66 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng Số Đặc biệt © Học viện Ngân hàng ISSN 1859 011X Tìm hiểu về giáo dục khai phóng và khả năng ứng dụng tại Việt Nam Nguyễn Lan Anh Học viện Ngân hàng, Phân viện B[.]
Trang 1Tìm hiểu về giáo dục khai phóng và khả năng ứng
dụng tại Việt Nam
Nguyễn Lan Anh
Học viện Ngân hàng, Phân viện Bắc Ninh
Sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động mạnh mẽ, đòi hỏi sự đổi mới trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Bài viết giới thiệu về giáo dục khai phóng, những ưu điểm của mô hình này trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời chỉ ra một số yếu tố cần thiết để phát triển nền giáo dục khai phóng
Từ những phân tích và tổng kết kinh nghiệm của các trường đại học khai phóng trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam, bài viết phân tích khả năng ứng dụng triết lý giáo dục khai phóng tại Việt Nam nói chung và tại Học viện Ngân hàng nói riêng trong thời gian tới
Từ khóa: Cách mạng 4.0, Giáo dục đại học, Giáo dục khai phóng
1 Đặt vấn đề
của cuộc cách mạng công nghiệp lần 3, xã hội rất cần những con người tạo ra tri thức, thì cuộc cách mạng công nghiệp lần 4 cần những con người có tư duy toàn diện, để có thể thích nghi
với nhiều vị trí việc làm của doanh nghiệp Theo
dự báo của nhà tương lai học Thomas Frey, đến
năm 2030 khoảng 2 tỷ việc làm (50% công việc)
như hiện nay sẽ biến mất và sẽ có 80% công việc
mới, chưa từng xuất hiện ở thời điểm hiện nay
(Thái Hằng, 2019) Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) dự báo, trong 2 thập niên tới, khoảng 56%
số lao động tại 5 quốc gia Đông Nam Á, trong
đó có Việt Nam, có nguy cơ mất việc vì robot
(Đặng Đức Anh, 2018) Bởi thế, giáo dục đại
học (ĐH) muốn theo kịp xu hướng phát triển của
thời đại cần thay đổi chương trình và phương
pháp đào tạo, nhằm tạo ra những con người phát
triển toàn diện, không chỉ hiểu biết chuyên môn
sâu một lĩnh vực, mà cần trang bị phương pháp
tự học tập để thích ứng với những việc làm mới Giáo dục khai phóng là một hướng đi để giáo dục ĐH có thể đạt được mục tiêu này
Theo hiệp hội các trường ĐH và Cao đẳng Hoa
Kì (AAC&U): Giáo dục khai phóng là triết lí giáo dục trao cho mỗi cá nhân quyền tự do trong
tư tưởng nghiên cứu tìm tòi và đào sâu suy nghĩ
về một vấn đề, hiện tượng mà không bị cản trở bởi những lí lẽ giáo điều, những hệ ý thức
và các quan niệm có sẵn Hay theo quan niệm của Nguyễn Xuân Xanh (2018): Giáo dục khai phóng nhằm đào tạo con người toàn diện, phát triển nhiều khả năng, tạo nền tri thức rộng, tạo
ý thức lịch sử, nhân loại, để làm công dân, làm người văn hóa, hơn là một chuyên gia trong một lãnh vực chuyên môn Thay vì dạy sinh viên theo học một chuyên ngành cụ thể, ĐH khai phóng định hướng để sinh viên tự mở ra cơ hội
để học nhiều lĩnh vực khác nhau Như vậy, có thể coi giáo dục khai phóng là một hệ thống giáo dục cung cấp kiến thức rộng, nhằm khai mở mọi năng lực của người học, phát triển kỹ năng, có
Trang 2khả năng ứng dụng tri thức vào giải quyết những
vấn đề trong đời sống, đồng thời thúc đẩy ý thức
trách nhiệm với xã hội của người học Bởi vậy,
cách thức đào tạo theo mô hình khai phóng sẽ
giúp người học phát triển tốt hơn, hạn chế tình
trạng thất nghiệp do khả năng thích ứng cao
Các nội dung tiếp theo của bài viết đề cập tới
các vấn đề: Khái quát về giáo dục khai phóng và
những điều kiện để triển khai nền giáo dục khai
phóng; khả năng ứng dụng giáo dục khai phóng
tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số đề xuất để ứng
dụng triết lý khai phóng tại Học viện Ngân hàng
trong thời gian tới
2 Khái quát về giáo dục khai phóng
2.1 Sự phát triển của giáo dục khai phóng
Nền giáo dục khai phóng được xây dựng và phát
triển dựa trên khái niệm các môn khai phóng
trong thời Trung cổ, và gần hơn là chủ nghĩa tự
do trong thời Khai minh (Da Ly Nguyen, 2017)
Có thể khái quát sự phát triển của giáo dục khai
phóng thành 3 giai đoạn: (i) Giai đoạn sơ khai
(thời Hy Lạp cổ đại), mục đích của giáo dục
khai phóng thời kỳ này nhằm đào tạo những con
người tự do, có thể diễn thuyết, trình bày chính
kiến ở những nơi công cộng; (ii) Giai đoạn hình
thành (từ thế kỷ V đến thế kỷ XIX), do yêu cầu
của nền kinh tế thị trường và sự xuất hiện của
quá trình toàn cầu hóa, thời kỳ này giáo dục khai
phóng phát triển ở Châu Âu và Mỹ; (iii) Giai
đoạn phát triển (từ thế kỷ XX đến nay) Thời
kỳ này nền giáo dục khai phóng trỗi dậy do quá
trình toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ và do sự
phát triển của khoa học công nghệ, các phương
tiện truyền thông đặt ra nhu cầu đào tạo ra những
con người có kiến thức rộng, tư duy năng động,
cởi mở (Mortimer J Adler, 1976)
Các môn học khai phóng (artes liberales) theo
truyền thống được giảng dạy từ thời trung cổ
bao gồm hai phần Tam khoa (Trivium) gồm:
các môn ngữ pháp, thuật hùng biện và luận lý;
Tứ khoa (Quadrivium) gồm: số học, hình học,
thiên văn học, và âm nhạc Đến thời sơ kỳ Trung
Cổ, Augustin (354-430), khi liệt kê danh sách
bảy môn học khai phóng đã thay thiên văn học
bằng triết học (Mortimer J Adler, 1976) Mục
đích học các môn này là nhằm tạo ra những người có đạo đức, có tri thức, và có khả năng diễn đạt ý kiến của mình một cách lưu loát Ngày nay, nền giáo dục khai phóng không chỉ bao gồm tất cả các môn học truyền thống, mà còn có cả những môn khoa học mới xuất hiện
Giáo dục khai phóng khác với giáo dục nghề
chuyên môn, nó không bị trói buộc vào những môn học cụ thể nào đó Đặc trưng của mô hình này là đào tạo linh hoạt, cả chiều rộng cũng như chiều sâu của môn học, khuyến khích các môn liên ngành, tăng quyền lựa chọn cho sinh viên (Thùy Linh, 2017) Tuy nhiên vấn đề của giáo dục khai phóng không nằm ở việc học môn gì
mà là cách học như thế nào Điều này giúp cho người học có thể tiếp tục tự trau dồi thêm kiến thức ngay cả khi không còn học tại trường ĐH
Có thể coi phương pháp của giáo dục khai phóng là phương pháp nhấn mạnh vai trò của giáo dục toàn diện, nhằm phát triển năng lực trí tuệ, khả năng suy luận sâu sắc và độc lập, phát triển các kỹ năng nói, viết, thuyết phục dựa trên nền tảng kiến thức rộng gồm khoa học xã hội, nghệ thuật, khoa học tự nhiên Mục đích cơ bản nhất của nó là để phát triển những con người
tự do thoát khỏi mọi khuôn mẫu, độc lập trong
tư duy và nhận thức, để hướng tới sự sáng tạo không giới hạn (Mortimer J Adler, 1976)
Các chương trình khai phóng ngày nay được
cải biến rất đa dạng, nhưng nhìn chung bao gồm
4 lĩnh vực chính: (i) Nhân văn (Humanities): Văn học, Ngôn ngữ học, Lịch sử, Triết học,…; (ii) Khoa học xã hội (Social Sciences): Nhân chủng học, Kinh tế học, Xã hội học, Tâm lí học, Luật,…; (iii) Khoa học tự nhiên (Natural Sciences): Toán, Hoá, Sinh, Vật lý, Địa lý, Khoa học Trái đất, Khoa học Môi trường… và (iv) Nghệ thuật (Creative Arts): Lịch sử nghệ thuật, Kịch sân khấu, Âm nhạc, Nghệ thuật thị giác… Sinh viên sẽ được lựa chọn học những môn trong đủ 4 lĩnh vực này trước khi bước vào học giáo dục chuyên nghiệp Tuy các môn học
đã được điều chỉnh so với trước kia, nhưng nhìn chung chương trình khai phóng phải được thiết
kế hướng tới mục đích chung là: dạy cho sinh viên cách suy nghĩ chứ không chỉ là nội dung suy nghĩ, dạy cho học sinh biết cách học, chứ không chỉ là nội dung cần phải học Nghĩa là dạy
Trang 3cho sinh viên khả năng phản biện, sáng tạo, chứ
không phải chỉ là ghi nhớ và vận dụng (Nguyễn
Thị Từ Huy, 2019)
Phạm vi của giáo dục khai phóng thường mang
tính toàn cầu, nó có thể bao gồm chương trình
giáo dục tổng quát nhằm cung cấp cơ hội tiếp
cận nhiều lĩnh vực học thuật Bên cạnh đó cũng
có chương trình học chuyên sâu trong ít nhất
một lĩnh vực học thuật nào đó Bởi cách đào tạo
này nên các sinh viên tốt nghiệp từ các trường
ĐH khai phóng thường có cơ hội việc làm rất
rộng mở Trong cuộc khảo sát các CEO tại Mỹ,
74% nhà tuyển dụng đều cho rằng sinh viên tốt
nghiệp trường ĐH khai phóng có các kỹ năng
linh hoạt cần thiết để thích ứng với môi trường
làm việc thay đổi, các nhà tuyển dụng khẳng
định rất tin tưởng vào phương pháp giáo dục
khai phóng (Hà Cường, 2017)
Mặc dù ra đời ở châu Âu nhưng giáo dục khai
phóng lại phát triển hơn ở Mỹ, các trường ĐH
được đánh giá cao ở Mỹ đều đang đào tạo theo
chương trình khai phóng (Lâm Quang Thiệp,
2017) Số trường ĐH, cao đẳng của Mỹ đào tạo
theo mô hình khai phóng là 500/4.600 trường
(Thanh Hằng, 2017) Tuy nhiên, để thích ứng
với thời đại, bản thân các nền giáo dục khai
phóng cũng phải trải qua nhiều thay đổi Nền
giáo dục khai phóng của Mỹ ban đầu cũng
đưa vào chương trình giảng dạy các môn học
truyền thống Nhưng để đáp ứng đòi hỏi của
thực tiễn cần những con người thực dụng và biết
làm các công việc thực tế, nên hiện nhiều ĐH
khai phóng ở Mỹ cũng du nhập các ngành học
đào tạo chuyên nghiệp Bởi vậy, phần lớn các
trường đang dạy cả những ngành đặc thù lẫn
khai phóng, nhằm chuẩn bị cho sinh viên khả
năng đáp ứng cao với mọi sự thay đổi của môi
trường làm việc Hiện chương trình cử nhân của
các ĐH khai phóng của Mỹ gồm hai phần: giáo
dục đại cương (general education) và giáo dục
chuyên nghiệp (professional education) (Lâm
Quang Thiệp, 2017)
Hiện có 58 nước trên thế giới áp dụng giáo dục
khai phóng, trong đó nhiều nhất là ở châu Á, tiếp
đến là châu Âu gắn với quy trình Bologna1 (Lâm
1 Quy trình Bologna là các thỏa thuận chung giữa các
nước châu Âu nhằm đảm bảo sự tương đương về tiêu
chuẩn và chất lượng của trình độ giáo dục ĐH.
Quang Thiệp, 2017) Ở Châu Á, nhiều tổ chức nghiên cứu về giáo dục khai phóng được thành lập, với gần 40% các tổ chức giáo dục khai phóng trên thế giới không thuộc Hoa Kỳ đang được đặt ở châu Á (Trisha Craig, 2019)
2.2 Điều kiện để triển khai nền giáo dục khai phóng
Hiện việc áp dụng mô hình khai phóng tại các quốc gia phát triển cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau, khiến nó không trở nên phổ quát trên thế giới
Trước hết, đối với người thầy, để áp dụng
phương pháp giảng dạy theo tinh thần khai phóng thì người giảng viên cần những yêu cầu sau:
- Người thầy cần tăng cường thực hiện phương
pháp đối thoại nhằm khuyến khích sinh viên đưa
ra suy nghĩ của mình, kể cả điều đó có thể đối lập với bài giảng của thầy Giảng viên trong giáo dục khai phóng chỉ đóng vai trò tư vấn và gợi
mở ra kiến thức, còn sinh viên sẽ thảo luận tìm
ra chân lí cuối cùng nhận được nhiều sự đồng thuận (Nguyễn Xuân Hải, Bùi Duy Đô, 2020) Yếu tố cốt lõi của tinh thần khai phóng là tạo
ra con người tự do, hiểu biết bản thân, hiểu biết
xã hội và có trách nhiệm với cộng đồng, bởi vậy người thầy cần nắm bắt tinh thần đó để lan tỏa nó đến người học Phương pháp khai phóng yêu cầu thầy phải đưa người học vào vị thế chủ động, cùng với thầy thiết kế chương trình học
Vì vậy, quá trình giáo dục cần phải đề cao hoạt động đối thoại, bởi đó chính là một phương thức
để sinh viên trở thành chủ thể của quá trình giáo dục Phương pháp này nhằm khai phóng năng lực tư duy, tăng cường tính sáng tạo, sự và ham hiểu biết của sinh viên
- Người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn sinh viên tiếp nhận tri thức bằng cách sử dụng tối đa các phương tiện trực quan nhằm khơi dậy trong sinh viên tinh thần chủ động học tập, khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi phản biện Đặc biệt, trong điều kiện sinh viên có nhiều nguồn tiếp cận thông tin như hiện nay, giảng viên phải giúp sinh viên định hướng về chất lượng và ý nghĩa của nguồn thông tin mà họ quan tâm và đang tự tìm hiểu bên ngoài giáo trình Giảng viên cũng
Trang 4cần trở thành người hỗ trợ có hiệu quả trong
quá trình tự đọc, tự học của sinh viên, đồng thời
khuyến khích họ đưa ra cách hiểu mới với cùng
một vấn đề họ tìm hiểu được trên mạng internet
- Giảng viên cần cập nhật kịp thời những xu
hướng mới của khoa học và thời đại, để có thể chỉ
dẫn, khai sáng và thúc đẩy người học phát huy
tối đa khả năng của mình Muốn vậy, bản thân
giảng viên cũng cần học rộng, biết nhiều và có
khả năng nắm bắt tri thức không chỉ của ngành
mình mà còn của các ngành khoa học khác Bởi
nền giáo dục khai phóng sẽ trang bị tâm thế học
tập thường xuyên và suốt đời, qua đó sinh viên
sẽ được học những kỹ năng cần thiết để thích
ứng trước những thay đổi nhanh chóng của thị
trường việc làm Theo đó, giảng viên cần có vốn
sống phong phú từ thực tiễn cuộc sống, mới giúp
cho người học nhanh chóng kết nối với những
chuyển động của xã hội Chương trình giảng dạy
vì vậy phải thực tế, nắm bắt được xu thế biến
động của thực tiễn Nội dung giảng dạy cũng
phải liên tục đổi mới, cập nhật những tri thức
mới Trên thực tế, những người thầy được đánh
giá cao trong nền giáo dục khai phóng thường là
người có kiến thức tích hợp liên môn, người có
học vấn rộng và sâu, phương pháp tiếp cận liên
ngành
Có thể thấy, để đáp ứng được phương pháp giáo
dục mang tinh thần khai phóng, người thầy cũng
cần rất nhiều yếu tố như năng lực nghiên cứu,
kiến thức phong phú, tư duy sắc bén và đặc biệt
là kỹ năng truyền cảm hứng đến với người học
Như thế, mới có thể tạo ra những cá nhân có
năng lực tốt, đóng góp tích cực vào sự phát triển
của bản thân sinh viên và xã hội
Đối với người học, yêu cầu đối với sinh viên
trong nền giáo dục khai phóng là khả năng tự
học Thời gian tự học là yếu tố đóng vai trò quyết
định hơn cả đến kết quả học tập của người học
Giáo sư Ngô Bảo Châu sau nhiều năm nghiên
cứu tại Pháp và hiện đang giảng dạy tại ĐH
Chicago (Mỹ), cũng rất ủng hộ giáo dục khai
phóng và đánh giá cao phương pháp học tập của
sinh viên trong các trường ĐH khai phóng Ông
nhận thấy sinh viên Mỹ dành nhiều thời gian cho
việc tự học hơn nên sau 4 năm thành tích của họ
thường vượt hơn sinh viên Pháp và Việt Nam,
dù đầu vào thấp hơn (Phương Hòa, 2016)
Về chi phí để thực hiện giáo dục khai phóng, để
đạt được mục đích của giáo dục khai phóng, số sinh viên trong lớp học cũng phải nhỏ để đảm bảo phương pháp đối thoại và tương tác giữa người dạy và người học nhằm đạt được hiệu quả mong muốn Bởi vậy chi phí cho một nền giáo dục khai phóng không phải trường ĐH/ người học nào cũng có thể chi trả được Việc trả lương cho các giảng viên toàn thời gian để dạy
về tư duy phản biện, viết, học tập từ trải nghiệm, tương tác dựa trên đối thoại cho một nhóm nhỏ sinh viên là hình thức giáo dục đắt đỏ (Trisha Craig, 2019) Chính vì vậy, nếu không được sự tài trợ của nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ thì các trường ĐH khó có thể áp dụng hoàn toàn mô hình khai phóng Thậm chí, trường ĐH khai phóng nếu không có sự định hướng đúng đắn sẽ khiến cho nhiều phụ huynh và sinh viên nghĩ rằng đây là xu hướng đào tạo dàn trải, không chuyên sâu và không có định hướng rõ ràng về nghề nghiệp trong tương lai
3 Khả năng ứng dụng giáo dục khai phóng tại Việt Nam
3.1 Giáo dục khai phóng tại Việt Nam
Đầu thập niên 90 tại Việt Nam đã xây dựng mô hình trường ĐH đại cương, dạy những kiến thức
cơ bản trước khi chuyển sang đào tạo chuyên ngành (gần giống với mô hình giáo dục khai phóng của Mỹ) Tuy nhiên, mô hình này không duy trì được lâu Đến nay đã có những cải cách trong chương trình học, hầu hết các trường ĐH của Việt Nam đã quay trở lại với mô hình học hai giai đoạn gồm đại cương và chuyên ngành, đồng thời đã chuyển sang hình thức giảng dạy theo tín chỉ Tuy nhiên, ý nghĩa thực sự của việc dạy học theo tín chỉ khi chia ra nhiều môn là để sinh viên lựa chọn môn học phù hợp Nhưng hầu như số môn học theo tín chỉ trong giai đoạn học đại cương cũng không khác học niên chế, sinh viên học hết môn này thì mới được đăng ký môn kia và không có nhiều sự lựa chọn
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh là trường ĐH đầu tiên tại Việt Nam đưa giáo dục khai phóng vào triết lý giáo dục vào năm 2015 (Đỗ Minh Hiếu,
Trang 52020) Tiếp đến có thêm ĐH Fulbright Việt
Nam, ĐH Việt- Nhật thuộc ĐH Quốc gia Hà
Nội Sau có thêm ĐH Tân Tạo, ĐH FPT, ĐH
Duy Tân, ĐH Phú Xuân, ĐH Việt Đức, ĐH
Thái Bình Dương (Đại học Thái Bình Dương,
2021) tuyên bố đề cao tinh thần khai phóng
và áp dụng triển khai mô hình giáo dục ĐH khai
phóng Tùy theo điều kiện và khả năng mà các
trường áp dụng đến bậc thang nào theo định
nghĩa giáo dục khai phóng
Với ĐH Fulbringt, kế thừa truyền thống của các
trường ĐH khai phóng của Mỹ Chương trình
đào tạo cũng có 2 giai đoạn, hai năm đầu là giai
đoạn học đại cương, 2 năm sau sẽ bắt đầu vào
học các môn chuyên ngành Các môn học trong
giai đoạn đại cương có thể kể đến như: Khám phá
TP Hồ Chí Minh, Khám phá Xã hội: Bản ngã
Con người, Các Xã hội và Văn hoá , Khám phá
Thế giới Tự nhiên, Nghệ thuật Biện luận: Viết
và Giao tiếp, Suy luận Lô-gic, Sáng tạo và Kiến
tạo, Việt Nam học (Đại học Fulbringt, 2021)
Các môn học trong giai đoạn đại cương này có
sự cải biến phù hợp với điều kiện xã hội và tâm
lý sinh viên Việt Nam, nhưng vẫn hướng đến
mục tiêu giúp cho sinh viên có kiến thức rộng,
có tầm nhìn và khả năng thích ứng cao Có thể
thấy, nền giáo dục khai phóng không cố định ở
một môn học cụ thể nào cả, việc lựa chọn dạy
môn học nào phụ thuộc vào triết lý giáo dục của
từng trường và do bối cảnh xã hội
3.2 Khả năng ứng dụng giáo dục khai phóng
tại Việt Nam
Hiện nay số lượng các trường áp dụng mô hình
khai phóng ở Việt Nam chưa nhiều, nhưng có
thể thấy đây là hướng đi cần tham khảo Để áp
dụng rộng rãi mô hình giáo dục khai phóng vào
Việt Nam là điều rất khó khăn, tốn kém và cần
nhiều thời gian do đa số các trường ĐH tại Việt
Nam là ĐH đơn ngành Nếu muốn chuyển sang
đào tạo theo mô hình khai phóng, các trường ĐH
này cần điều chỉnh để tiến tới đào tạo đa ngành
Các ngành học tại một số trường ĐH đa ngành
cũng đang quen với việc chỉ tập trung vào đào
tạo chuyên sâu một chuyên ngành hẹp Trong
khi giáo dục khai phóng coi trọng kiến thức liên
ngành, đào tạo theo chiều rộng, nhằm cung cấp
cho sinh viên kiến thức nền phong phú, hướng tới đào tạo những con người tư duy sáng tạo và
có tầm nhìn hướng ra thế giới Giáo sư Ngô Bảo Châu cũng cho rằng: do điều kiện kinh tế nên việc áp dụng mô hình giáo dục khai phóng vào Việt Nam thời điểm này chưa phù hợp, nhưng sớm muộn gì Việt Nam cũng phải hình thành những ngôi trường này (Phương Hòa, 2016)
Để tiếp cận với mô hình giáo dục khai phóng, các trường ĐH Việt Nam cần từng bước đổi mới
cơ chế quản lý đào tạo, chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao đội ngũ giảng viên… Trong đó, yếu tố quan trọng hơn cả là xây dựng đội ngũ giảng viên Bởi giảng viên là người trực tiếp thực hiện quá trình giảng dạy và đào tạo nguồn nhân lực Giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên, đồng thời áp dụng phương pháp giảng dạy theo tinh thần khai phóng là lựa chọn phù hợp với đa số các trường
ĐH Việt Nam, để có thể bắt tay vào việc đào tạo theo mô hình khai phóng
3.3 Áp dụng triết lý khai phóng tại Học viện Ngân hàng
Trong những năm qua, Học viện Ngân hàng (HVNH) cùng các Phân viện trực thuộc đã có
sự phát triển mạnh mẽ và hướng đến trở thành trường ĐH đa ngành Từ một trường đào tạo đơn ngành, đến nay HVNH đã trở thành một trường
ĐH đa ngành với 9 ngành đào tạo trong nước và
3 chương trình liên kết đào tạo quốc tế Hiện Nhà trường cũng đang tích cực thực hiện quá trình chuyển đổi “số”, phát triển “môi trường số” cho các hoạt động quản trị, đào tạo và nghiên cứu khoa học trong toàn hệ thống, nhằm bắt kịp xu hướng của cuộc cách mạng nghiệp 4.0 HVNH cũng có nhiều giải pháp khuyến khích đội ngũ giảng viên học tập, nâng cao trình độ và tạo điều kiện để cả giảng viên và sinh viên cùng tích cực tham gia nghiên cứu khoa học Quá trình
tổ chức giảng dạy của giảng viên cũng thường xuyên được cải tiến giúp cho hoạt động học tập ngày càng hiệu quả và thiết thực hơn Hoạt động giảng dạy luôn hướng đến mục tiêu lấy người học làm trung tâm, phương pháp thảo luận, làm việc theo nhóm thường xuyên diễn ra trong mỗi
Trang 6tiết học Đồng thời, lãnh đạo Học viện cũng
luôn tạo thuận lợi để giảng viên và sinh viên
được tham gia thực tế và thực tập tại các doanh
nghiệp, giúp cả thầy và trò có cơ hội trải nghiệm
môi trường làm việc chuyên nghiệp Bởi vậy, tỷ
lệ sinh viên của HVNH có việc làm ngay khi ra
trường trong nhiều năm qua đều trên 90% (Học
viện Ngân hàng, 2021) Đây chính là những yếu
tố cho thấy HVNH đang hướng đến trở thành
một trong những trường ĐH hàng đầu trong đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội
Tuy nhiên, thế giới đang bước vào thời đại
mà lượng thông tin được cung cấp với quy mô
lớn, tốc độ truyền tải nhanh chóng HVNH cần
thường xuyên cập nhật xu hướng đào tạo mới,
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, đáp ứng
nhu cầu của thời kỳ mới Trong thế kỷ 21, người
học cần phải được trang bị năng lực đổi mới và
nhu cầu nhận được một nền tảng kiến thức rộng
và liên ngành (Philip G Albatch, 2016) Nếu
chỉ đào tạo chuyên sâu một chuyên ngành nhất
định, người học có thể được đánh giá cao khi
mới ra trường, tuy nhiên khi xã hội biến động,
vị trí việc làm thay đổi người lao động sẽ khó
thích nghi với môi trường làm việc mới, dẫn đến
nguy cơ thất nghiệp Đây là lý do HVNH cần
cân nhắc áp dụng giáo dục khai phóng nhằm
giúp sinh viên có những phương thức học tập đa
dạng, kiến thức nền tảng vững vàng, có thể đáp
ứng được sự thay đổi của nhu cầu của công việc
trong tương lai
Hiện chương trình đạo tạo cử nhân của HVNH
đã được phân chia thành hai phần gồm: Kiến
thức giáo dục đại cương (36 tín chỉ) và kiến thức
giáo dục chuyên nghiệp (94 tín chỉ) Các môn
học trong phần kiến thức giáo dục đại cương
hầu như đều là các môn bắt buộc và sinh viên
không được lựa chọn môn học trong giai đoạn
học đại cương Chỉ sang đến phần kiến thức cơ
sở khối ngành và ngành mới có các môn học cho
sinh viên chọn lựa, nhưng hầu hết các môn tự
chọn này đều nhằm bổ trợ cho việc học tập các
chuyên ngành hẹp Để hướng tới đào tạo những
con người có kiến thức rộng, tư duy sáng tạo và
có tầm nhìn hướng ra thế giới, nhà trường cần
phải tham khảo các chương trình đào tạo của các
trường ĐH đã áp dụng thành công mô hình khai
phóng trên thế giới
Trong điều kiện của HVNH hàng hiện nay, Nhà trường nên nghiên cứu (i) Bổ sung thêm các môn học kỹ năng hoặc học theo chuyên đề vào chương trình đại cương và có thể cho sinh viên tự đăng ký học các môn mà sinh viên thấy phù hợp Các môn học đó phải hướng tới rèn luyện kỹ năng, tư duy và tầm nhìn rộng lớn cho người học; (ii) Nhà trường cần thay đổi phương pháp thi và ra đề thi Đối với các môn học phù hợp nên thay việc thi hết môn chỉ bằng một bài kiểm tra bằng cách yêu cầu người học giải quyết các vấn đề cụ thể có trong thực tiễn Với các môn lý thuyết, cần hạn chế những câu hỏi thi chỉ yêu cầu ghi nhớ, hiểu, mà cần tập trung kiểm tra năng lực của sinh viên qua những câu hỏi yêu cầu vận dụng và sáng tạo, nhằm hướng đến phương pháp học tập tích cực, chủ động; (iii) Tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm dành cho sinh viên và có mời các chuyên gia, các diễn giả, hay những doanh nhân thành đạt để sinh viên có cơ hội học hỏi, tiếp xúc với những người thành công Từ đó, tạo động lực học tập, nghiên cứu; khai sáng tâm trí; khơi dậy trong sinh viên mong muốn thành công và giúp các
em hoạch định tốt hơn những kế hoạch của mình trong tương lai; (iv) Học viện cũng cần phổ biến
về những giá trị của phương pháp giáo dục khai phóng để cả giảng viên và sinh viên cùng thực hành và hướng tới Bởi để áp dụng hiệu quả phương pháp khai phóng, cả giảng viên và sinh viên đều phải nắm được mục đích, ý nghĩa của giáo dục khai phóng, từ đó mới có sự chuyển biến mạnh mẽ trong phương pháp giảng dạy và học tập Về phía giảng viên bên cạnh việc tự trau dồi trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức thực tiễn thì cần đổi mới về phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của nền giáo dục khai phóng
Về phía sinh viên, cần nâng cao tinh thần chủ động trong học tập, khả năng tự học, tự nghiên cứu Đồng thời sinh viên cũng cần tăng cường tương tác với giáo viên khi lên lớp, để đạt được hiệu quả tối ưu của phương pháp khai phóng Như vậy, trong điều kiện hiện nay của HVNH,
để hướng tới đào tạo những con người chủ động, sáng tạo, có thể thích nghi với những biến động của xã hội, nhà trường cần từng bước đổi mới nội dung chương trình và bổ sung một số môn học, đồng thời tiến hành phương pháp giảng
Trang 7dạy theo tinh thần khai phóng Đây chính là một
trong những hướng đi mới giúp nhà trường tiếp
tục trở thành một trong những cơ sở giáo dục
chất lượng của cả nước, sản phẩm đào tạo được
các doanh nghiệp đánh giá cao, đồng thời góp
phần tạo ra nhiều giá trị tốt đẹp cho xã hội
4 Kết luận
Không có mô hình giáo dục nào là tối ưu, phù
hợp với mọi sinh viên và mọi xã hội Tuy nhiên,
trong thời đại cách mạng 4.0, khi các vị trí việc
làm có nhiều biến động, các trường ĐH cần cân
nhắc áp dụng triết lý giáo dục khai phóng nhằm
đào tạo những con người có năng lực tự phát
triển kiến thức để sẵn sàng thích nghi với những
thay đổi Bởi, sứ mệnh của giáo dục ĐH xét cho cùng để “giúp cho người học hiểu được và quản lí được những thay đổi đang diễn ra trong
xã hội” (Nguyễn Xuân Hải, Bùi Duy Đô, 2020),
từ đó sinh viên sẽ có khả năng định hướng cho cuộc đời của mình trước mọi biến động của cuộc sống
Giáo dục theo triết lý khai phóng sẽ giúp mỗi sinh viên phát huy cao độ năng lực cá nhân nhằm thích ứng linh hoạt với mọi môi trường làm việc Đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp giáo dục ĐH không phải chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu, mà còn là trung tâm đổi mới, sáng tạo, giải quyết những vấn đề thực tiễn nhằm mang lại giá trị lâu dài cho xã hội ■
Tài liệu tham khảo
Đại học Fulbringt (2021), Chương trình đào tạo của Fulbright, truy cập ngày 8/8/2021 trên trang https://fulbright.edu.vn/ Đại học Thái Bình Dương (2021), Đại học đầu tiên ở Khánh Hòa theo mô hình giáo dục khai phóng với hệ thống tin chỉ, truy cập ngày 15/7/2021 trên trang https://tbd.edu.vn/
Đặng Đức Anh (2018), Chất lượng nguồn nhân lực lao động Việt Nam trước tác động cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, truy cập ngày 2/7/2021, http://ncif.gov.vn/.
Da Ly Nguyen (2017), Tổng quát nhất về nền giáo dục khai phóng (liberal education), truy cập ngày 15/7/2021, tại trang https://diyeducationproject.wordpress.com/.
Đỗ Minh Hiếu (2020), Triết lý giáo dục khai phóng và ý nghĩa của nó đối với nền giáo dục của Việt Nam hiện nay, Khóa Luận tốt nghiệp, Đại học KHXH&NV Hà Nội.
Hà Cường (ghi lại, 2017), Giáo dục khai phóng: Sinh viên có khả năng học hỏi đa dạng các lĩnh vực nghiên cứu, truy cập ngày 26/6/2021, https://dantri.com.vn/
Học viện ngân hàng (2021), Vị trí việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, Truy cập ngày 15/7/2021 trên trang https:// www.hvnh.edu.vn/.
Lâm Quang Thiệp (2017), Đào tạo đại học không nên được quan niệm chỉ là đào tạo nghề, truy cập ngày 25/6/2021 trên trang: http://giaoduc.net.vn/
Mortimer J Adler (1976, Phạm Viêm Phương & Mai Sơn dịch và chú thích), Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội.
Nguyễn Xuân Xanh (2018), Tại sao cần giáo dục khai phóng, truy cập ngày 24/6/2021, trên trang: https://rosetta.vn/ nguyenxuanxanh/.
Nguyễn Thị Từ Huy (Phan Văn Thắng phỏng vấn, 2019), Khai phóng giáo dục: Khai phóng chính mình, khai phóng mỗi
cá nhân, truy cập ngày 24/6/2021, trên trang http://www.vanhoanghean.com.vn/
Nguyễn Xuân Hải, Bùi Duy Đô (2020), Giáo dục khai phóng và một số khuyến nghị thực hiện đào tạo hai giai đoạn ở trường đại học Thủ đô Hà Nội, Tạp chí Khoa học, số 41/2020, trang 59-69.
Philip G Albatch (2016), Giáo dục khai phóng cổ điển và ảnh hưởng toàn cầu, Tạp chí Giáo dục Đại học Quốc tế, số 84/2016 Phương Hòa (2016), GS Ngô Bảo Châu: ‘Sinh viên Mỹ tiến bộ nhanh vì tự học nhiều’, truy cập ngày 25/7 trên trang https://vnexpress.net/.
Thùy Linh (2017), Thế nào là “giáo dục đại học khai phóng”?, truy cập ngày 20/6/2021 trên trang https://giaoduc.net.vn/ Thanh Hằng (2017), Giáo dục khai phóng: Giải phóng cho giáo dục, truy cập ngày 23/6/2021, trên trang https:// nhipcaudautu.vn/.
Trisha Craig (2019), Đối mặt những Thách thức trong Giáo dục Khai phóng ở châu Á, truy cập ngày 20/7/2021, trên trang https://fulbright.edu.vn/.
Thái Hằng (2019), Giải bài toán quản trị nhân sự thời Cách mạng công nghiệp 4.0, truy cập ngày 10/7/2021, trên trang https://nif.mof.gov.vn/.