1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Hợp đồng thương mại điện tử và các biện pháp hạn chế rủi ro " potx

6 721 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 123,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thì yếu tố nền tảng trong giao dịch điện tử là phương tiện điện tử thông điệp dữ liệu và chữ kí số trong trường hợp pháp luật quy định t

Trang 1

Ths Lª ThÞ Kim Hoa *

1 Hợp đồng thương mại điện tử

Trong đời sống xã hội nói chung, hoạt

động thương mại nói riêng, quan hệ hợp

đồng là quan hệ khá phổ biến, theo đó, các

bên tự nguyện thoả thuận về việc xác lập,

thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự Hình thức ghi nhận thoả thuận có thể

bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ

thể khi pháp luật không quy định loại hợp

đồng đó phải được giao kết bằng hình thức

nhất định

Trên cơ sở quan hệ hợp đồng theo cách

hiểu thông thường kể trên, bằng phương tiện

điện tử hay thông qua phương tiện điện tử,

các bên có thể sử dụng phương thức giao kết

hợp đồng mới - đó là hợp đồng thương mại

điện tử Với phương thức giao kết này, các

bên có thể đàm phán, kí hợp đồng mà không

cần phải trực tiếp gặp mặt nhau Bằng thông

điệp dữ liệu, các bên có thể thực hiện các

thao tác kĩ thuật để trao đổi, thống nhất về

các nội dung của hợp đồng điện tử Ví dụ,

trước tiên một bên viết bản chào hàng bằng

máy tính và bấm nút “Send” để gửi đến nơi

phục vụ thư, sau đó nơi phục vụ thư sẽ tự

động gửi đi theo địa chỉ của bên kia được ghi

trên bản chào hàng Bên được gửi đăng nhập

vào hộp thư đã đăng kí để nhận bản chào

hàng của bên gửi và đọc nó trên máy tính

Bên nhận được bản chào hàng muốn trao

đổi, thoả thuận với bên gửi thì cũng làm các

thao tác tương tự Như vậy, thông điệp dữ

liệu là cơ sở để thực hiện giao kết hợp đồng điện tử giữa các bên mà không cần các bên phải tiếp xúc trực tiếp với nhau

Hợp đồng thương mại điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu hay nói cách khác là hợp đồng có sử dụng thông điệp dữ liệu

Theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thì yếu tố nền tảng trong giao dịch điện tử là phương tiện điện tử thông điệp dữ liệu và chữ kí số (trong trường hợp pháp luật quy định thông điệp dữ liệu phải được kí bằng chữ kí số hoặc các bên thoả thuận thông điệp dữ liệu phải có chữ kí của các bên) Phương tiện điện tử là cơ sở để phân biệt

sự khác nhau giữa giao dịch thương mại điện

tử với giao dịch thương mại thông thường Nếu như phương tiện thực hiện trong giao dịch thương mại thông thường chủ yếu được thực hiện thông qua lời nói, văn bản giấy tờ thì phương tiện thực hiện trong giao dịch thương mại điện tử được thực hiện thông qua phương tiện hoạt động trên công nghệ điện, điện tử, kĩ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ

tương tự Ví dụ như hệ thống các máy tính

truyền dữ liệu với tốc độ ánh sáng qua các đường truyền dữ liệu cáp quang hoặc bằng tia hồng ngoại… Như vậy, có thể coi công nghệ điện tử, công nghệ thông tin là điều

* Vụ pháp luật - Văn phòng Chính phủ

Trang 2

kiện tiên quyết trong giao dịch thương mại

điện tử Thông qua công nghệ điện tử, các

bên giao dịch có thể: Đăng kí kinh doanh

qua Internet; bán sách, báo, thiết bị kĩ thuật

qua các website; gửi email chào mua hàng,

email chào bán hàng hoặc nhận đặt hàng

bằng email; gián tiếp gửi qua bưu điện, qua

người trung gian hoặc trực tiếp “trao tay”

nhau các đĩa từ (đĩa A), đĩa quang (CD) có

chứa thư chào mua hàng hay thư chào bán

hàng Bằng sự phát triển của các phương

tiện điện tử, con người có thể điện tử hoá các

giao dịch của mình, trong đó phương tiện

giao dịch chủ yếu, phổ biến là giao dịch thực

hiện trên mạng Internet Thông qua email và

web, Internet trở thành phương tiện trao đổi

thông tin tiện lợi, nhanh chóng, ít tốn kém

nhất và không thể thiếu trong đời sống xã

hội hiện đại

Thông điệp dữ liệu là thông tin dưới

dạng kí hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm

thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, được

gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng

phương tiện điện tử Thông điệp dữ liệu

thường được thể hiện dưới hình thức trao đổi

dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử,

điện báo, fax và các hình thức tương tự

Chữ kí số được hiểu là dạng chữ kí điện

tử được tạo ra bằng sự biến đổi thông điệp

dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối

xứng theo đó người có được thông điệp dữ

liệu ban đầu và khoá công khai của người kí

có thể xác định được chính xác:

- Việc biến đổi nêu trên được tạo ra bằng

đúng khoá bí mật tương ứng với khoá công

khai trong cùng cặp khoá;

- Sự toàn vẹn nội dung của thông điệp

dữ liệu kể từ khi thực hiện việc biến đổi nêu trên

Kí số phải được áp dụng trên cơ sở quy chuẩn kĩ thuật và tiêu chuẩn bắt buộc do Bộ thông tin và truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ khoa học và công nghệ, Bộ công an xây dựng

Bộ luật dân sự năm 2005, Luật thương mại năm 2005, Luật giao dịch điện tử và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về Luật giao dịch điện tử đã thừa nhận giá trị pháp lí của hợp đồng điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu Điều 34 Luật giao

dịch điện tử quy định: “Giá trị pháp lí của

hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ

vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” Luật thương mại năm

2005 cũng quy định một trong các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thương mại là nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lí của thông điệp dữ liệu Trên cơ sở đó, các hợp đồng được giao kết giữa các chủ thể thông qua phương tiện điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu sẽ được pháp luật bảo vệ Pháp luật công nhận giá trị pháp lí của hợp đồng điện tử như văn bản viết hoặc như bản gốc hoặc giá trị chứng cứ nếu đáp ứng các điều kiện tương ứng

Điều kiện để hợp đồng thương mại điện

tử được công nhận có giá trị pháp lí như văn bản viết nếu thông tin chứa đựng trong hợp đồng có thể truy cập được để sử dụng khi cần thiết Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình thức của hợp đồng có thể bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể (Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 1 Điều 24 Luật thương mại năm

Trang 3

2005), trong đó, hình thức văn bản là một

trong những hình thức chủ yếu được sử dụng

trong các giao dịch dân sự, thương mại

Theo cách hiểu truyền thống thì “văn bản”

được đồng nghĩa với giấy tờ (dưới hình thức

viết) Vẫn trên cơ sở cách hiểu đó nhưng

hiện nay hình thức “văn bản” đã được mở

rộng phù hợp với phương thức giao dịch

hiện đại - phương thức giao dịch điện tử

Luật thương mại năm 2005 quy định: Hợp

đồng mua bán hàng hoá thông qua điện báo,

telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông

tin điện tử khác cũng được coi là hình thức

văn bản Như vậy, các hình thức thông tin

điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu được

ghi nhận về mặt pháp lí (khoản 1 Điều 124

Bộ luật dân sự, Điều 33, 34 Luật giao dịch

điện tử, Điều 8 Nghị định của Chính phủ số

57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 về thương

mại điện tử) là một trong những điều kiện về

hình thức văn bản của hợp đồng Tuy nhiên,

hợp đồng thương mại điện tử dưới dạng

thông điệp dữ liệu được coi là hình thức văn

bản phải thoả mãn các điều kiện của việc tạo

lập thông tin, gửi, nhận và lưu trữ thông tin

bằng phương tiện điện tử

Điều kiện để công nhận hợp đồng thương

mại điện tử có giá trị pháp lí như bản gốc

nếu thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:

được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi

tạo lần đầu tiên dưới dạng thông điệp hoàn

chỉnh Nghĩa là thông điệp đó trong hợp đồng

điện tử chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi

về hình thức phát sinh trong quá trình gửi,

lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu

Tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu

trong hợp đồng thương mại điện tử là một trong các yếu tố quan trọng để xem xét về mức độ tin cậy của hợp đồng Biện pháp hỗ trợ cơ bản nhất để giúp phát hiện những thay đổi phát sinh của hợp đồng sau khi các bên

đã thống nhất nội dung của hợp đồng là gắn chữ kí điện tử (electronic signature)của các bên (ví dụ quét chữ kí tay, hình ảnh của các bên…) Độ tin cậy, an toàn của hợp đồng sẽ đảm bảo cao hơn nếu chữ kí điện tử của các bên được tổ chức thứ ba có uy tín chứng thực(1) (còn gọi là tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí số công cộng) Tuy nhiên,

để tôn trọng quyền tự do thoả thuận của các bên tham gia giao dịch và tránh tạo gánh nặng chi phí hoặc khó khăn kĩ thuật khi phải

sử dụng thêm công nghệ với mục đích để tăng tính toàn vẹn của hợp đồng điện tử, pháp luật không quy định bắt buộc các bên phải áp dụng công nghệ Theo đó, các bên có quyền thoả thuận về việc sử dụng hoặc không sử dụng chữ kí điện tử để kí thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch; sử dụng hoặc không sử dụng chữ kí điện tử có chứng thực; lựa chọn tổ chức cung cấp dịch

vụ chứng thực chữ kí điện tử trong trường hợp thoả thuận chữ kí điện tử có chứng thực Song, để tránh rủi ro, sai sót trong thực hiện hợp đồng điện tử, đối với những thương vụ kinh doanh lớn, các bên lần đầu giao dịch có thể lập một hợp đồng bằng định dạng PDF của Adobe (là loại định dạng khó bị thay đổi) và gắn kèm chữ kí số được chứng thực của các bên Cách thức này đảm bảo tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu vì nếu trường hợp có sự thay đổi nội dung hợp đồng sau khi kí thì chữ kí số sẽ biến mất.(2)

Trang 4

Thứ hai, nội dung của thông điệp dữ liệu

có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng

hoàn chỉnh khi cần thiết Bên cạnh tính toàn

vẹn, giá trị “bản gốc” của thông điệp dữ liệu

còn phụ thuộc vào việc thông điệp dữ liệu có

thể mở được, đọc được, xem được bằng

phương pháp mã hoá hợp pháp đảm bảo độ tin

cậy mà các bên quy ước/thoả thuận với nhau

Tóm lại, vấn đề "bản gốc" có liên quan

chặt chẽ đến vấn đề "chữ kí" và "văn bản"

trong môi truờng điện tử Bản gốc thể hiện

sự toàn vẹn của thông tin chứa đựng trong

văn bản Trong môi trường giao dịch qua

mạng thì vấn đề bản gốc thông thường được

gắn liền với việc sử dụng chữ kí điện tử Chữ

kí điện tử không những chỉ xác định người kí

mà còn nhằm xác minh cho tính toàn vẹn

của nội dung thông tin chứa trong văn bản

Việc sử dụng chữ kí điện tử đồng nghĩa với

việc mã hoá tài liệu được kí kết (mật mã và

các phương thức mã hoá hợp pháp khác) Để

bảo đảm tính an toàn trong giao dịch thương

mại điện tử thông qua hợp đồng, pháp luật

khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá

nhân ứng dụng công nghệ chứng thực và mã

hoá theo quy định

Hợp đồng điện tử có giá trị làm chứng cứ

khi đáp ứng đủ các điều kiện về giá trị như

bản gốc Để xác định giá trị chứng cứ của

hợp đồng điện tử phải trên cơ sở xác định

được độ tin cậy của cách thức khởi tạo thông

điệp dữ liệu, cách thức lưu trữ hoặc truyền

gửi thông điệp dữ liệu, cách thức bảo đảm và

duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu,

cách thức xác định người khởi tạo và các yếu

tố phù hợp khác.(3)

Như vậy, làm rõ được giá trị như “bản gốc” của thông điệp dữ liệu trong hợp đồng điện tử sẽ là cơ sở cho việc xác định giá trị chứng cứ của văn bản điện tử Việc công nhận giá trị chứng cứ của hợp đồng điện tử đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thương mại điện tử, tạo điều kiện cho các chủ thể trong giao dịch thương mại điện

tử sử dụng một cách thường xuyên thông điệp dữ liệu điện tử thay cho hợp đồng bằng văn bản viết truyền thống

2 Các biện pháp hạn chế rủi ro

Để hạn chế rủi ro, khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử cần chú ý một số biện pháp sau:

- Tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật về hợp đồng trong giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử

Khi giao kết hợp đồng thương mại điện

tử, cùng lúc các bên phải chú ý quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật

về hợp đồng Việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử phải đáp ứng yêu cầu về mặt “hình thức” điện tử, trong đó, quan trọng nhất là yêu cầu về việc khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ liệu và các biện pháp bảo đảm giá trị pháp lí của thông điệp

dữ liệu Thông điệp dữ liệu là cách thức cơ bản, quan trọng, có ý nghĩa quyết định việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử Trong trường hợp này thì bản chào hàng (offer), chấp nhận chào hàng (the acceptance) cũng được hiểu là thông điệp dữ liệu Thông qua thông điệp dữ liệu, các bên giao kết bày tỏ ý chí để đi đến thoả thuận về những điều

Trang 5

khoản chính thức của hợp đồng Như vậy,

thông điệp dữ liệu thường được các bên sử

dụng từ giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng

cho đến khi giao kết hợp đồng được chấp

nhận Đồng thời, để tránh rủi ro, các bên

giao kết còn cần phải chú ý các quy định

của pháp luật hợp đồng về nguyên tắc, trình

tự giao kết, điều kiện có hiệu lực của hợp

đồng và các nội dung liên quan đến việc

thực hiện hợp đồng Đây là những yếu tố

nền tảng bảo đảm giá trị pháp lí của hợp

đồng thương mại điện tử

- Xác định đúng thời điểm gửi và nhận

hợp đồng thương mại điện tử

Thông thường, thời điểm gửi hợp đồng

thương mại điện tử do các bên thoả thuận

Trường hợp các bên không thoả thuận thì

thời điểm gửi được xác định là thời điểm

hợp đồng rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự

kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện

của người khởi tạo Nếu hợp đồng không rời

khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát

của người khởi tạo hay đại diện của người

khởi tạo thì thời điểm gửi là thời điểm người

nhận nhận được hợp đồng Xác định chính

xác thời điểm gửi và nhận hợp đồng có ý

nghĩa quan trọng trong hoạt động thương

mại điện tử Thực tế, việc xác định này

không phải là đơn giản Các bên cần lưu ý để

có giải pháp hợp lí cho vấn đề này Cách tốt

nhất là trong hệ thống thông tin của người

gửi hoặc người nhận nên có phần mềm tự

động để thực hiện việc thông báo đã gửi

hoặc đã nhận được hợp đồng Hoặc được

thực hiện thông qua hệ thống thông tin do

người nhận cung cấp, như: Email, fax, telex

v.v Người nhận xem là đã nhận được thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định và có thể truy cập được, ví dụ được đặt vào trong hộp thư của người nhận (địa chỉ email trên Internet, fax…) hoặc đến tay nhân viên do người nhận chỉ định

Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro trong gửi, nhận thông điệp dữ liệu, trước và trong khi gửi thông điệp dữ liệu, người gửi phải yêu cầu hoặc thoả thuận với người nhận về việc người nhận phải gửi thông báo xác nhận khi nhận được thông điệp dữ liệu Theo đó, người gửi phải ấn định khoảng thời gian hợp

lí để người nhận gửi xác nhận Trong trường hợp này, thông điệp dữ liệu chỉ được coi là

có giá trị khi người nhận thông báo cho người gửi về việc xác nhận đã nhận được thông điệp dữ liệu đó

- Lưu ý các nội dung trong hợp đồng mẫu

Hợp đồng theo mẫu có thể có những điều khoản không rõ ràng, gây bất lợi cho một bên, ví dụ như thể hiện không rõ giá trị giao dịch, số lượng hàng và loại hàng đã chọn

Do đó, quá trình giao kết, bên được đề nghị giao kết phải hết sức lưu ý các nội dung trong hợp đồng mẫu

- Chú ý điều kiện đảm bảo độ an toàn của hợp đồng thương mại điện tử

Phát triển, ứng dụng công nghệ điện tử

và đảm bảo an toàn cho các giao dịch điện tử

là vấn đề cần phải được xem xét đồng thời Điều kiện để bảo đảm độ an toàn cho các giao dịch điện tử nói chung, hợp đồng thương mại điện tử nói riêng phải trên cơ sở ứng dụng công nghệ chứng thực và mã hoá

Trang 6

tạo sự an toàn

Thực tế cho thấy cũng như chữ kí tay,

chữ kí điện tử cũng có thể bị làm giả Tuy

nhiên, để ngăn chặn sự giả mạo nhằm bảo

đảm an toàn cho các giao dịch điện tử thì cần

phải nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chứng

thực và mã hoá để bảo vệ dữ liệu Công nghệ

chứng thực và mã hoá tạo sự an toàn là điều

kiện để chúng ta có được chữ kí điện tử với

hình thức phổ biến là chữ kí số (chữ kí được

sử dụng phương pháp mã hoá/mật mã để

nhận dạng người khởi tạo thông điệp dữ

liệu) Như vậy, việc bảo đảm tính toàn vẹn

và tính xác thực của thông điệp dữ liệu cơ

bản dựa vào độ an toàn của chữ kí số Chữ

kí số an toàn là chữ kí số được đăng kí và

được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực

chữ kí công cộng chứng thực thông qua

việc cấp chứng thư số Qua đó, các bên giao

dịch được cung cấp khoá công khai của

nhau để dùng nó mở thông điệp dữ liệu và

các chứng từ khác có liên quan đến hợp

đồng thương mại điện tử Tuy nhiên, để cẩn

thận trong giao kết và thực hiện hợp đồng

thương mại điện tử, các bên nên dựa trên

các phương tiện khác để kiểm tra chữ kí

điện tử, ví dụ như gọi điện trực tiếp cho

người kí trước khi giao kết

- Chú ý vấn đề thoả thuận áp dụng pháp

luật và cơ quan tài phán nước ngoài trong

giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Trường hợp các bên tham gia hoạt động

mua bán ở các nước có các giá trị xã hội,

thực tiễn, tập quán và hệ thống pháp lí khác

nhau thì việc hình thành hợp đồng và xác

định pháp luật nước nào để bảo vệ quyền lợi

cho mình là vấn đề hết sức phức tạp so với hợp đồng được kí kết giữa các bên ở trên cùng lãnh thổ, nhất là đối với những hợp đồng được kí kết thông qua phương tiện điện

tử Đối với hợp đồng thương mại điện tử, pháp luật áp dụng có thể là luật của nước mà người mua đang cư ngụ, của nước mà người bán đặt trụ sở hoặc là của nước mà máy chủ được đặt

Đối với những hợp đồng được giao kết

có nội dung sơ sài thì khi có tranh chấp, các yếu tố pháp luật, thói quen, tập quán và án lệ

sẽ hỗ trợ cho các bên Đây là cách kinh doanh giảm thiểu chi phí giao dịch được nhiều nước sử dụng nhưng thực tế chỉ thích hợp với các nước có điều kiện phát triển, nhất là các nước mà thói quen, tập quán thương mại đã định hình và ổn định

Để tránh rủi ro, trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử, ngoài việc chú ý lựa chọn pháp luật của nước mà có thể bảo vệ được quyền lợi cho mình một cách tốt nhất, khi đàm phán, trao đổi, thoả thuận về nội dung của hợp đồng cũng như lựa chọn luật

áp dụng, các bên nên sử dụng tư vấn để hiểu biết chắc chắn về ngành, hàng kinh doanh đồng thời nắm vững luật lệ, tập quán của các nước có liên quan./

(1) Tổ chức thứ ba là tổ chức trung gian được cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí số Để hoạt động, tổ chức này phải có giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí số công cộng do Bộ bưu chính viễn thông cấp và có chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí số quốc gia cấp

(2).Xem:“Vài nét về hợp đồng điện tử”, nguồn:

http:www.thanhhai.com

(3) Khoản 2 Điều 14 Luật giao dịch điện tử

Ngày đăng: 01/04/2014, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w