1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Kĩ năng soạn thảo hợp đồng thương mại " pptx

7 1,6K 38
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 140,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt phải xác định dự liệu những rủi ro kinh doanh nào có thể hiện diện trong các giao dịch của doanh nghiệp và loại bỏ hay giảm thiểu những rủi ro đó bằng việc sử dụng các điều khoả

Trang 1

§ç §¨ng Khoa *

1 Những điểm chung cần quan tâm khi

soạn thảo hợp đồng thương mại

a Soạn thảo dự thảo hợp đồng trước khi

đàm phán

Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm

phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước 2),

hoàn thiện - kí kết hợp đồng (bước 3) là quy

trình cần thiết Soạn dự thảo hợp đồng giúp

cho doanh nghiệp "văn bản hoá" những gì

mình muốn đồng thời dự liệu những gì đối

tác muốn trước khi đàm phán Nó giống

như bản kế hoạch cho việc đàm phán, khi

có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công

việc đàm phán và kí kết hợp đồng Nếu bỏ

qua bước 1 chỉ đàm phán sau đó mới soạn

thảo hợp đồng thì giống như vừa xây nhà

vừa vẽ thiết kế nên thường dẫn đến thiếu

sót, sơ hở trong hợp đồng, đặc biệt đối với

những thương vụ lớn

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều

sách viết về hợp đồng và thường kèm theo

nhiều mẫu hợp đồng các loại Ví dụ: cuốn

Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và

đầu tư (TS Nguyễn Thị Dung chủ biên) do

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản

năm 2008 Doanh nghiệp có thể dựa vào các

mẫu hợp đồng này, xem như là những gợi ý

cho việc soạn dự thảo hợp đồng Tuy nhiên,

hợp đồng được kí kết trên nguyên tắc tự do

và bình đẳng, do đó nội dung của mỗi hợp

đồng cụ thể luôn có sự khác nhau Bởi nó

phụ thuộc vào ý chí của các bên và đòi hỏi

thực tiễn của việc mua bán mỗi loại hàng hoá, dịch vụ là khác nhau, trong các điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm khác nhau Đặc biệt phải xác định (dự liệu) những rủi ro kinh doanh nào có thể hiện diện trong các giao dịch của doanh nghiệp và loại bỏ hay giảm thiểu những rủi ro đó bằng việc sử dụng các điều khoản hợp đồng; điều này các hợp đồng mẫu thường ít khi đề cập và không thể đề

cập Ví dụ: Khi mua hàng hoá, phải dự liệu

đến cả những tình huống hiếm khi xảy ra: hàng giả, hàng nhái; gặp bão, lụt trong quá trình vận chuyển, giao hàng; khi tranh chấp kiện tụng thì tiền phí luật sư bên nào chịu; những thiệt hại gián tiếp bên vi phạm có phải chịu không…? Do vậy, không thể có mẫu hợp đồng nào là chuẩn mực, nó thường thừa hoặc thiếu đối với một thương vụ cụ thể Doanh nghiệp phải phải sửa cho phù hợp theo ý muốn của hai bên, đừng lạm dụng mẫu - chỉ điền một vài thông số và hoàn tất bản dự thảo hợp đồng

b Thông tin xác định tư cách chủ thể của các bên

Doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức khác có quyền tham gia kí kết hợp đồng thương mại nhưng để xác định được quyền hợp pháp đó và tư cách chủ thể của các bên thì cần phải có tối thiểu các thông tin sau:

* Công ti Vinalad Invest Corp Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

- Đối với tổ chức, doanh nghiệp: Tên, trụ

sở, giấy phép thành lập và người đại diện

Các nội dung trên phải ghi chính xác theo

quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận

đăng kí kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư

của doanh nghiệp Các bên nên xuất trình,

kiểm tra các văn bản, thông tin này trước khi

đàm phán, kí kết để đảm bảo hợp đồng kí kết

đúng thẩm quyền

- Đối với cá nhân: Tên, số chứng minh

thư và địa chỉ thường trú Nội dung này ghi

chính xác theo chứng minh thư nhân dân

hoặc hộ chiếu hoặc hộ khẩu và cũng nên

kiểm tra trước khi kí kết

c Tên gọi hợp đồng

Tên gọi hợp đồng thường được sử dụng

theo tên loại hợp đồng kết hợp với tên hàng

hoá, dịch vụ Ví dụ: tên loại là hợp đồng mua

bán, còn tên của hàng hoá là xi măng, ta có

hợp đồng mua bán + xi măng hoặc hợp đồng

dịch vụ + khuyến mại Hiện nhiều doanh

nghiệp vẫn còn thói quen sử dụng tên gọi

“hợp đồng kinh tế” theo Pháp lệnh hợp đồng

kinh tế năm 1989 nhưng nay Pháp lệnh hợp

đồng kinh tế đã hết hiệu lực nên việc đặt tên

này không còn phù hợp Bộ luật dân sự năm

2005 đã dành riêng Chương XVIII để quy

định về 12 loại hợp đồng thông dụng, Luật

thương mại năm 2005 cũng quy định về một

số loại hợp đồng nên chúng ta cần kết hợp

hai bộ luật này để đặt tên hợp đồng trong

thương mại cho phù hợp

d Căn cứ kí kết hợp đồng

Phần này các bên thường đưa ra các căn

cứ làm cơ sở cho việc thương lượng, kí kết

và thực hiện hợp đồng; có thể là văn bản

pháp luật điều chỉnh, văn bản uỷ quyền, nhu

cầu và khả năng của các bên Trong một số trường hợp, khi các bên lựa chọn văn bản pháp luật cụ thể để làm căn cứ kí kết hợp đồng thì được xem như đó là sự lựa chọn

luật điều chỉnh Ví dụ: Doanh nghiệp Việt

Nam kí hợp đồng mua bán hàng hoá với doanh nghiệp nước ngoài mà có thoả thuận là: Căn cứ vào Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam để

kí kết, thực hiện hợp đồng thì hai luật này sẽ

là luật điều chỉnh đối với các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp (nếu có) Do đó cũng phải hết sức lưu ý khi đưa các văn bản pháp luật vào phần căn

cứ của hợp đồng, chỉ sử dụng khi biết văn bản đó có điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng

và còn hiệu lực

e Hiệu lực hợp đồng

Nguyên tắc hợp đồng bằng văn bản mặc nhiên có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng kí vào hợp đồng nếu các bên không có thỏa thuận hiệu lực vào thời điểm khác; ngoại trừ một số loại hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng dự án bất động sản, hợp đồng chuyển giao công nghệ Các bên phải hết sức lưu ý điều này bởi vì hợp đồng phải có hiệu lực mới phát sinh trách nhiệm pháp lí, ràng buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng

Liên quan đến hiệu lực thi hành của hợp đồng thương mại thì vấn đề người đại diện kí kết (người kí tên vào bản hợp đồng) cũng phải hết sức lưu ý, người đó phải có thẩm quyền kí hoặc người được người có thẩm quyền ủy quyền Thông thường đối với

Trang 3

doanh nghiệp thì người đại diện được xác

định rõ trong giấy chứng nhận đăng kí kinh

doanh hoặc giấy phép đầu tư Cùng với chữ

kí của người đại diện còn phải có đóng dấu

(pháp nhân) của tổ chức, doanh nghiệp đó

2 Kĩ năng soạn thảo một số điều khoản

quan trọng của hợp đồng thương mại

Thông thường để văn bản hợp đồng được

rõ ràng, dễ hiểu thì người ta chia các vấn đề

ra thành các điều khoản hay các mục, theo số

thứ tự từ nhỏ đến lớn Trong phần này, tác

giả đưa ra những lưu ý, kĩ năng khi soạn

thảo một số vấn đề (điều khoản) quan trọng

thường gặp trong hợp đồng thương mại

a Điều khoản định nghĩa

Điều khoản định nghĩa được sử dụng với

mục đích định nghĩa (giải thích) các từ, cụm

từ được sử dụng nhiều lần hoặc cần có cách

hiểu thống nhất giữa các bên hoặc các kí

hiệu viết tắt Điều này thường không cần

thiết với những hợp đồng mua bán hàng hoá,

dịch vụ thông thường phục vụ các nhu cầu

sinh hoạt hàng ngày Nhưng nó rất quan

trọng đối với hợp đồng thương mại quốc tế,

hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng

tư vấn giám sát xây dựng; bởi trong các hợp

đồng này có nhiều từ, cụm từ có thể hiểu

nhiều cách hoặc từ, cụm từ chuyên môn chỉ

những người có hiểu biết trong lĩnh vực đó

mới hiểu Ví dụ: “pháp luật”, “hạng mục

công trình”, “quy chuẩn xây dựng” Do vậy,

để việc thực hiện hợp đồng được dễ dàng,

hạn chế phát sinh tranh chấp các bên phải

làm rõ (định nghĩa) ngay từ khi kí kết hợp

đồng chứ không phải đợi đến khi thực hiện

rồi mới cùng nhau bàn bạc, thống nhất cách

hiểu Mặt khác, khi có tranh chấp, kiện tụng

xảy ra thì điều khoản này giúp cho những người xét xử hiểu rõ những nội dung các bên

đã thỏa thuận và ra phán quyết chính xác

b Điều khoản công việc

Trong hợp đồng dịch vụ thì điều khoản công việc (dịch vụ) mà bên làm dịch vụ phải thực hiện là không thể thiếu Những công việc này không những cần xác định một cách rõ ràng mà còn phải xác định rõ: Cách thức thực hiện, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của người trực tiếp thực hiện công việc, kết quả sau khi thực hiện dịch

vụ Ví dụ: Trong hợp đồng tư vấn và quản lí

dự án, không những cần xác định rõ công việc tư vấn mà còn phải xác định rõ: Cách thức tư vấn bằng văn bản, tư vấn theo quy chuẩn xây dựng của Việt Nam, người trực tiếp tư vấn phải có chứng chỉ tư vấn thiết kế xây dựng, số năm kinh nghiệm tối thiểu là 5 năm, đã từng tham gia tư vấn cho dự án có quy mô tương ứng Có như vậy thì chất lượng của dịch vụ, kết quả của việc thực hiện dịch vụ mới đáp ứng được mong muốn của bên thuê dịch vụ Nếu không làm được điều này bên thuê dịch vụ thường thua thiệt

và tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng là khó tránh khỏi

c Điều khoản tên hàng

Tên hàng là nội dung không thể thiếu được trong tất cả các hợp đồng mua bán hàng hoá Để thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng và hạn chế tranh chấp phát sinh, tên hàng cần được xác định một cách rõ ràng Hàng hoá thường có tên chung và tên

riêng Ví dụ: Hàng hoá - gạo (tên chung),

gạo tẻ, gạo nếp (tên riêng) Nên khi xác định tên hàng phải là tên riêng, đặc biệt với các

Trang 4

hàng hoá là sản phẩm máy móc thiết bị Tuỳ

từng loại hàng hoá mà các bên có thể lựa

chọn một hoặc nhiều cách xác định tên hàng

sau đây cho phù hợp: Tên + xuất xứ; tên +

nhà sản xuất; tên + phụ lục hoặc Catalogue;

tên thương mại; tên khoa học; tên kèm theo

công dụng và đặc điểm; tên theo nhãn hàng

hoá hoặc bao bì đóng gói

hoá đều được phép mua bán trong thương

mại mà chỉ có những loại hàng hoá không bị

cấm kinh doanh mới được phép mua bán

Ngoài ra, đối với những hàng hoá hạn chế

kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều

kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi

hàng hoá và các bên mua bán hàng hoá đáp

ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của

pháp luật Vấn đề này hiện nay được quy

định tại một số văn bản sau: Luật thương mại

năm 2005 tại các điều: Điều 25, Điều 26, Điều

32, Điều 33; Nghị định số 59/2006/NĐ-CP

ngày 12/06/2006 về hàng hoá, dịch vụ cấm

kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh

có điều kiện; Nghị định số 12/2006/NĐ-CP

ngày 23/01/2006 về mua bán, gia công, đại lí

hàng hoá quốc tế và Thông tư số

04/2006/TT-BTM ngày 06/04/2006

d Điều khoản chất lượng hàng hoá

Chất lượng hàng hoá kết hợp cùng với

tên hàng sẽ giúp các bên xác định được hàng

hoá một cách rõ ràng, chi tiết Trên thực tế,

nếu điều khoản này không rõ ràng thì rất khó

thực hiện hợp đồng và rất dễ phát sinh tranh

chấp Dưới góc độ pháp lí “chất lượng sản

phẩm, hàng hoá là tổng thể những thuộc

tính, những chỉ tiêu kĩ thuật, những đặc

trưng của chúng, được xác định bằng các

thông số có thể đo được, so sánh được phù hợp với các điều kiện hiện có, thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội và của cá nhân trong những điều kiện sản xuất, tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của

Nói chung chất lượng sản phẩm, hàng hoá được thể hiện thông qua các chỉ tiêu

kĩ thuật và những đặc trưng của chúng Muốn xác định được chất lượng hàng hoá thì tuỳ theo từng loại hàng hoá cụ thể để xác định, dựa vào các chỉ tiêu về cơ lí, các chỉ tiêu về hoá học hoặc các đặc tính khác của hàng hoá đó

Nếu các bên thoả thuận chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn chung của quốc gia hay quốc tế thì có thể chỉ dẫn tới tiêu chuẩn đó

mà không cần phải diễn giải cụ thể Ví dụ:

các bên thoả thuận: “Chất lượng da giày theo tiêu chuẩn Việt Nam theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BCN ngày 26/05/2006 về việc ban hành tiêu chuẩn ngành da - giày” Văn bản này có thể đưa vào mục tài liệu kèm theo của hợp đồng

e Điều khoản số lượng (trọng lượng)

Điều khoản này thể hiện mặt lượng của hàng hoá trong hợp đồng, nội dung cần làm

rõ là: Đơn vị tính, tổng số lượng hoặc

phương pháp xác định số lượng Ví dụ:

Trong hợp đồng mua bán đá xây dựng, để xác định số lượng các bên có thể lựa chọn một trong các cách sau: Theo trọng lượng tịnh (kilôgam, tạ, tấn), theo mét khối, theo toa xe, toa tàu, hay theo khoang thuyền Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì cần phải quy định cụ thể cách xác định số lượng và đơn vị đo lường bởi hệ

Trang 5

thống đo lường của các nước là có sự khác

biệt Đối với những hàng hoá có số lượng

lớn hoặc do đặc trưng của hàng hoá có thể tự

thay đổi tăng, giảm số lượng theo thời tiết thì

cũng cần quy định một độ dung sai (tỉ lệ sai

lệch) trong tổng số lượng cho phù hợp

f Điều khoản giá cả

Các bên khi thoả thuận về giá cả cần đề

cập các nội dung sau: Đơn giá, tổng giá trị

và đồng tiền thanh toán Về đơn giá có thể

xác định giá cố định hoặc đưa ra cách xác

định giá (giá di động) Giá cố định thường áp

dụng với hợp đồng mua bán loại hàng hoá có

tính ổn định cao về giá và thời hạn giao hàng

ngắn Giá di động thường được áp dụng với

những hợp đồng mua bán loại hàng giá nhạy

cảm (dễ biến động) và được thực hiện trong

thời gian dài Trong trường hợp này người ta

thường quy định giá sẽ được điều chỉnh theo

giá thị trường hoặc theo sự thay đổi của các

yếu tố tác động đến giá sản phẩm Ví dụ:

Trong hợp đồng mua bán sắt xây dựng (sắt

cây phi 16), hai bên đã xác định giá là:

200.000 đồng/cây nhưng loại thép cây này

được sản xuất từ nguyên liệu thép nhập khẩu

và giá thép nhập khẩu bên bán không làm

chủ được nên đã bảo lưu điều khoản này là:

“Bên bán có quyền điều chỉnh giá tăng theo

tỉ lệ % tăng tương ứng của giá thép nguyên

liệu nhập khẩu”

g Điều khoản thanh toán

Phương thức thanh toán là cách thức mà

các bên thực hiện nghĩa vụ giao, nhận tiền

khi mua bán hàng hoá Căn cứ vào đặc điểm

riêng của hợp đồng, mối quan hệ, các điều

kiện khác mà các bên có thể lựa chọn một

trong ba phương thức thanh toán sau đây

cho phù hợp:

Phương thức thanh toán trực tiếp: Khi thực hiện phương thức này các bên trực tiếp thanh toán với nhau, có thể dùng tiền mặt, séc hoặc hối phiếu Các bên có thể trực tiếp giao nhận hoặc thông qua dịch vụ chuyển tiền của bưu điện hoặc ngân hàng Phương thức này thường được sử dụng khi các bên

đã có quan hệ buôn bán lâu dài và tin tưởng lẫn nhau, với những hợp đồng có giá trị không lớn

Phương thức nhờ thu và tín dụng chứng

từ (L/C) là hai phương thức được áp dụng phổ biến đối với việc mua bán hàng hoá quốc tế, thực hiện phương thức này rất thuận tiện cho cả bên mua và bên bán trong việc thanh toán, đặc biệt là đảm bảo được cho bên mua lấy được tiền khi đã giao hàng Về thủ tục cụ thể thì Ngân hàng sẽ có trách nhiệm giải thích và hướng dẫn các bên khi lựa chọn

phương thức thanh toán này

các hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các thương nhân Việt Nam với nhau hoặc với cá nhân, tổ chức khác trên lãnh thổ Việt Nam chỉ được sử dụng đồng tiền Việt Nam chứ không được sử dụng các đồng tiền của quốc gia khác, đồng tiền chung châu Âu (ngoại tệ), theo Điều 4, Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005

h Điều khoản phạt vi phạm

Phạt vi phạm là loại chế tài do các bên tự lựa chọn, nó có ý nghĩa như biện pháp trừng phạt, răn đe, phòng ngừa vi phạm hợp đồng nhằm nâng cao ý thức tôn trọng hợp đồng của các bên Khi thoả thuận các bên cần dựa trên mối quan hệ, độ tin tưởng lẫn nhau mà

Trang 6

quy định hoặc không quy định về vấn đề

phạt vi phạm Thông thường, với những bạn

hàng có mối quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn

nhau, uy tín của các bên đã được khẳng định

trong thời gian dài thì họ không quy định

(thoả thuận) điều khoản này Còn trong các

trường hợp khác thì nên có thoả thuận về

phạt vi phạm

Mức phạt do các bên thoả thuận, có thể

ấn định một số tiền phạt cụ thể hoặc đưa ra

cách thức tính tiền phạt linh động theo % giá

trị phần hợp đồng vi phạm Theo Bộ luật dân

sự (Điều 422): “Phạt vi phạm là sự thoả

thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó

bên vi phạm có nghĩa vụ phải nộp một khoản

tiền cho bên bị vi phạm; mức phạt vi phạm

thương mại (Điều 301) thì quyền thoả thuận

về mức phạt vi phạm của các bên bị hạn chế,

cụ thể: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ

hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều

vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp

đồng nhưng không quá 8% giá trị phần

bên khi thoả thuận về mức phạt phải căn cứ

vào quy định của Luật thương mại để lựa

chọn mức phạt trong phạm vi từ 8% trở

xuống, nếu các bên thoả thuận mức phạt lớn

hơn (ví dụ 12%) thì phần vượt quá (4%)

được coi là vi phạm điều cấm của pháp luật

và bị vô hiệu

Các trường hợp vi phạm bị áp dụng chế

tài phạt các bên cũng có thể thoả thuận theo

hướng cứ vi phạm các thoả thuận trong hợp

đồng là bị phạt hoặc chỉ một số vi phạm cụ

thể mới bị phạt Ví dụ: thoả thuận là: “Nếu

bên bán vi phạm về chất lượng hàng hoá thì

sẽ bị phạt 6% giá trị phần hàng hoá không

đúng chất lượng Nếu hết thời hạn thanh

toán mà bên mua vẫn không trả tiền thì sẽ bị

j Điều khoản bất khả kháng

Bất khả kháng là sự kiện pháp lí nảy sinh ngoài ý muốn chủ quan của các bên, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng

đã kí Đó là các sự kiện thiên nhiên hay chính trị-xã hội như bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, chiến tranh, bạo động, đình công, khủng hoảng kinh tế Đây là các trường hợp thường gặp làm cho một hoặc cả hai bên không thể thực hiện được hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ của mình Khi một bên vi phạm hợp đồng do gặp sự kiện bất khả kháng thì pháp luật không buộc phải chịu trách nhiệm về tài sản (không bị phạt vi phạm, không phải bồi thường thiệt hại) Trên thực tế, nếu không thoả thuận rõ về bất khả kháng thì rất dễ bị bên vi phạm lợi dụng bất khả kháng để thoái thác trách nhiệm dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm Trong điều khoản này các bên cần phải định nghĩa về bất khả kháng và quy định nghĩa vụ

của bên gặp sự kiện bất khả kháng Ví dụ:

Điều khoản bất khả kháng:

- Định nghĩa “Sự kiện bất khả kháng là

sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép;

- Bên gặp sự kiện bất khả kháng phải thông báo ngay cho bên kia biết và phải cung cấp chứng cứ chứng minh sự kiện bất khả kháng đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc vi phạm hợp đồng”

Trang 7

k Điều khoản giải quyết tranh chấp

Đối với việc lựa chọn giải quyết tại

Trọng tài hay tại Toà án thì thoả thuận phải

phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể:

bán hàng hoá giữa các thương nhân với các

tổ chức, cá nhân khác không phải là thương

nhân khi có tranh chấp do toà án có thẩm

quyền giải quyết Các bên không thể lựa

chọn trọng tài để giải quyết theo Điều 1,

Điều 7, Điều 10 Pháp lệnh trọng tài ngày

25/02/2003 và Điều 2 Nghị định số:

25/NĐ-CP ngày 15/01/2004

hàng hoá giữa thương nhân với thương nhân

khi có tranh chấp thì các bên có quyền lựa

chọn hình thức giải quyết tại trọng tài hoặc

tại toà án; nếu có sự tham gia của thương

nhân nước ngoài thì các bên còn có thể lựa

chọn một tổ chức trọng tài của Việt Nam

hoặc lựa chọn một tổ chức trọng tài của nước

ngoài để giải quyết

Khi các bên lựa chọn hình thức giải

quyết tranh chấp tại trọng tài thì thoả thuận

phải nêu đích danh một tổ chức trọng tài cụ

thể, ví dụ: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc

liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải

quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế bên

cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt

Nam” Nếu chỉ thoả thuận chung chung là:

“Trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu có

tranh chấp sẽ được giải quyết tại trọng tài”

thì thỏa thuận này vô hiệu

Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng

hoá giữa thương nhân Việt Nam với thương

nhân nước ngoài thì các bên còn phải quan

tâm đến việc lựa chọn luật áp dụng khi giải quyết tranh chấp là luật của bên mua, luật của bên bán hay luật quốc tế (các công ước

quốc tế - ví dụ: Công ước Viên năm 1980 về

mua bán hàng hoá) Đây là vấn đề hết sức quan trọng tuy nhiên để tránh những thua thiệt do thiếu hiểu biết pháp luật của nước ngoài hay pháp luật quốc tế thì thương nhân Việt Nam nên chọn luật Việt Nam để áp dụng cho hợp đồng thương mại

toàn do các bên thoả thuận và quyết định cho phù hợp với những điều kiện hoàn cảnh, loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể; tuy nhiên, những thoả thuận đó phải không vi phạm các điều cấm của pháp luật Hợp đồng bằng văn bản

là hình thức kí kết hợp đồng quan trọng, thậm chí bắt buộc trong hoạt động thương mại như hợp đồng mua bán hàng hoá quốc

tế, hợp đồng mua bán nhà So với hình thức bằng lời nói thì hình thức văn bản góp phần hạn chế việc các bên “trở mặt” trong quá trình thực hiện hợp đồng Nhưng ngược lại nếu không chú trọng việc soạn thảo hợp đồng thì lại “bút sa gà chết” hoặc tự “mua dây buộc mình” Để có văn bản hợp đồng rõ ràng, chặt chẽ, dễ đọc, dễ hiểu, dễ thực hiện, đảm bảo được quyền lợi cho các bên, hạn chế tranh chấp và giảm thiểu rủ ro trong thương mại Đòi hỏi các bên phải thận trọng, hiểu biết pháp luật và có kĩ năng, kinh nghiệm thực tế trong việc soạn thảo, đàm phán kí kết hợp đồng thương mại./

(1).Xem: Điều 3 Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 về quản lí nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá

Ngày đăng: 01/04/2014, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w