Tình trạng bị can, bị cáo là người chưa thành niên tìm mọi cách trốn tránh việc xử lí của pháp luật hoặc cơ quan tố tụng không biết họ đang ở đâu ngoài việc gây khó khăn cho điều tra, tr
Trang 1
ruy nã bị can, bị cáo là hoạt động truy
tìm, bắt giữ người bị khởi tố về hình sự
hoặc người đã bị tòa án có quyết định đưa ra
xét xử bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu,
để các cơ quan tố tụng xử lí theo pháp luật
Hoạt động này đã được Bộ luật tố tụng hình
sự (BLTTHS) quy định bởi một số điều luật,
mục đích nhằm giải quyết triệt để tình trạng
bị can, bị cáo sống ngoài vòng pháp luật,
không được đưa ra xử lí bằng quyết định của
cơ quan tố tụng (đình chỉ) hoặc không được
đưa ra toà án để xét xử bằng bản án có hiệu
lực pháp luật Tình trạng bị can, bị cáo là
người chưa thành niên tìm mọi cách trốn
tránh việc xử lí của pháp luật hoặc cơ quan
tố tụng không biết họ đang ở đâu ngoài việc
gây khó khăn cho điều tra, truy tố, xét xử
còn có những hậu quả khác Do họ là những
người chưa phát triển đầy đủ về trí lực, thể
lực, tinh thần nên khi sống trong môi trường
“ngoài vòng pháp luật”, càng dễ bị tiêm
nhiễm những thói hư tật xấu, dễ tiếp tục thực
hiện hành vi phạm tội Vì vậy, việc truy nã
bị can, bị cáo là người chưa thành niên cũng
là hoạt động cần thiết, đáp ứng yêu cầu đấu
tranh phòng ngừa tội phạm ở những đối
tượng đặc biệt này
Khi đi sâu tìm hiểu những quy định của
BLTTHS về truy nã bị can, bị cáo chúng tôi
thấy có những vấn đề bất cập, dẫn đến
vướng mắc cho hoạt động thực tiễn Cụ thể
có những vướng mắc, bất cập như sau:
1 BLTTHS quy định về truy nã bị can nhưng không có điều luật nào quy định việc truy nã bị cáo Điều 161 BLTTHS quy định căn cứ truy nã bị can gồm 2 căn cứ là bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu, quy định những thủ tục cần phải có trong việc truy nã bị can và hình thức thông báo quyết định truy nã bị can Như vậy, BLTTHS chỉ điều chỉnh đối tượng bị truy nã là bị can trong giai đoạn điều tra hoặc trong giai đoạn truy tố (Điều 169 BLTTHS) Theo quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 169 BLTTHS trong giai đoạn truy tố, viện kiểm sát cũng có quyền tạm đình chỉ khi không biết bị can đang ở đâu và yêu cầu cơ quan điều tra ra lệnh truy nã bị can Trong trường hợp này, cơ quan điều tra áp dụng Điều 161 BLTTHS để truy nã bị can là đúng luật Tuy nhiên, điểm b khoản 2 Điều
169 quy định căn cứ yêu cầu cơ quan điều
tra truy nã “khi bị can bỏ trốn mà không biết
rõ bị can đang ở đâu” là không rõ ràng Đã trốn thì làm sao biết được bị can đang ở đâu, liên từ “mà” đã làm cho cụm từ “không biết
rõ bị can đang ở đâu” trở nên thừa, tối nghĩa
Vì vậy, theo chúng tôi, cần phải thay từ
“mà” bằng từ “hoặc” Việc sửa đổi như vậy
T
* Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang
Trang 2là thống nhất với những quy định về truy nã,
tạm đình chỉ khác như các điều 160, 161
BLTTHS Điểm b khoản 2 Điều 169 BLTTHS
được hiểu là viện kiểm sát yêu cầu cơ quan
điều tra truy nã bị can khi có một trong hai
căn cứ để yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị
can: Một là bị can trốn, hai là không biết rõ
bị can đang ở đâu
Còn đối với bị cáo là người đã bị toà án
quyết định đưa ra xét xử, Điều 187 BLTTHS
quy định: “Nếu bị cáo trốn tránh thì Hội
đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu cơ
quan điều tra truy nã bị cáo” nhưng
BLTTHS chưa có điều luật quy định về việc
cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị cáo
phải được tiến hành như thế nào Với quy
định này thì khi toà án tạm đình chỉ vụ án do
bị cáo trốn vẫn thuộc thẩm quyền trách
nhiệm thụ lí giải quyết của toà án, toà án
không trả hồ sơ cho viện kiểm sát Hội đồng
xét xử chỉ có văn bản yêu cầu cơ quan điều
tra truy nã bị cáo Điều đó có nghĩa là bị cáo
vẫn là tư cách bị cáo mà không trở lại thành
bị can để áp dụng theo Điều 161 BLTTHS
để thực hiện việc truy nã bị can Vậy truy nã
bị cáo rõ ràng không có điều luật nào điều
chỉnh Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã
ghi là truy nã bị can chứ không ghi truy nã bị
cáo trong trường hợp này
Trên thực tiễn, nếu hội đồng xét xử yêu
cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo thì
thường cơ quan điều tra áp dụng tương tự
như trường hợp truy nã bị can, coi Điều 161
BLTTHS về truy nã bị can là chuẩn mực
pháp lí để truy nã bị cáo với lí do tương tự
Khi truy nã bị cáo, cơ quan điều tra ghi căn
cứ trong quyết định truy nã là Điều 161
BLTTHS như đã phân tích ở trên BLTTHS hiện hành không quy định áp dụng tương tự trong trường hợp truy nã bị cáo, vì vậy khi
cơ quan điều tra nhận được yêu cầu truy nã của hội đồng xét xử đối với bị cáo bỏ trốn thì
cơ quan điều tra không thể căn cứ vào Điều
161 BLTTHS để truy nã bị cáo được, vì Điều 161 BLHS chỉ điều chỉnh việc truy nã
bị can mà thôi Giả sử cơ quan điều tra không căn cứ vào Điều 161 để truy nã bị cáo
mà căn cứ vào đoạn 3 khoản 1 Điều 187 BLTTHS để truy nã bị cáo thì cũng không
ổn Bởi vì, đoạn 3 khoản 1 Điều 187 BLTTHS chỉ nói về lí do của việc hội đồng xét xử yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo Trong khi đó việc truy nã bị cáo ngoài việc xác định căn cứ truy nã còn phải quy định trình tự, thủ tục, nội dung của việc truy
nã, để thể hiện tính đặc thù của việc truy nã
bị cáo Những yêu cầu đó không có điều luật nào quy định Nếu việc truy nã bị cáo được tiến hành giống như việc truy nã bị can thì trong quy định tại Điều 187 BLTTHS cần phải dẫn chiếu Điều 161 BLTTHS để làm căn cứ cho việc áp dụng tương tự Điều 161 BLTTHS trong việc truy nã bị cáo và lúc đó
cơ quan điều tra có căn cứ ghi trong quyết định truy nã theo yêu cầu của hội đồng xét
xử là truy nã bị cáo
Để giải quyết bất cập này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành
số 03/TTLN ngày 07/01/1995 hướng dẫn thực hiện một số quy định về truy tố bị can,
bị cáo trong giai đoạn truy tố và xét xử, theo
đó việc truy nã bị cáo được tiến hành theo quy định của BLTTHS về truy nã bị can
Trang 3Theo chúng tôi, Thông tư này đáp ứng yêu
cầu của BLTTHS năm 1988, tuy nhiên cần
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định
của BLTTHS năm 2003 và nên pháp điển
hóa vào BLTTHS bằng việc bổ sung đoạn 3
khoản 2 Điều 187 BLTTHS 2003: “Nếu bị
cáo trốn tránh thì hội đồng xét xử tạm đình
chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan điều tra truy nã
bị cáo Việc thực hiện truy nã bị cáo được áp
dụng theo Điều 161 BLTTHS”
2 Truy nã bị can gồm hai căn cứ: Căn cứ
thứ nhất là bị can trốn tránh và căn cứ thứ
hai là không biết bị can đang ở đâu Hai căn
cứ truy nã bị can này rất khó phân biệt và có
những cách hiểu khác nhau Đối với căn cứ
bị can trốn, điều luật không nói rõ bị can
trốn lúc nào, do vậy có ý kiến cho rằng việc
bỏ trốn có thể xảy ra ngay khi gây án, sau
khi bị khởi tố hoặc có quyết định áp dụng
biện pháp ngăn chặn, bỏ trốn sau khi được
trả tự do, thay đổi biện pháp ngăn chặn, bỏ
trốn trong khi đang bị tạm giữ, tạm giam, bỏ
trốn sau khi đã có quyết định xử lí của cơ
quan tiến hành tố tụng (như kết luận điều tra
đề nghị truy tố, quyết định truy tố, quyết
định đưa vụ án ra xét xử ) Còn căn cứ
không biết bị can đang ở đâu được hiểu là
sau khi xác định được đối tượng gây án, cơ
quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can
hoặc ra quyết định bắt nhưng không xác định
được bị can đang ở đâu để thực hiện quyết
định bắt, tống đạt quyết định khởi tố hoặc để
tiến hành những hoạt động điều tra cần thiết,
mặc dù bị can không bỏ trốn
Có ý kiến khác lại cho rằng hai căn cứ
truy nã bị can phải bắt đầu từ khi có quyết
định khởi tố bị can, vì lúc đó họ mới chính thức là bị can còn truy nã bị cáo thì phải xác định từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét
xử, vì lúc đó họ mới chính thức là bị cáo Như vậy, hai căn cứ nêu trên có nhiều cách giải thích khác nhau và thường rất khó phân biệt Cơ quan điều tra thường áp dụng căn cứ xác định bị can trốn tránh, còn căn cứ không biết bị can đang ở đâu hầu như rất ít được áp dụng Việc trốn tránh của bị can rất tinh vi,
có thể họ làm như là người không có dấu hiệu gì là bỏ trốn Do vậy, Điều 161 BLTTHS về truy nã bị can thiết nghĩ cần có tiêu chí đặc trưng để phân biệt hai căn cứ này (có thể thông qua văn bản dưới luật) Điều này không chỉ có ý nghĩa trong phạm
vi áp dụng chế định truy nã mà nó còn có ý nghĩa để xác định đúng căn cứ truy nã bị cáo (vì theo Điều 187 BLTTHS, việc hội đồng xét xử yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo chỉ dựa trên một căn cứ duy nhất là “bị cáo trốn tránh” chứ không có căn cứ “không biết bị cáo đang ở đâu”) Ngoài ra, còn có ý nghĩa trong việc xác định chính xác căn cứ tạm đình chỉ điều tra vì việc phân biệt hai căn cứ truy nã bị can tại đoạn 4 khoản 1 Điều 160 BLTTHS quy định tạm đình chỉ và
ra quyết định truy nã chỉ trên một căn cứ duy nhất là “nếu không biết bị can đang ở đâu” chứ không có căn cứ “ bị can đang bỏ trốn”
3 Việc truy nã bị can là người chưa thành niên, BLTTHS không có quy định phân biệt đối với họ Điều đó có nghĩa là bất
kì bị can nào trốn hoặc không biết đang ở đâu thì cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã và đây là quy định bắt buộc Việc
Trang 4truy nã bị can không phân biệt bị can đó đã
thành niên hay chưa, không phân biệt họ
phạm vào loại tội nào (ít nghiêm trọng,
nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng) Chương XXXII BLTTHS
quy định về thủ tục đặc biệt đối với người
chưa thành niên cũng không có điều luật nào
trực tiếp xác định không được truy nã bị can
là người chưa thành niên Theo Điều 301
BLTTHS quy định phạm vi áp dụng thủ tục
đặc biệt đối với người chưa thành niên thì rõ
ràng được phép truy nã bị can là người chưa
thành niên theo Điều 161 BLTTHS, vì điều
này không trái với những quy định của
Chương XXXII
Vấn đề bất cập ở đây là khi ra quyết định
truy nã bị can là người chưa thành niên thì
có được bắt, tạm giữ, tạm giam họ hay
không? Nếu không được phép bắt, tạm giữ,
tạm giam bị can là người chưa thành niên thì
việc truy nã bị can là người chưa thành niên
có còn ý nghĩa gì? Để làm rõ bất cập của luật
về vấn đề này, chúng tôi sẽ nêu ra những quy
định xung đột gây khó khăn cho thực tiễn áp
dụng như sau:
Tại khoản 2 Điều 83 BLTTHS quy định
những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc
nhận người bị bắt theo quyết định truy nã
Theo quy định này thì việc bắt bị can có
quyết định truy nã là đương nhiên, cho dù họ
là người chưa thành niên Trong trường hợp
cơ quan ra quyết định truy nã không thể đến
nhận người bị bắt thì cơ quan bắt có quyền
tạm giữ để thông báo cho cơ quan ra quyết
định truy nã biết Quy định này xác định
được phép bắt bị can là người chưa thành
niên khi họ bị truy nã, không phân biệt họ phạm vào loại tội nào
Theo Điều 86 BLTTHS quy định về tạm giữ thì bị can là người chưa thành niên bị bắt theo lệnh truy nã phải bị áp dụng biện pháp tạm giữ và các thủ tục gia hạn tạm giữ như các trường hợp khác và cũng không phân biệt họ phạm vào loại tội nào
Theo khoản 2 Điều 83 và điểm a khoản 2 Điều 88 BLTTHS, bị can là người chưa thành niên khi bị bắt theo quyết định truy nã phải bị áp dụng biện pháp tạm giam và khi
áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp này, luật cũng không phân biệt họ phạm vào loại tội nào (giống như biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ đối với người bị bắt truy
nã nêu trên)
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 303 BLTTHS thì việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên được quy định thành các trường hợp căn cứ vào độ tuổi, lỗi và loại tội mà họ thực hiện Có nghĩa là người chưa thành niên có thể bị bắt tạm giữ, tạm giam khi có đủ căn cứ quy định tại Điều 80, 81, 82, 88, 120 BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đối với bị can là người chưa thành niên
từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đối với người chưa thành niên
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Qua phân tích trên, rõ ràng việc truy nã
là quy định bắt buộc đối với mọi bị can khi
có một trong hai căn cứ trốn hoặc không
Trang 5biết đang ở đâu, không phân biệt bị can là
người chưa thành niên hay đã thành niên
cũng như loại tội họ thực hiện nhưng theo
quy định tại Điều 303 BLTTHS thì chỉ
trong những điều kiện nhất định mới được
bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành
niên (ràng buộc về loại tội) và điều này đã
gián tiếp xác định: Khi bị can là người chưa
thành niên trốn hoặc không biết đang ở đâu
sẽ không bị truy nã trong mọi trường hợp
mà chỉ trong những trường hợp mà luật quy
định được phép áp dụng biện pháp bắt, tạm
giữ, tạm giam đối với họ
Trong thực tiễn, để đấu tranh xử lí tội
phạm triệt để, tránh tình trạng người thực
hiện hành vi phạm tội sống ngoài vòng pháp
luật, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn thực hiện
việc truy nã, bắt, tạm giữ, tạm giam bị can là
người chưa thành niên như những bị can
khác Theo chúng tôi, có sự mâu thuẫn trong
quy định của pháp luật về việc truy nã bị can
là người chưa thành niên và việc truy nã bị
can thành niên như thực tiễn hiện nay là
chưa thực sự thỏa đáng Về vấn đề này, có
hai ý kiến khác nhau Ý kiến thứ nhất cho
rằng nếu bị can, bị cáo là người chưa thành
niên trốn tránh hoặc không biết đang ở đâu
thì phải bị truy nã theo quy định của
BLTTHS hiện hành và nên sửa lại Điều 303
BLTTHS quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam
người chưa thành niên theo hướng đối với
trường hợp họ bị truy nã thì phải bị áp dụng
các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm
giam trong mọi loại tội phạm Ý kiến này
giải quyết được mâu thuẫn của luật, nhưng
lại không đáp ứng được chính sách hình sự
đối với người chưa thành niên Ý kiến thứ hai cho rằng cần sửa quy định truy nã bị can
là người chưa thành niên theo hướng được phép truy nã đối với bị can là người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi (vì họ phạm vào loại tội rất nghiêm trọng do cố ý
và loại tội đặc biệt nghiêm trọng), không được phép truy nã đối với bị can người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nếu họ phạm vào loại tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng do vô ý Mặt khác, cũng cần điều chỉnh Điều 303 BLTTHS theo hướng không bắt, tạm giữ, tạm giam
Ý kiến này cũng giải quyết được mâu thuẫn của luật nhưng chưa đáp ứng triệt để chính sách hình sự đối với người chưa thành niên cũng như yêu cầu đấu tranh chống tội phạm, vì người chưa thành niên phạm vào loại tội này chiếm tỉ trọng rất cao trong cơ cấu tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Thực tiễn cũng cho thấy việc truy nã chủ yếu đối với người chưa thành niên từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm vào loại tội ít nghiêm trọng (theo nghiên cứu của Bộ tư pháp về loại tội do người chưa thành niên thực hiện từ năm 1982 đến năm 1996 trên toàn quốc thì tổng số vụ án có người chưa thành niên tham gia là 10.987 vụ, trong đó
số vụ ít nghiêm trọng là 9032 vụ, chiếm tỉ lệ 83%).(1) Chúng tôi đồng tình với ý kiến thứ nhất, vì theo hướng này trước mắt trong giai đoạn hiện nay mặc dù chưa thực sự đáp ứng được việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong việc hạn chế biện pháp xâm phạm tự do thân thể của họ nhưng hướng này đáp ứng được yêu cầu đấu tranh
Trang 6phòng, chống tội phạm đối với người chưa
thành niên Chúng tôi đề xuất một số quy
định bổ sung về truy nã bị can, bị cáo là
người chưa thành niên như sau: Nội dung
truy nã bị can là người chưa thành niên
cũng phải được xác định là thủ tục đặc biệt
(quy định trong Chương XXXII BLTTHS),
cần ràng buộc một số điều kiện đối với việc
truy nã bị can là người chưa thành niên
trước khi áp dụng biện pháp này để phù hợp
với pháp luật quốc tế (Quy tắc tối thiểu phổ
biến của Liên hợp quốc về áp dụng pháp
luật đối với người chưa thành niên, gọi tắt
là Quy tắc Bắc Kinh được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985)
Điều 7 Quy tắc Bắc Kinh quy định các
quyền của người chưa thành niên trong đó
có quyền được suy đoán vô tội, quyền được
giữ yên lặng Điều 8 Quy tắc này quy định
bảo vệ sự riêng tư của người chưa thành
niên: “Quyền riêng tư của người chưa
thành niên phải được tôn trọng trong tất cả
các giai đoạn nhằm tránh những tác hại
gây ra do sự công khai quá mức hay việc
dán ảnh truy nã” Việc dán ảnh truy nã bị
can, bị cáo là người chưa thành niên có
những ảnh hưởng không tốt, làm danh dự
của họ bị tổn thương và việc đó có tác động
mạnh như sự kết tội của bản án (trong khi
đó các bị can, bị cáo là người chưa thành
niên chưa bị coi là người có tội) Điều 9
BLTTHS Việt Nam cũng quy định nguyên
tắc suy đoán vô tội, được cụ thể hoá từ Điều
72 Hiến pháp năm 1992 đó là: “Không ai bị
coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa
có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực
pháp luật” Trong khi đó tại Điều 161 BLTTHS thì lại quy định dán ảnh kèm theo các thông tin cá nhân đối với các bị can trốn hoặc không biết đang ở đâu trong đó có bị can là người chưa thành niên, truy nã được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt giữ người bị truy nã
Rõ ràng với quy định nêu trên về truy nã
bị can, bị cáo, trong đó có bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì không phù hợp với quy định quốc tế mà Việt Nam tham gia, cũng như không phù hợp với Điều 72 Hiến pháp năm 1992, Điều 9 BLTTHS xác định nguyên tắc suy đoán vô tội Do vậy, đề xuất nên sửa Điều 161 về truy nã bị can theo hướng đối với bị can là người chưa thành niên thì cần hạn chế đến mức thấp nhất việc công khai những thông tin cá nhân (nhất là
về hình ảnh) lên các phương tiện thông tin đại chúng Biện pháp chủ yếu để bắt bị can,
bị cáo là người chưa thành niên bị truy nã là
cơ quan điều tra cần phát huy tối đa các biện pháp nghiệp vụ, cũng như các quy chế liên ngành giữa cơ quan điều tra với chính quyền, đoàn thể, tổ chức cơ sở Đảng trong việc quản lí, giáo dục, phát hiện những đối tượng này Do tính hạn chế công khai các thông tin
cá nhân nên trong trường hợp này cũng kéo theo sự giới hạn chủ thể là công dân tham gia bắt Nội dung này có thể được hướng dẫn bằng văn bản dưới luật./
(1) Viện nghiên cứu khoa học pháp lí Bộ tư pháp, Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển Radda Barnen (2000), Tăng cường hệ thống tư pháp người chưa thành niên
Hà Nội, tr 30