một công ty khác với giá rẻ và nhận

được lượng vốn cũ thay thế Đầu tư vì thế mà giảm sút

Điểm then chốt của cuộc tranh luận này đó là mối liên hệ q và chi phí đầu tư

Nhưng chính sách tiền tệ tác động lên giá cổ phiếu như thế nào? Trong lý thuyết tiền

tệ, khi cung tiền tệ tăng, công chúng nhận thấy họ có nhiều tiền hơn so với họ muốn và

vì vậy họ cố gắng giảm lượng tiền nắm giữ bằng cách tăng mức tiêu dùng và đầu tư Nơi mà công chúng có thể chọn để đầu tư nhiều hơn cả là thị trường chứng khoán, nhu cầu nắm giữ chứng khoán gia tăng cho nên giá của chúng tăng Thuyết của Keynes cũng dẫn tới một kết luận tương tự, bởi vì lãi suất giảm do chính sách tiền tệ nới lỏng

đã làm trái phiếu kém hấp dẫn hơn so với cổ phiếu, do đó làm tăng giá cổ phiếu Khi giá cổ phiếu (Pe) cao hơn, sẽ dẫn đến hệ số q cao hơn và do đó đầu tư cao hơn lại dẫn

đến một cơ chế chuyển dịch tiếp theo của chính sách tiền tệ đến biến Y

Những tác động của sự giàu có: Một kênh khác thực hiện quá trình truyền dẫn

tác động của chính sách tiền tệ thông qua giá cổ phiếu được mô tả qua tác động của sự giàu có lên tiêu dùng Kênh này đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của Franco Modigliani và mô hình MPS của ông, và một phiên bản của nó đang được ứng dụng tại

Hệ thống Dự trữ liên bang FED (xem Modigliani-1971) Trong mô hình vòng đời của Modigliani, chi tiêu tiêu dùng được quyết định bởi những nguồn lực trong suốt cuộc đời của cá nhân, bao gồm cả nguồn vốn con người, tài sản thực và tài sản tài chính Trong cấu phần của tài sản tài chính bao gồm cả cổ phiếu phổ thông Khi giá cổ phiếu tăng, giá trị của tài sản tài chính cũng tăng, do vậy làm tăng nguồn lực của người tiêu dùng và vì vậy chi tiêu tiêu dùng sẽ tăng

(3) Các kênh tín dụng Có hai kênh truyền dẫn tiền tệ cơ bản đều xuất phát từ

kết quả của vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng là: Kênh cho vay ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản

Trang 14

Kênh cho vay ngân hàng: Kênh cho vay ngân hàng dựa trên quan điểm ngân

hàng đóng vai trò đặc biệt trong hệ thống tài chính bởi vì các ngân hàng có đủ các điều kiện tốt để giải quyết các vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng

Do vai trò đặc biệt của ngân hàng, một số người vay nhất định sẽ không thể gia nhập vào thị trường tín dụng trừ phi họ vay từ ngân hàng Chừng nào mà chưa có khả năng thay thế hoàn hảo các khoản tiền gửi ngân hàng bán lẻ bằng các nguồn vốn khác của các quỹ, kênh truyền dẫn tiền tệ qua cho vay ngân hàng hoạt động như sau: Chính sách tiền tệ nới lỏng làm tăng dữ trữ ngân hàng và tiền gửi ngân hàng, tăng chất lượng các khoản vay ngân hàng hiện có Do ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng là người cho vay của những người đi vay ngân hàng, chính việc tăng các khoản vay sẽ dẫn đến đầu tư tăng Theo sơ đồ, ảnh hưởng của chính sách tiền tệ là:

M Tiền gửi ngân hàng  Các khoản vay ngân hàng I Y

Bảng cân đối tài sản: Giá trị ròng của các công ty càng thấp đi thì các vấn đề lựa

chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức khi tiến hành cho các công ty này vay càng trầm trọng hơn Giá trị ròng thấp hơn nghĩa là người cho vay có ít tài sản thế chấp cho các khoản vay của họ, và vì vậy thua lỗ từ sự lựa chọn đối nghịch sẽ cao hơn Giá trị ròng thấp của các công ty kinh doanh cũng làm tăng vấn đề rủi ro đạo đức, bởi vì điều này

có nghĩa là những người chủ sở hữu có tiền đóng góp cổ phần thấp trong công ty của

họ, khiến cho họ có nhiều động lực tham gia vào các dự án đầu tư rủi ro Do thực hiện các dự án đầu tư rủi ro hơn có thể dẫn đến việc không trả được nợ, làm giảm giá trị ròng của các công ty sẽ dẫn đến giảm cho vay và vì thế giảm chi đầu tư.Chính sách tiền tệ nới lỏng (M) dẫn đến giá cổ phần tăng (Pe) như đã trước mô tả ở phần trước, làm tăng giá trị ròng của công ty và vì vậy dẫn đến chi đầu tư cao hơn (I) và

tăng tổng cầu (Y), nhờ giảm lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức

Trang 15

Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ được biểu diễn theo sơ đồ sau:

Nguồn:

http://www.oenb.at/en/geldp_volksw/geldpolitik/wirtschaft/how_does_monetary_polic y_impact_the_economy_.jsp

Kể từ khi C.A.Sim(1980) giới thiệu về ứng dụng của mô hình Tự hồi quy vectơ VAR trong kinh tế vĩ mô, đã có một sự bùng nỗ trong việc nghiên cứu về các cơ chế truyền dẫn tiền tệ, một số nghiên cứu thực nghiệm đã cố gắng xác định các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ khác nhau trên một số quốc gia

2.2 Các công trình nghiên cứu chứng minh kênh lãi suất hoạt động hiệu quả

Tại các nước phát triển ví dụ ở khu vực các nước đồng euro, SMETS và

Wouters (2002) tìm thấy rằng cú sốc chính sách tiền tệ thông qua các kênh lãi suất

ảnh hưởng đến sản lượng thực tế, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư Angeloni et al

(2003)sử dụng nhiều phương pháp phân tích thực nghiệm khác nhau, trong đó có mô

hình VAR để kiểm tra giả thuyết ban đầu rằng kênh lãi suất chiếm ưu thế trong chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến GDP và lạm phát Kết quả là tác giả cũng phát hiện kênh

Trang 16

lãi suất là kênh hoàn toàn chiếm ưu thế trong truyền dẫn ở một số nước khu vực đồng Euro, và là một kênh quan trọng trong hầu hết tất cả các nước đó.Cụ thể, kênh lãi suất

là kênh quan trọng ở nước Phần Lan và Thụy Điển, những nước còn lại như Ý, Pháp, Đức, Áo, Hà Lan thì kênh lãi suất vần chiếm ưu thế và còn có các kênh khác Trường hợp ở các nước các kênh lãi suất không chi phối, thì kênh cho vay ngân hàng hoặc

những kênh truyền dẫn tài chính khác sẽ hiện diện

Tại các nước đang phát triển và nền kinh tế mới nổi như là ở Thái Lan, sử dụng

mô hình VAR, Disyatat và Vongsinsirikul (2003), ở Thái Lan, đã phát hiện rằng

ngoài kênh lãi suấttruyền thống, các ngân hàng cũng đóng một vai trò quan trọng trong

cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ, trong khi tỷ giá hối đoái và các kênh giá tài sản

tương đối ít quan trọng hơn.Tại SriLanka, Amarasekara (2008),dựa trên mô hình

VAR dạng đệ qui và cấu trúc, nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng cúa lãi suất, tăng trưởng cung tiền và sự thay đổi tỷ giá đến tăng trưởng GDP thực và lạm phát trong giai đoạn 1978 đến 2005 Kết quả tìm thấy kênh lãi suất thì quan trọng trong truyền dẫn

chính sách tiền tệ Acosta-Ormaechea và Coble (2011) so sánh việc truyền dẫn chính

sách tiền tệ tại các nền kinh tế đô la hóa và không đô la hóa đã tìm thấy rằng kênh lãi suất truyền thống đóng vai trò quan trọng ở Chile và New Zealand trong khi kênh tỷ giá hối đoái đóng vai trò đáng kể trong việc kiểm soát áp lực lạm phát ở Peru và

Uruguay.Al-Mashat [2003] bằng cách sử dụng mô hình VECM cấu trúc cho giai đoạn

năm 1980: Q1 năm 2002: Q4 tại Ấn Độ đã phát hiện thấy kênh lãi suất và tỷ giá hối đoái là quan trọng trong việc truyền dẫn cú sốc chính sách tiền tệ đến các biến số kinh

tế vĩ mô chính Kênh cho vay của ngân hàng không phải là kênh quan trọng do sự hiện

diện của cho vay trực tiếp thuộc lĩnh vực ưu tiên Cũng tại Ấn Độ, Mohanty (2012) sử

dụng mô hình cấu trúc tự hồi quyvector (SVAR) theo quý giai đoạn từ 1996 Q1 đến

2011 Q4, cũng đã tìm thấy bằng chứng rằng lãi suất chính sách tăng có tác động nghịch biến đến tăng trưởng sản lượng với độ trễ là 2 quý và tác động làm giảm lạm phát với độ trễ là 3 quý Tác động tổng thể vẫn còn tồn tại suốt 8-10 quý Những kết quả này được tìm thấy trở nên vững hơn thông qua thay thế với các đo lường khác nhau của sản lượng, lạm phát và thanh khoản Hơn nữa, mối quan hệ nhân quả một chiều đáng kể đã được tìm thấy từ chính sách lãi suất đến lạm phát, sản lượng và các

Trang 17

đo lường khác nhau của thanh khoản ngoại trừ tiền (M3), nhấn mạnh tầm quan trọng của lãi suất như một công cụ chính sách tiền tệ mạnh

2.3 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến cơ chế truyền dẫn chính sách

tiền tệ và một số công trình nghiên cứu các kênh truyền dẫn khác

2.3.1 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến cơ chế truyền dẫn chính sách

tiền tệ

Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã cho thấy những bất cập trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua các kênh truyền thống Do vậy, trong suốt giai đoạn hậu khủng hoảng, một số nghiên cứu đã cố gắng để nắm bắt thêm chiều hướng của chính sách ngân hàng trung ương ở giai đoạn trung tâm cho truyền dẫn chính sách Trong khi những nghiên cứu trước cuộc khủng hoảng thường nghi ngờ về sức mạnh của kênh cho vay của ngân hàng, bằng chứng trong suốt cuộc khủng hoảng cho thấy, đặc điểm cụ thể của ngân hàng, đổi mới tài chính, mô hình kinh doanh có thể có những tác động đến cung tín dụng và độ trơn của truyền dẫn chính sách tiền tệ Vì vậy, cuộc khủng hoảng gần đây rõ ràng đã nhấn mạnh vai trò của các ngân hàng như là một nguồn tiềm năng của những hạn chế trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ

Cecchetti và các cộng sự (2009) nhấn mạnh rằng những tác động gỡ rối của các

kênh khác nhau trong giai đoạn khủng hoảng là khó khăn Họ chỉ ra rằng cuộc khủng hoảng, trên thực tế, đã phơi bày ra sự không thích đáng của các mô hình mà không thể kiểm tra (i) vai trò của yếu tố tài chính trong quá trình truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua các kênh khác nhau và (ii) làm thế nào rối loạn tài chính có thể được khuếch

đại và lan sang nền kinh tế thực Walsh (2009) lập luận rằng những rào cản tài chính,

mặc dù không phải là một phần của mô hình đồng thuận của chính sách tiền tệ, ảnh hưởng đến cả quá trình truyền dẫn chính sách tiền tệ và tạo ra sự bóp méo trong nền

kinh tế thực Đối với khu vực đồng euro, ECB (2010) tìm thấy trong suốt khủng hoảng

tài chính gần đây, các biện pháp chính sách tiền tệ phi tiêu chuẩn được thực hiện để giữ cho hoạt động truyền dẫn qua kênh lãi suất được chứng minh là có hiệu quả

Trichet (2011) nhấn mạnh rằng mặc dù các biện pháp phi tiêu chuẩn đã giúp khôi

phục lại việc truyền dẫn chính sách tiền tệ trong cuộc khủng hoảng, chúng cần phải được tiếp tục độc lập từ một các biện pháp tiêu chuẩn

Trang 18

Taylor và Williams (2010) quan niệm rằng mặc dù quy định lãi suất đơn giản đã

họat động tốt trong truyền tải chính sách tiền tệ, tiếp tục nghiên cứu là cần thiết mà kết hợp tập hợp rộng lớn của các mô hình và môi trường kinh tế, các liên kết đặc biệt của chính sách tiền tệ quốc tế Nhận thức được sử dụng quy mô lớn của các biện pháp chính sách tiền tệ không theo quy ước thông qua nới lỏng định lượng trong cuộc khủng

hoảng gần đây, Curdia và Woodford (2010) mở rộng mô hình cơ bản New

Keynesian của cơ chế lan truyền chính sách tiền tệ một cách rõ ràng bao gồm bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương Làm nổi bật vai trò của các trung gian tài chính

trong truyền dẫn chính sách tiền tệ, Bean và các cộng sự (2010) đã nhấn mạnh rằng

vai trò của chính sách tiền tệ, trong thời gian cuộc khủng hoảng thông qua các kênh chính sách tiền tệ thông thường nhưng thêm từ „risk taking chanel‟

Bernanke (2011) và Yellen (2011) lập luận rằng các kênh truyền thông qua đó

chính sách tiền tệ không theo quy ước và theo quy ước ảnh hưởng đến điều kiện kinh

tế khá giống nhau Tuy nhiên, Yellen (2011)nhấn mạnh tầm quan trọng của kênh cân bằng danh mục đầu tư 'vàkênh kỳ vọng trong cuộc khủng hoảng Phân tích tác động của việc nới lỏng định lượng được thông qua trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn

cầu gần đây đối với nền kinh tế Anh, Joyce và các cộng sự (2011) đã nêu bật tầm

quan trọng của các kênh truyền dẫn khác nhau, đặc biệt là giá tài sản đã được dự kiến

sẽ có tác độngđến sản lượng và lạm phát

Trong ngắn hạn, cuộc khủng hoảng đã nhấn mạnh hai khía cạnh quan trọng của truyền dẫn chính sách tiền tệ Trước tiên, do thông tin bất đối xứng và không hiệu quả khác trên thị trường tài chính, các kênh thông thường của truyền dẫn chính sách tiền tệ

có thể không phải lúc nào cũng làm việc hiệu quả Trong phạm vi này, một số nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự ổn định của trung gian tài chính để tạo điều kiện cho dẫn truyền chính sách dễ dàng Thứ hai, khi kênh lãi suất truyền thống của cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ bị phá vỡ sau khi lãi suất chính sách đạt mức không

bị ràng buộc trong cuộc khủng hoảng, vai trò của các biện pháp chính sách không theo quy ước đã trở nên nổi bật hơn mà hoạt động chủ yếu là thông qua kênh giá tài sản và

kỳ vọng

Trang 19

2.3.2 Một vài nghiên cứu ủng hộ các kênh truyền dẫn khác ngoài kênh lãi suất

Đối với Philippines, Bayangos (2010) phát hiện thấy kênh tín dụng trong truyền dẫn chính sách tiền tệ là quan trọng Ncube và Ndou (2011) cho thấy rằng chính sách

tiền tệ thắt chặt ở Nam Phi có thể làm giảm áp lực lạm phát thông qua sự giàu có của

hộ gia đình và kênh tín dụng

Mặt khác, một số nghiên cứuđã lập luận rằng truyền dẫn chính sách tiền tệ thì yếu trong EMES và các nước có thu nhập thấp Xem xét lại truyền dẫn chính sách tiền

tệ ở các nước có thu nhập thấp, Mishra et al (2010) thấy rằng cơ chế của các định chế

yếu làm suy giảmhiệu quả của kênh truyền truyền thống như là lãi suất, cho vay của ngân hàng, và giá tài sản Tương tự như vậy, đối với một nhóm các EMEs, Bhattacharya và các cộng sự(2011) lập luận rằng sự yếu kém trong hệ thống tài chính trong nước và sự hiện diện của khu vực phi chính thức lớn và phân khúc dẫn đến truyền dẫn chính sách tiền tệ không hiệu quả Dựa trên mô hình VECM, họ cho rằng

cơ chế hiệu quả của chính sách tiền tệ tác động tới lạm phát thông qua các kênh tỷ giá hối đoái, trong khi lãi suất không ảnh hưởng đến tổng cầu

Tại Ấn Độ,Aleem (2010) nghiên cứu kênh tín dụng, kênh giá tài sản và kênh tỷ

giá của truyền dẫn chính sách tiền tệ bằng cách sử dụng các mô hình VAR cho giai đoạn năm 1996: Quý 4 đến năm 2007 :Quý 4 tìm thấy kênh tín dụng là kênh lan

truyền tiền tệ quan trọng ở Ấn Độ.Bhaumik et al (2010) nhấn mạnh tầm quan trọng

của sở hữu ngân hàng trong truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua các kênh tín dụng

2.4 Một số bài nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay mang đầy đủ tính chất của một nền kinh tế đang phát triển điển hình, theo Khan (1990) Chính sách tiền tệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc điều hành của chính phủ Đã có một số các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam Nội dung chủ yếu của các bài nghiên cứu này nhằm đánh giá tầm quan trọng của những công cụ chính sách tiền tệ như lãi suất, cung tiền, tỷ giá và tín dụng

Lê Việt Hùng (2005) sử dụng mô hình Tự hồi quy Vectơ tiêu chuẩn để phân tích

cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 1996-2005 Kết quả phản

Trang 20

ứng đẩy và phân rã phương sai của mô hình chỉ ra rằng có mối liên hệ mạnh mẽ giữa cung tiền và sản lượng thực ở Việt Nam Tuy nhiên, mối liên hệ giữa cung tiền và lạm phát lại khá yếu

Một nghiên cứu thực hiện bởi IMF (2006) sử dụng số liệu theo quý từ năm

2001 đến 2006 để tìm các yếu tố chính tác động đến lạm phát tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy cung tiền, lạm phát kỳ vọng và mức chênh lệch sản lượng tiềm năng có vai trò quan trọng tác động đến lạm phát tại Việt Nam, trong khi cú sốc giá dầu và tỷ giá hối đoái chỉ có một vai trò không đáng kể đối với lạm phát Tuy nhiên,

do dữ liệu nghiên cứu chỉ trong một khoảng thời gian ngắn nên câu hỏi về độ chính xác của kết quả mô hình được đặt ra

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) sử dụng

mô hình VECM để phân tích mối quan hệ giữa 12 biến: CPI, sản lượng sản xuất công nghiệp, cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, lãi suất, chỉ số giá sản xuất PPI, thâm hụt ngân sách tích lũy, tổng giá trị giao dịch của thị trường chứng khoán, chỉ số giá nhập khẩu, giá dầu thế giới và giá gạo thế giới từ năm 2000 – 2010 Kết quả của nghiên cứu cho thấy:

(1) Quán tính lạm phát của Việt Nam là cao và là một nhân tố quan trọng quyết định lạm phát của Việt Nam trong hiện tại;

(2) Tốc độ điều chỉnh là rất thấp trên cả thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, hàm ý kiểm soát lạm phát một cách có hiệu quả là rất khó một khi nó đã bắt đầu tăng lên;

(3) Mức truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát là đáng kể trong ngắn hạn với việc phá giá dẫn đến giá cả tăng lên trong khi thâm hụt ngân sách cộng dồn không có ảnh hưởng nhiều đến lạm phát;

(4) Cung tiền và lãi suất có tác động đến lạm phát nhưng với độ trễ nhất định; (5) Mức truyền dẫn trong ngắn hạn của giá quốc tế đến giá nội địa cũng có vai trò nhất định

Nguyễn Phi Lân (2010) sử dụng chuỗi dữ liệu từ tháng 1/1998 đến tháng

12/2009 và mô hình Tự hồi quy Vectơ cấu trúc SVAR để phân tích định lượng cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ Việt Nam Kết luận của tác giả cho thấy:

Trang 21

(1) Thứ nhất, “cung tiền M2 có xu hướng tác động tích cực tới tăng trửởng kinh tế” Quan điểm này trùng khớp với kết luận của Lê Việt Hùng (2005) Tuy nhiên, “…mức độ tác động của cung tiền M2 tới khu vực sản xuất công nghiệp còn chưa lớn, mặc dù cung tiền M2 và tín dụng đã tăng trong một thời gian từ sau khủng hoảng tài chính 1997, điều này có thể do một phần tín dụng ngân hàng đã không được một số tổ chức kinh tế và dân cư sử dụng đúng mục đích sản xuất kinh doanh mà thay vào đó là đầu tư vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như chứng khoán, hay bất động sản”

(2) Thứ hai, kết quả cũng cho thấy sự biến động của tỷ giá phụ thuộc rất lớn vào công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ lãi suất và lượng tiền cung ứng ra lưu thông, các nhân tố bên ngoài nền kinh tế cũng tác động tới

sự biến động của tỷ giá nhưng không quá lớn;

(3) Thứ ba, khu vực tiền tệ - ngân hàng trong nước tương đối nhạy cảm và chịu tác động rất lớn bởi các cú shock bên ngoài nền kinh tế, đặc biệt là sự biến động của giá cả hàng hóa thế giới và dấu hiệu suy thoái hay phục hồi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Hoa Kỳ nói riêng cũng như các động thái điều hành chính sách tiền tệ của FED;

(4) Thứ tư, việc thay đổi lãi suất VND trên thị trường tiền tệ thông qua sử dụng các công cụ tiền tệ như OMO hay tái cấp vốn sẽ mất thời gian khoảng là 3 - 5

tháng để có hiệu lực Việc đồng VND bị mất giá cũng khiến lãi suất VND trên

thị trường tiền tệ giảm xuống nhưng sẽ mất khoảng thời gian từ 5 đến 10 tháng;

2.5 Kết luận phần 2

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu sử dụng mô hình Tự hồi quy Vectơ VAR phân tích định lượng về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệvà các kênh truyền dẫn tiền tệ hoạt động tại các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Các bài nghiên cứu hầu hết đều thống nhất rằng: các kênh truyền dẫn tiền tệ chủ yếu là lãi suất, tỷ giá, tín dụng, cung tiền và giá cả tài sản Các nghiên cứu về chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế đang phát triển đã cho thấy những nét chung nhất về đặc tính của các nền kinh tế này, cũng như các công cụ chính sách được sử dụng Tuy nhiên, đi vào cụ thể, đã có những kết luận khác biệt về các cơ chế truyền dẫn cũng như

Trang 22

tầm quan trọng của chúng đối với việc điều hành chính sách tiền tệ ở mỗi nền kinh tế riêng rẽ

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay có độ mở khá lớn và mang đầy đủ tính chất của một nền kinh tế đang phát triển Những nghiên cứu trước đây về cơ chế dẫn truyền tiền

tệ ở Việt Nam đều đưa đến kết luận chung về mối liên hệ mạnh mẽ giữa biến động tỷ giá, cung tiền đến lạm phát, chỉ số giá và sản lượng thực Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của bài viết tập trung phân tích định lượng hiệu quả của kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo quý trong giai đoạn từ Quý 1 năm 2000 đến Quý 3 năm 2012 Dữ liệu gồm 6 biến sau đây:

(1) GDP: tổng sản phẩm quốc dân (tỷ VND) Nguồn dữ liệu: Thống kê các chỉ tiêu

tài chính quốc tế của Quỹ tiền tệ thế giới (IFS-IMF)

(2) CPI: chỉ số giá tiêu dùng (năm gốc 2005) Nguồn dữ liệu: Thống kê các chỉ tiêu

tài chính quốc tế của Quỹ tiền tệ thế giới (IFS-IMF)

(3) M2: cung tiền rộng M2 (tỷ VND) Nguồn dữ liệu: Thống kê các chỉ tiêu tài

chính quốc tế của Quỹ tiền tệ thế giới (IFS-IMF)

Định nghĩa biến M2: M2 được xác định bằng M1 cộng tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết

kiệm, và các khoản thay thế tiền gửi do các cá nhân và tổ chức không phải là tổ chức tín dụng nắm giữ bằng đồng và bằng ngoại tệ Trong đó M1 được xác định bằng tiền lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi không kỳ hạn bằng đồng của cá nhân

và tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

(4) LSCB: lãi suất cơ bản (%) Nguồn: Website của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Định nghĩa biến LSCB: Theo luật Ngân hàng nhà nước năm 2010, lãi suất cơ bản là

một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn Lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ

Trang 23

thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung - cầu vốn

(5) LSTCV: Lãi suất tái cấp vốn (%) Nguồn: Website của Ngân hàng nhà nước

Việt Nam

Định nghĩa biến LSTCV: Theo luật Ngân hàng nhà nước năm 2010, lãi suất tái cấp vốn

là lãi suất được Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng.Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng.Ngân hàng Nhà nước quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức là cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá và Chiết khấu giấy tờ có giá

3.2 Mô hình nghiên cứu: SVAR- mô hình tự hồi quy vector cấu trúc

3.2.1 Lý do chọn mô hình

Mô hình tự hồi quy vector cấu trúc (SVAR) đã được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá hiệu quả của truyền dẫn chính sách tiền tệ ở một vài quốc gia Mô hình này

có ưu điểm lớn là xét đến tác động đồng thời giữa các biến công cụ chính sách tiền tệ

và các biến số kinh tế vĩ mô có liên quan Khác với mô hình VAR truyền thống, mô hình SVAR có kể đến phương pháp phân tách sự trực giao của các cú sốc (ma trận phương sai – hiệp phương sai của các sai số hồi quy) bằng phương pháp phân tách Cholesky hoặc dùng lý thuyết kinh tế, do đó dùng SVAR có thể giải thích một cách

trực tiếp tác động của lãi suất chính sách cũng như biến vĩ mô khác đến CPI và GDP

Dựa theo bài nghiên cứu“Evidence of Interest Rate Channel of Monetary Policy Transmission in India” của Deepak Mohanty, 2012, tôi sử dụng mô hình SVARđể tiến

hành ước lượng trực tiếp độ lớn truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012, điều này có thể được xem là điểm nổi bật của bài nghiên cứu nhờ những ưu điểm nổi bật của mô hình SVAR so với mô hình VAR truyền thống

mà nhiều bài nghiên cứu trước đây sử dụng Sau đây tôi sẽ giới thiệu cụ thể về mô hình SVAR, và trình bày phương pháp ước lượng

3.2.2 Ý tưởng hình thành mô hình SVAR

Mô hình Tự hồi quy vector của Chrishtopher A Sim là một trong những mô hình phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng các chính sách tiền tệ được nêu ra lần

Trang 24

đầu vào năm 1980 trong “Macroeconomics and Reality, Economictrica” Bởi vì mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không đơn thuần chỉ theo một chiều, biến độc lập ảnh hưởng lên biến phụ thuộc mà trong nhiều trường hợp nó còn có ảnh hưởng ngược lại

Ví dụ: Khi chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng hay thắt chặt chính sách tiền tệ

bằng cách tác động vào cung tiền M2, điều này sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát Giả

sử khi M2 tăng lên đến một mức nào đó sẽ làm cho lạm phát tăng lên Và khi lạm phát gia tăng quá mức thì cũng là dấu hiệu để chính phủ điều chỉnh lượng cung tiền M2 Vì thế phải xem xét ảnh hưởng qua lại giữa các biến cùng một lúc là điều cần thiết, do đó

mô hình kinh tế lượng mà ta phải xét đến không phải là mô hình một phương trình mà

là mô hình nhiều phương trình

Tuy nhiên, để ước lượng được mô hình nhiều phương trình cần dựa vào nhiều giả định, trong đó có giả định then chốt là một số biến được xác định trước chỉ có mặt trong một số phương trình, tức là tồn tại các biến ngoại sinh Giả định này đã bị Sim chỉ trích, theo ông các yếu tố vĩ mô luôn tác động qua lẫn nhau và nếu tồn tại mối quan

hệ đồng thời giữa một số biến thì các biến này phải được xét có vai trò như nhau, không có lý do gì để quy định đâu là biến ngoại sinh, đâu là biến nội sinh, tức là tất cả các biến xét đến đều là biến nội sinh (biến mà giá trị được xác định bởi mô hình, là biến ngẫu nhiên) Dựa trên quan điểm đó Sims đã xây dựng mô hình tự hồi quy vector VAR Thuật ngữ mô hình VAR ở đây bao gồm các phiên bản của nó là VAR truyền thống và VAR cấu trúc (SVAR)

3.2.3 Lý thuyết mô hình SVAR

Mô hình VAR cấu trúc là một hệ thống các phương trình tuyến tính của các biến nội sinh, trong đó, giá trị của mỗi biến ở hiện tại sẽ phụ thuộc độ trễ của chính nó, các biến nội sinh khác Những kết quả xuất ra từ mô hình SVAR yêu cầu thêm việc xác định giả định rằng động lực tác động vào phản ứng của mô hìnhphải dựa trên kiến thức

về lý thuyết kinh tế, hoặc các hạn chế không liênquan khác Chỉ sau khi phân tách sai

số ước tính thành những cú sốc cấu trúc mà không tương quan lẫn nhau và cógiải thích

về mặt kinh tế, thì mới đánh giá tác động nhân quả của những cú sốc vào những biến của mô hình

Trang 25

Hãy xem xét một chuỗi thời gian Kchiều, yt,t = 1, 2,….T ytcó thể được xem như gần giống vớitự hồi quy vecto hữu hạn bậc 'p' Mục tiêu của chúng ta là tìm hiểu về các thông số của mô hình SVAR Mô hình SVAR được biểu diễn dưới dạng sau:

B0 yt = B1 yt-1 + …… + Bp y t-p + ɛ t (1)

trong đó,ɛ t có trung bình bằng 0 và sai số hồi quy từng kỳ không tương quan lẫn nhau, hay còn gọi là thay đổi cơ cấu hoặc cú sốc cấu trúc Thuật ngữ sai số hồi quy được giả định là có phương sai không đổi vô điều kiện, trừ khi có ghi chú khác Mô hình (1) có thể được viết gọn là:

B(L) yt = ɛ t

trong đó, B(L) = B0 – B1L – B2L2 -… – Bp.Lplà đa thức tự hồi quy theo độ trễ Ma trận phương sai-hiệp phương sai của sai số hồi quy cấu trúc thường được giản lược như sau:

mô hình SVAR đơn giản với hai biến và hai trễ, mô hình được trình bày dưới dạng phương trình:

(*)

(**)

Trong hệ phương trình đồng thời - hệ gồm phương trình (*) và (**) của mô hình VAR cấu trúc ở trên do cơ chế liên hệ ngược nên chúng ta thấy rằng có sự tương quan

Trang 26

giữa các thành phần sai số với một hay nhiều biến nội sinh, điều này đã vi phạm giả thiết của định lý Gauss-Markov, chính vì thế trong trường hợp này các thành phần không thể quan sát được là một biến nội sinh chứ không phải là một biến ngoại sinh nên chúng ta không thể sử dụng phương pháp OLS để ước lượng mô hình VAR cấu trúc này Vì vậy, chúng ta cần biến đổi mô hình SVAR về dạng mô hình VAR rút gọn (reduce form VAR)

Để nhận đượcdạng rút gọn, hai vế (1) của dạng SVAR được nhân với B-1:

Như vậy, mô hình có thể được trình bày như sau:

Như vậy qua phần trình bày ở trên chúng ta thấy VAR truyền thống và dạng rút gọn của SVAR là một và có thể ước lượng được các thông số của VAR rút gọn, nhưng

số thông số cần ước tính trong mô hình SVAR lớn hơn số thông số ước tính được từ VAR rút gọn Ví dụ, đối với trường hợp SVAR hai biến và hai trễ nêu ở trên, mô hình VAR rút gọn ta chỉ ước tính được 9 thông số (= 6 hệ số ước tính + 2 phương sai ước tính + 1 Covar ước tính) trong khi đó, chúng ta cần phải khôi phục lại ước tính 10 thông số mô hình SVAR (= 8 tham số + 2 phương sai) Như vậy, mô hình VAR dạng cấu trúc không định dạng được Trong khi đó, chúng ta đang cần phân tích tác động của chính sách hay các loại shock khác nhau vào từng biến số kinh tế, cụ thể ở đây là

Ngày đăng: 01/04/2014, 01:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ được biểu diễn theo sơ đồ sau: - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ được biểu diễn theo sơ đồ sau: (Trang 15)
Bảng 4.1. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi gốc  Biến  t-statistic ADF - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Bảng 4.1. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi gốc Biến t-statistic ADF (Trang 33)
Hình  SVAR rút - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
nh SVAR rút (Trang 33)
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi đã lấy sai phân - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị trên chuỗi đã lấy sai phân (Trang 34)
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng mô hình SVAR dạng rút gọn - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng mô hình SVAR dạng rút gọn (Trang 36)
Bảng 4.3 Kết quả chọn độ trễ của mô hình SVAR dạng rút gọn - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Bảng 4.3 Kết quả chọn độ trễ của mô hình SVAR dạng rút gọn (Trang 36)
Hình 4.3 Phản ứng của CPI trước sự thay đổi lãi suất cơ bản - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 4.3 Phản ứng của CPI trước sự thay đổi lãi suất cơ bản (Trang 40)
Hình 4.4 LSCB phản ứng trước sự thay đổi CPI - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 4.4 LSCB phản ứng trước sự thay đổi CPI (Trang 41)
Hình 4.5 Phản ứng của GDP và CPI trước sự biến đổi của cung tiền M2 - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 4.5 Phản ứng của GDP và CPI trước sự biến đổi của cung tiền M2 (Trang 42)
Hình 4.6 Phản ứng của tăng trưởng GDP và CPI trước thay đổi lãi suất tái cấp vốn - Nghiên cứu thực nghiệm về kênh lãi suất trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Hình 4.6 Phản ứng của tăng trưởng GDP và CPI trước thay đổi lãi suất tái cấp vốn (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w