1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật sử dụng trong sản xuất chế phẩm xử lý bã thải sau cbtbs làm thức ăn chăn nuôi 1

59 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật sử dụng trong sản xuất chế phẩm xử lý bã thải sau CBTN làm thức ăn chăn nuôi 1
Tác giả Nguyễn Trung Anh
Người hướng dẫn Th.S Hứa Thị Sơn
Trường học Viện Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Công Nghệ Sinh Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sản lượng dồi dào, sắn được sử dụng làm nguyện liệu cho các nhàmáy CBTBS và các sản phẩm từ tinh bột sắn như: bột ngọt, bio-ethanol, bao bì, phụ gia thực phẩm, bánh kẹo, mỳ ăn liền,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Hứa Thị Sơn,nghiờn cứu viên Bộ môn Sinh học Môi trường – Viện Môi trường Nôngnghiệp; các cán bộ Bộ môn Sinh học Sinh học Môi trường – Viện Môi trườngNông nghiệp đã nhiệt tình hướng dẫn em thực hiện đề tài và hoàn thành khóaluận

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Công nghệ Sinh học –Viện Đại học Mở Hà nội đã tận tình dạy bảo em trong suốt 4 năm học vừaqua

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người đóluụn động viên, khuyến khích, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đềtài

Hà nội, ngày 19 tháng 5 năm 2012

Sinh viênNguyễn Trung Anh

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU

DANH MỤC CÁC HèNH

MỞ ĐẦU 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Phần I: TỔNG QUAN 4

1 Tình hình sản xuất chế biến tinh bột sắn trong và ngoài nước 4

1.1 Tình hình chế biến tinh bột sắn trên thế giới 4

1.2 Tình hình chế biến tinh bột sắn trong nước 5

2 Tình hình chất thải và ảnh hưởng của chất thải sau CBTBS tới môi trường 8

2.1 Sơ đồ quy trình công nghệ CBTBS 8

2.2 Tình hình chất thải sau CBTBS 9

2.3 Ảnh hưởng của chế biến sắn tới môi trường 10

2.4 Một số phương pháp xử lý bã sắn 11

2.4.1 Phương pháp vật lý 12

2.4.2 Phương pháp vi sinh 12

3 Một số VSV có khả năng phân giải tinh bột, cellulose và làm giàu protein13 3.1 Vi sinh vật phân giải tinh bột 13

3.2 Vi sinh vật phân giải cenlulose 14

3.3 Vi sinh vật làm giàu protein 14

3.4 Đặc điểm hình thái của nấm mốc Aspergillus ozyzae và Monascus 15

3.4.1 Đặc điểm hình thái nấm Aspergillus ozyzae 15

3.4.2 Đặc điểm hình thái nấm Monascus 16

3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm mốc 19

3.5.1 Dinh dưỡng của nấm mốc 19

Trang 3

3.5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi mốc [16,17,18,19] 20

4 Ứng dụng của các VSV phân giải amylase, protein, xenllulose 21

Phần 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

1 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu 23

1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

1.2 Môi trường nghiên cứu 23

1.3 Dụng cụ thí nghiệm, thiết bị máy móc 24

2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.1 Kiểm tra mật độ vi sinh vật bằng phương pháp Koch 24

2.2 Phương pháp soi kính 25

2.3 Phương pháp kiểm tra hoạt tính các chủng vi sinh vật 25

2.3.1 Phương pháp xác định khả năng thủy phân tinh bột:(Theo phương pháp của Cowan và Steel 1990)[13,22] 25

2.3.2 Phương pháp xác định khả năng phân giải Cellulose: (theo phương pháp của Ogundero-1982 có cải tiến)[13,22] 26

2.4.Phương pháp kiểm tra sự ảnh hưởng của các điều kiện nuôi cấy các chủng vi sinh vật 27

2.4.1 Ảnh hưởng của nguồn cơ chất 27

2.4.2 Ảnh hưởng thời gian nuôi cấy 27

2.4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ 27

2.4.4 Ảnh hưởng của độ ẩm ban đầu 27

2.4.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ giống ban đầu 27

2.4.6 Ảnh hưởng của độ dày khối ủ 28

2.4.7 Ảnh hưởng của mật độ đảo trộn trong quá trình nuôi 28

2.4.8 Ảnh hưởng của khoáng chất 28

2.5 Đánh giá khả năng tổ hợp của các chủng vi sinh vật sử dụng làm chế phẩm xử lý bã sắn làm thức ăn chăn nuôi 29

Phần 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

Trang 4

1 Đặc điểm hình thái khuẩn lạc của các chủng vi sinh vật tuyển chọn làm chế phẩm xử lý phế thải nhà máy chế biến tinh bột sắn làm thức ăn chăn nuôi

30

2 Hoạt tính sinh học của các chủng vi sinh vật tuyển chọn làm chế phẩm xử

lý phế thải nhà máy tinh bột sắn làm thức ăn chăn nuôi 32

3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của VSV trong sản xuất chế phẩm xử lý bã thải sau CBTBS làm thức ăn chăn nuôi 34

3.1 Ảnh hưởng của nguồn cơ chất 34

3.2 Sự ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy 35

3.3 Sự ảnh hưởng của nhiệt độ 36

3.4 Sự ảnh hưởng của độ ẩm ban đầu 37

3.5 Sự ảnh hưởng của tỷ lệ giống ban đầu 38

3.6 Sự ảnh hưởng của độ dày khối ủ 39

3.7 Sự ảnh hưởng của mật độ đảo trộn trong quá trình nuôi 39

3.8 Sự ảnh hưởng của các khoáng chất 40

3.8.1 Ảnh hưởng của nồng độ NaNO 3 41

3.8.2 Ảnh hưởng của nồng độ KCl 41

3.8.3 Ảnh hưởng của nồng độ MgSO 4 42

4 Khả năng tạo sinh khối nấm A ozyzae A1 và M purpureus MA1 trên môi trường cám trấu với các điều kiện nuôi cấy tối ưu 43

5 Xác định khả năng tổ hợp 2 chủng Monascus purpureus MA1 và A.ozyzae A1 trên môi trường bã sắn 44

Phần 4: KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 5

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 6

DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới từ năm 2002 – 2009

[29] 5

Bảng 2: Dạng chất thải và ảnh hưỏng của chúng tới môi trường trong chế biến tinh bột sắn ở cỏc khõu chế biến khác nhau 11

Bảng 3: Đặc điểm hình thái khuẩn lạc các chủng vi sinh vật tạo chế phẩm xử lý phế thải nhà máy tinh bột sắn làm thức ăn chăn nuôi 30

Bảng 4: Khả năng phân giải tinh bột, cellulose của các chủng vi sinh vật lựa chọn 33

Bảng 5: Khả năng sinh trưởng của vi sinh vật trờn các nguồn cơ chất khác nhau 34

Bảng 6: Ảnh hưởng của thời gian lên men đến sự tạo sinh khối nấm mốc 35

Bảng 7: Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi đến sự tạo sinh khối mốc 36

Bảng 8: Ảnh hưởng của độ ẩm không khí tới số lượng bào tử tạo thành 37

Bảng 9: Ảnh hưởng của tỷ lệ giống tới số lượng bào tử tạo thành 38

Bảng 10: Ảnh hưởng của độ dày khối ủ tới sự tạo sinh khối mốc 39

Bảng 11: Ảnh hưởng của mật độ đảo trộn tới sự tạo sinh khối mốc 40

Bảng 12: Ảnh hưởng của nồng độ NaNO 3 tới sinh trưởng của vi sinh vật 41

Bảng 13: Ảnh hưởng của nồng độ KCl tới sinh trưởng của vi sinh vật 42

Bảng 14: Ảnh hưởng của nồng độ MgSO 4 tới số lượng bào tử tạo thành 42

Bảng 15: Khả năng tạo sinh khối nấm A ozyzae A1 và M purpureus MA1 trên môi trường cám trấu MCT và MCT * 43

Bảng 16: Khả năng tổ hợp 2 chủng Monascus purpureus MA1 và A.ozyzae A1 trên môi trường bã sắn 45

Trang 7

DANH MỤC CÁC HèNH

Hình 1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các Việt Nam năm

2000-2010 [30] 7

Hình 2: Sơ đồ quy trình công nghệ chế biến tinh bột sắn 9

Hình 3: Sơ đồ cân bằng chất trong chế biến tinh bột sắn 9

Hình 4: Chu kì sinh sản của nấm Monascus anka 17

Hình 5: Chủng Aspergillus ozyzae A1 trên môi trường PDA sau 7 ngày nuôi cấy 32

Hình 6: Hình thái tế bào chủng nấm mốc Aspergillus ozyzae A1 dưới kính hiển vi quang học, độ phóng đại 400 lần 32

Hình 7: Chủng MA1 trên môi trường PDA sau 9 ngày nuôi cấy 33

Hình 8: Hình thái tế bào chủng nấm mốc MA1 dưới kính hiển vi quang học, độ phóng đại 400 lần 33

Hình 9: Vòng thủy phân tinh bột của chủng nấm Aspergillus A1 34

Hình 10: Vòng thủy phân tinh bột và Cellulose của chủng nấm sợi MA1 35

Trang 8

MỞ ĐẦU

Nước ta là một quốc gia có hơn 70% dân số làm nông nghiệp với 2ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi Các sản phẩm của quá trình trồng trọt

đã góp phần không nhỏ phục vụ nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi

Thức ăn chăn nuôi được sản xuất từ các cây lương thực chính như: gạo,ngô, sắn, đậu tương… Sắn là cấy lương thực quan trọng thứ 3 sau lúa và ngô.Tính đến năm 2010 cả nước ta đó cú khoảng 500 nghìn ha trồng sắn, với năngsuất đạt khoảng 17 tấn/ha

Với sản lượng dồi dào, sắn được sử dụng làm nguyện liệu cho các nhàmáy CBTBS và các sản phẩm từ tinh bột sắn như: bột ngọt, bio-ethanol, bao

bì, phụ gia thực phẩm, bánh kẹo, mỳ ăn liền, bún, miến, dược phẩm,… Hơnnữa, một xu hướng mới đó là dùng sắn làm nhiên liệu sinh học đang được mởrộng ở các quốc gia phát triển

Nhu cầu lớn, đẩy giá sắn lên cao nên nhiều người dân đã chuyển hướngsang nghề trồng sắn Hàng loạt các cơ sở chế biến và các nhà máy CBTBS đãmọc lên Chất thải rắn của quá trình CBTBS chiếm khoảng hơn 20% lượngnguyên liệu đầu vào Chất thải rắn không được thu gom, xử lý gây ra mùi khóchịu cho công nhân và gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường Nhiềunước trên thế giới đã áp dụng khoa học kỹ thuật để xử lý chất thải rắn này làmthức ăn chắn nuôi Nhưng ở Việt Nam việc xử lý làm thức ăn chăn nuôi cònnhiều hạn chế và chưa đạt hiệu quả cao

Trong khi đó để duy trì và phát triển đàn gia súc, gia cầm thì chúng tađang thiếu trầm trọng nguồn thức ăn cho chúng, theo Bộ Nông Nghiệp vàPhát triển Nụng thôn cho biết, hiện nay nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôitrong nước chỉ đáp ứng được khoảng 70% so với nhu cầu, còn lại phải nhập

Trang 9

khẩu để bổ sung Trong nhiều năm qua, nhu cầu nhập khẩu thức ăn chăn nuôiliên tục tăng Nếu như năm 2001, kim ngạch nhập khẩu thức ăn chỉ là 200triệu USD thì đến năm 2006, kim ngạch nhập khẩu đã tăng gấp 4 lần, đạt 800triệu USD Kết thúc quý III năm 2007, kim ngạch nhập khẩu thức ăn đã lênđến 902 triệu USD, tăng 56% so với cùng kỳ năm trước Vì vậy các biện pháptận thu, chế biến, bảo quản nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp đã trở thànhviệc làm cần thiết để tạo nguồn thức ăn thô có giá trị phục vụ cho chăn nuôi[1,3,10]

Chất thải rắn sau CBTBS có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, lànguồn thức ăn lý tưởng phục vụ chăn nuôi nếu được xử lý bằng tác nhânVSV, vừa làm giảm ô nhiễm môi trường , tiết kiệm được chi phí cho chănnuôi lại vừa làm đa dạng thức ăn chăn nuôi

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật sử

dụng trong sản xuất chế phẩm xử lý bã thải sau CBTBS làm thức ăn chăn nuôi”.

Trang 10

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Tuyển chọn được bộ chủng vi sinh vật có khả năng phân giải hợp chấtcacbonhydrat (cenlulose, tinh bột), sinh tổng hợp protein

2 Xác định được khả năng tổ hợp của các chủng vi sinh vật sử dụngtrong sản xuất chế phẩm xử lý phế thải CBTBS dạng rắn làm thức ăn chănnuôi

Trang 11

Sản lượng sắn trên thế giới năm 2009 là 248,23 triệu tấn, tương đươngvới mức tiêu thụ 35kg/người/năm Trong đó tỷ lệ sử dụng khoảng 58% làmlương thực cho người, 28% làm thức ăn cho gia súc, 3% làm nguyên liệu chocông nghiệp và 11% bị hao hụt cho một số hoạt động sản xuất khác Hàngnăm, lượng sắn sản xuất ở châu Á vào khoảng 48 triệu tấn Trong đó, TháiLan là 18 triệu tấn, Indonexia là 15 triệu tấn, Ấn Độ là 6 triệu tấn, TrungQuốc là 4 triệu tấn và Việt Nam là 2 triệu tấn Khoảng 33-60% sản lượng nàyđược chế biến cho ngành công nghiệp như làm tinh bột và làm thức ăn chănnuôi Tinh bột được chế biến ở các nước này có quy mô khác nhau, từ quy mô

hộ gia đình, các cơ sở chế biến cỡ nhỏ đến các nhà máy cỡ lớn hiện đại TháiLan được coi là nước có công nghiệp chế biến sắn phát triển nhẩt thế giới vớicác xí nghiệp chế biến cỡ lớn, lượng tinh bột được chế biến ở đây là 1,6-1,8triệu tấn sản phẩm/năm, mỗi cơ sở chế biến có công suất 400-1200 tấncủ/ngày Châu Phi có khoảng 84 triệu tấn sắn/ năm, chủ yếu là ở Nigieria(30),Cụng gụ(16,8), Ghana (17), Tanzania (5,7), Modambic (5,3) và Madagasca

Trang 12

(2,4 triệu tấn) Sắn chủ yếu được chế biến ở quy mô hộ gia đình hoặc quy môlàng xã Châu Mỹ La tinh và vùng biển Caribe có sản lượng sắn hàng năm làkhoảng 32 triệu tấn, tập trung ở Brazil (24 triệu tấn ), Paragoay ( 3,1) vàColombia ( 1,8 ) Phần lớn công nghệ chế biến tinh bột ở đây là thấp và thủcông ở phía Bắc Brazil ( công suất khoảng 0,1 tấn củ/ ngày với quy mô hộgia đình ) Riêng phía Nam Brazil, sắn được chế biến với quy mô lớn (200-

500 tấn củ/ ngày) Colombia có khoảng 200 cở sở chế biến cỡ nhỏ với côngxuất 1 – 4 tấn củ / ngày, Paragoay có khoảng 60 cơ sơ nhỏ tiêu thụ 9000 –

10000 tấn củ / năm và Bắc Aghentina có khoảng 15 cơ sở chế biến với côngsuất 2000 – 3000 tấn củ / năm [12]

Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới được thể hiện ở bảngsau:

Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới

1.2 Tình hình chế biến tinh bột sắn trong nước

Ở Viờt Nam trước đây cây sắn là cây lương thực sau lúa và ngô Sắn là cây

dễ chăm sóc và chịu hạn tốt, cho năng suất ổn định ít sâu bệnh Vì vậy, sắn đượctrồng ở cỏc vựng đất bạc màu, đồi núi, nơi mà các cây lương thực khỏc khú pháttriển được Do đó có thể nói sắn là một trong những cây quan trọng góp phần

Trang 13

tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa cây trồng

Việc chế biến tinh bột sắn đã bắt đầu từ những năm 70 Tuy nhiên, đếntrước năm 1990 thì sắn vẫn chủ yếu vẫn được làm lương thực, chỉ có 1 phầnđược chế biến tinh bột và làm thức ăn chăn nuôi [12]…

Cả nước hiện nay có trên 2000 cơ sở với quy mô nhỏ nằm rải rác ở cỏc vựngtrồng sắn và làng nghề với tổng năng suất từ 60000 – 80000 tấn củ tươi/năm Riêng

ở các tỉnh Hà Tây, Thừa Thiên Huế và Tây Ninh cú cỏc cơ sở chế biến nhỏ nhưngkhá tập trung, các cơ sở chế biến ở phía Nam có công suất phổ biến từ 40 – 50củ/ngày, trong khi đó ở phía Bắc chỉ là 5 – 7 tấn củ tươi/ngày

Quá trình chế biến tinh bột sắn thải ra một lượng phế thải khổng lồ, phần

vỏ sau cơ chế chiếm 2 – 3% tổng trọng lượng của củ [14,15], trong quỏ trỡnhtách, lọc tinh bột thải ra một lượng bã đáng kể Trung bình cần sản xuất mộttấn tinh bột cần 3,5 – 4 tấn nguyên liệu và 8 – 12 m3 nước, ta có thể thấy hoatđộng sản xuất của nhà máy CBTBS hàng ngày thải ra môi trường một lượngphế thải rắn và lỏng khổng lồ Quá trình chuyển hóa tự nhiên của các chất thảinhà máy chế biến tinh bột sắn gây bốc mùi hôi, thối, ô nhiễm nguồn khôngkhí, đất và nước ngầm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng

Trang 14

Hình 1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các Việt Nam năm

2000-2010 [30]

Thực tế hiện nay các nhà máy sản xuất tinh bột sắn cho thấy, phần lớnlượng bã sắn sau quá trình ly tâm, ép lọc để tách tinh bột không được xử lý,sau khi thải ra môi trường được thu gom và bán cho nông dân làm thức ănchăn nuôi Do lượng sản xuất tinh bột sắn thường tập trung ( từ tháng 9 nămtrước đến tháng 4 năm sau), dẫn đến vào mùa sản xuất lượng phế thải dạngrắn thải ra lớn hơn rất nhiều so với nhu cầu sử dụng làm thức ăn chăn nuôitrong khu vực Thành phần của phế thải sau CBTBS chứa hàm lượng cacbonkhá cao (≥ 50%) và một số chất khác với hàm lượng thấp (protein, lipit vàchất khoáng [16,20]) Ngoài ra, phế thải sau CBTBS còn chứa một lượngCyanide, gây độc cho động vật nuôi nếu sử dụng làm thức ăn gia súc Cáccông trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy ngoài việc cải thiện chất lượngdinh dưỡng thì nghiên cứu sử dụng VSV có khả năng chuyển hóa Cyanidetrong phế thải có một ý nghĩa quan trọng trong sử lý phế thải chăn nuôi làmthức ăn chăn nuôi Quá trình chuyển hóa hợp chất hữu cơ hydratcacbon nhờ

vi sinh vật sẽ tạo ra sản phẩm glucose(C6H12O6) và đường glucose sẽ phảnứng với Cyanide tạo ra muối C7H13C6N không có độc tính Tại Việt Nam đã

có nhiều công trình khoa học nghiên cứu nâng cao chất lượng dinh dưỡng củaphế thải sau CBTBS làm thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên, mới quan tâm đến vấn

đề cải thiện chất lượng dinh dưỡng, vẫn còn hạn chế là chưa quan tâm đếnviệc làm giảm hàm lượng Cyanide trong phế thải, các thí nghiệm mới đượcthực hiện trong phòng thí nghiệm với quy mô nhỏ [12]

Trang 15

2 Tình hình chất thải và ảnh hưởng của chất thải sau CBTBS tới môi trường

2.1 Sơ đồ quy trình công nghệ CBTBS

Trang 16

Hình 2: Sơ đồ quy trình công nghệ chế biến tinh bột sắn .

2.2 Tình hình chất thải sau CBTBS

Hiện nay ở Việt Nam cú trên 60 nhà máy tinh bột sắn với tổng công suấtkhoảng 38 triệu tấn củ tươi/năm Theo ước tính một cơ sở chế biến tinh bộtsắn có công suất 6 tấn củ tươi /ngày sẽ cho 1,7 tấn tinh bột thải ra 0,3 tấn vỏ;

điểm tính chất của từng công đoạn không giống nhau nên thành phần, tínhchất nước thải của các công đoạn này khác nhau

Hình 3: Sơ đồ cân bằng chất trong chế biến tinh bột sắn

Hầu hết các cơ sở chế biến tinh bột sắn chưa chú trọng đến công tác xử

lý chất thải do chưa đánh giỏ đỳng tác động xấu của nó đến môi trường, chỉ

có một vài cơ sở quy mô lớn với đầu tư của nước ngoài như Công ty cổ phầnVedan (Đồng Nai, Bình Phước và Tây Ninh) mới chú ý đến xử lý: bã lúc đầuđược đổ ra biển sau đem đi chụn vùi ở cỏc vựng đồi núi (đây không phải là xử

lý mà chỉ là hình thức phân tán chất thải), còn xử lý nước hoàn toàn bằng hồsinh học nên rất tốn kém (sử dụng đến 20 ha cho một nhà máy) mà các cơ sởnhỏ không thể áp dụng được Mặt khác, các hồ sinh học này không có biện

6tấn củ tươi

0,3 tấn vỏ

1,7 tấn tinh bột

2,5 tấn bã

30m3 nước thải-170 kg BOD-250 kg CODChế biến tinh Bột sắn

Trang 17

pháp chống thấm vào mạch nước ngầm và gây mùi hôi thối do sự phân hủycác chất hữu cơ ở các hồ.

Các cơ sở chế biến nhỏ ở các tỉnh miền núi thường được đặt xa khu dân

cư, cạnh nguồn nước như: mương, suối Vì vậy, ảnh hưởng đến lượng nướccủa dòng suối cho tưới tiêu, ô nhiễm đáng kể nhất vẫn là các cơ sở chế biến ởcác làng nghề, nới tập trung đông dân cư

Bã sắn ở các cơ sở nhỏ và làng nghề thường chất đống để tự phân hủytheo thời gian, còn nước thải thường được xả thẳng ra cống rãnh không nắpđậy rồi chảy tràn ra đường làng và vào đồng ruộng Lượng nước xả nhiều gâyảnh hưởng ngay đến tầng nước mặt cho tưới tiêu và mặt nước ngầm cho sinhhoạt Đồng thời gây mùi hôi thối, mất mỹ quan và làm môi trường ruồi muỗisinh nở và phát triển

2.3 Ảnh hưởng của chế biến sắn tới môi trường

Chế biến sắn nói chung được xem là gây giảm nguồn nước đáng kể vàlàm ô nhiễm môi trường do việc tạo ra mùi hôi thối, gây nhiễm nguồn nướcngầm, và chất thải còn làm giảm cảnh quan môi trường Ngoài ra, bã thải theodòng nước ra kênh mương, ao hồ làm ngăn cản dòng chảy Chất thải khi chảy

ra ao, hồ, sông, suối sẽ gây tác hại trực tiếp đến hệ sinh vật, ảnh hưởng đáng

kể đến hoạt động nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường đất gây tác độngxấu đến năng suất cây trồng, gây chết thủy sản, lúa và hoa màu của các hộdân trong vùng.[30]

Vấn đề ô nhiễm do quá trình sản xuất tinh bột sắn đang là một dấu chấmhỏi cho ngành môi trường Đã có rất nhiều nhà máy sản xuất tinh bột sắn ởĐakak, Nghệ An, Hà Tĩnh… đã buộc phải đóng cửa vỡ đó thải ra ngoài môitrường một lượng phế thải quá lớn gây ô nhiễm trầm trọng Vì vậy, việc tìm

ra biện pháp xử lý phế thải là một điều cấp thiết để giải quyết tình trạng này

và bảo vệ cuộc sống của nhân dân

Ảnh hưởng của chế biến tinh bột sắn tới môi trường được trình bày ở

Trang 18

bảng sau:

Bảng 2: Dạng chất thải và ảnh hưỏng của chúng tới môi trường trong chế biến tinh bột sắn ở

cỏc khõu chế biến khác nhau.

Có thể làm nhiễm nguồn nướcngầm có mùi thối, nếu làm thức ănchăn nuôi thì xianua là vấn đề

từ bã thải có thể làm nhiễm nguồnnước ngầm

lượng BOD và COD cao làm ônhiễm nguồn nước

lượng xianua và chấthữu cơ cao (chủ yếu làtinh bột)

HCN cao có thể làm chết thực vậtnếu nước thải chảy tràn trên mặtđất Hàm lượng chất hữu cơ làmnhiễm nguồn nước ngầm và gâymùi thối

Trang 19

Lan, nơi có sản lượng sắn được chế biến nhiều nhất thế giới cũng chỉ bó hẹptrong việc sử dụng bã sắn ở dạng phơi khô làm thức ăn gia súc Hiện nay, để

xử lý bã sắn có 2 phương pháp chính như sau:

2.4.1 Phương pháp vật lý

Đối với bã sắn, hiện chỉ có biện pháp duy nhất là làm khô để tận dụnglàm thức ăn chăn nuôi Nhược điểm của phương pháp này là bã sắn có độ ẩmtrên 80% nên khi phơi dễ bị nhiễm khuẩn, sinh mùi khó chịu và ảnh hưởngđến môi trường xung quanh Tại một số địa phương có nhà máy tinh bột sắn,người dân sinh sống trong khu vực lân cận, hàng ngày, bất kể lúc ăn cũng nhưlúc ngủ, họ đều phải chịu mùi hôi thối nồng nặc của bã sắn ngâm ủ, phơi vàvận chuyển vung vãi trên đường [6,12]

2.4.2 Phương pháp vi sinh

Trong tự nhiên, phế thải nhà máy CBTBS nếu không được xử lý sẽ cótốc độ phân hủy chậm, đặc biệt có chứa một lượng độc tố là axit hydrocyanic(HCN) đáng kể Năm 1993, Ofuya và Obilor đã nghiên cứu khả năng lên men

tự nhiên loại bỏ các độc tố trong phế thải để tái sử dụng phế thải sau chế biếntinh bột sắn dạng rắn làm thức ăn gia súc, gia cầm Thông thường vỏ sắn tậptrung cyanogenic glucosides nhiều hơn ở nhu mô, quá trình lên men nhờ vi

sinh vật đã làm giảm lượng Cyanide, khi lên men nhờ tổ hợp S cerevise,

Lactobacillus delbruckii và Lactobacillus coryneformis đã cho thấy ngoài tác

dụng làm tăng lượng protein 8,2% , quá trình lên men còn làm giảm Cyanidegiảm xuống dưới 6,2mg/kg Phế thải sau CBTBS được coi là an toàn nếulượng Cyanide dưới ngưỡng độc là 30mg/kg [11,23,24] Như vậy, lượng giảm

có thế coi là kết quả của khả năng tiết ra enzyme phytase của vi sinh vật trongnước thải Enzyme này có khả năng phân hủy phytate, do đó giảm lượngphytate của vỏ sắn lên men Trong quan điểm tăng lượng protein của hỗn hợplên men gồm vỏ sắn với nước thải từ lên men tinh bột sắn (nhiễm khuẩn và tựnhiên) và giảm đáng kể (p < 0,05) trong các chất dinh dưỡng kháng dư

Trang 20

(Cyanide và phytate), là hỗn hợp thức ăn gia súc có thể chấp nhận được vàđược đánh giá là tiêu hóa cao.

3 Một số VSV có khả năng phân giải tinh bột, cellulose và làm giàu protein

Trong quá trình sinh trưởng các VSV tiết ra môi trường các loại enzyme

có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ (tinh bột, cellulose, protein…).Các vi sinh vật có khả năng phân giải tinh bột, cellulose và làm giàu proteingồm có : vi khuẩn, nấm mốc, nấm men, xạ khuẩn… Các loài phù hợp cho sảnxuất thức ăn gia xúc từ việc tận dụng nguồn bã thải sắn phải có khả năng sửdụng đa dạng nguồn cacbon, nitơ, điều kiện nuôi không quá phức tạp, pháttriển ở pH và nhiệt độ vừa phải, có hoạt độ cao, an toàn với con người và môitrường [4]

3.1 Vi sinh vật phân giải tinh bột

Tinh bột có cấu tạo bởi 2 thành phần cơ bản là amyloza và amylopectin.VSV phân giải tinh bột thành các hợp chất đơn giản chủ yếu là các acid hữu

cơ để có thể phân giải được các hạt tinh bột, các VSV phải tổng hợp ra cácloại enzyme phân giải tinh bột là anzyme amylaza Các loại enzyme này thủyphân tinh bột thành glucoza Trong tự nhiên có nhiều loại VSV có khả năngtổng hợp ra enzyme - amylaza, nhưng nhóm VSV có khả năng phân giải

tinh bột cao hơn cả là Aspergillus, Monascus, Bacillus và Rhizopus Loài

VSV có khả năng tổng hợp nhiều enzyme - amylaza nhất và an toàn cho

người và động vật là Aspergillus ozyzae, Monascus và Bacillus lichemiformis.

Để phân lập các loại VSV này, sử dụng phương pháp pha loãng và cấytrên môi trường thạch (agar) có chứa 0,5 – 1% tinh bột tan và 5% peptone.Sau khi phân lập, xác định vòng phân giải thủy phân tinh bột và tiến hànhnuôi cấy VSV này trong môi trường xốp như cám gạo, bột ngô, bột sắn và cácmuối khoáng kèm với các chất tạo độ xốp như trấu, mùn cưa [3,4]

Trang 21

3.2 Vi sinh vật phân giải cenlulose

Cenlulose trong tự nhiên là thành phần của các màng thức vật và hoàntoàn không hòa tan Có nhiều loại VSV có khả năng phân giải cellulose nhờ

enzyme cellulase ngoại bào Các loại VSV như : Trichoderma riseii,

Monascus và Clostridium thermocellum có khả năng phân giải cellulose mạnh

mẽ Các loại VSV này tạo ra các hệ enzyme cellulase để cắt đứt cỏc liờn kết

H làm biến dạng cellulose tự nhiên thành dạng vô định hình và tiến hành thủyphân cellulose bioza thành glucose

Để phân lập các chủng VSV này, sử dụng môi trường phân lập VSV

trường thạch – cellulose – dextrin[3]

3.3 Vi sinh vật làm giàu protein

Tế bào VSV có khả năng làm giàu protein, ngoài hàm lượng proteintương đối lớn còn có chất béo, vitamin và các chất khoáng, nói về sản xuấtprotein thì năng suất của VSV vượt xa năng xuất cây trồng và vật nuôi trongcông nghiệp nhiều lần Chất lượng protein trong tế bào VSV cao: nhiều axitamin có trong VSV với hàm lượng cao, giống như trong sản phẩm của thịt,sữa và hơn hẳn protein của thực vật Protein VSV đặc biệt giàu lizin, là mộtlợi thế lớn khi bổ sung thức ăn vào chăn nuôi, vì trong thức ăn thường thiếuaxit amin này Trái lại, hàm lượng các axit amin chứa lưu huỳnh lại thấp.Protein của VSV chủ yếu được tổng hợp để hình thành các enzyme Vì vậy,phần lớn nằm trong tế bào, một số rất ít được tách ra ngoài môi trường Cácchủng VSV có khả năng sinh tổng hợp protein là:

- Vi khuẩn gồm: Achrobacter, Alkaligenes, Bacillus, Bacterium,

Corynebacterium, Micrococcus, Flavobacterium, Pseudomonas, Micromonospora, Mycobacterium, Mycococcus, Nocardia.

- Xạ khuẩn gồm: Streptomyces, Actinomyces, Chlorella và Spirulina…

Trang 22

- Tảo gồm: Chlorella và Spirulina…

- Nấm men gồm: Endomyces vernalis, Hansennula amomala, Hasennula

suaveolens, Saccharomyces cerevisiae, Candida arbores, Candida tropicalis, Mycotorula lipolytica, Mycotorula japonica, Torulopis utilis, Torulopis utilis var, major, Torulopis utilis var thermophilis, Monilia candia, Oidium lactic…

- Nấm sợi gồm: Acremonium, Aspergillus, Penicillium, Monascus…

Tuy nhiên, các chủng VSV dùng trong sản xuất có một số yêu cầu sau:thời gian nhân đôi ngắn, có khả năng tạo thành 40 – 70% protein, tiêu hóa tối

đa các chất dinh dưỡng của môi trường, không gây bệnh và đem vào môitrường độc tố, có sức bền cao và chịu được ở điều kiện nuôi cấy không vôtrùng, dễ tách khỏi dịch nuôi cấy trong điều kiện tuyển nổi (flotation) và litõm tỏch, đặc biệt phải an toàn về mặt độc tố Trong sản xuất protein đơn bàokhụng dựng VSV gây bệnh cũng như loài chứa thành phần gây độc hoặc nghingờ [2,7]

3.4 Đặc điểm hình thái của nấm mốc Aspergillus ozyzae và

Monascus

Nấm mốc là tên chung để chỉ các VSV dưới kính hiển vi có cấu tạo dạngsợi Chúng phát triển rất nhanh trên nhiều nguồn cơ chất hữu cơ khi gặp khíhậu nóng ẩm Màu sắc của nấm mốc được xác định bởi màu sắc các bào tử do

nó sinh ra như: xanh, vàng, trắng, đen, nâu

3.4.1 Đặc điểm hình thái nấm Aspergillus ozyzae

Mốc Aspergillus đã được dùng phổ biến trong sản xuất tương, nước

chấm ở các nước phương Đông từ lâu đời Giống mốc này có hệ khuẩn ty (hệsợi) không màu hoặc vàng nhạt Khuẩn ty phân nhánh dài và thẳng, đầu phình

to thành chóp, nang hình cầu, hình bán cầu hoặc hỡnh chựy… xung quanh cónhiều cuống nhỏ Tùy loại có cuống nhỏ 1 tầng hoặc 2 tầng Tất cả cuống nhỏ

có hình chai và gọi là tế bào hình chai, khi trưởng thành sinh ra cỏc đớnh bào

tử ở đầu cuống Cỏc đớnh bào tử xếp thành chuỗi dài và càng tận cùng càng

Trang 23

lớn dần Những chuỗi đính bào tử xếp đối xứng tỏa trũn trờn chúp nang Đínhbào tử điển hình thường hình cầu, đơn bào, đa hạch, bề mặt xù xì Do cuốngsinh bào tử có màu sắc, nên màu sắc của chúng trở thành màu của khuẩn lạc

mốc Các khuẩn lạc của mốc Aspergillus thường là: vàng, vàng lục, đen, tro, nõu,…Aspergillus ozyzae còn gọi là mốc vàng Đầu tiên có màu vàng lục sau

có màu nâu thẫm Chiều cao của cuống sinh bào tử 1- 2 mm Mốc này sinh racác enzyme amylaza, invectaza, maltaza, proteaza và catalaza Mốc phát triển

nhiều chủng được dùng trong sản xuất rượu, sản xuất nước chấm [21]

Tính an toàn của Aspergillua ozyzae:

Aspergillus ozyzae là loại nấm sợi an toàn và đã được sử dụng trong chế biến thực phẩm từ rất lâu [18,21] đó dùng A ozyzae để được đường hóa

gạo khi làm rượu Sake Ở Nhật Bản, người ta thường dùng loại nấm mốc này

để sản xuất tương Nhật từ đậu tương, dạng đặc gọi là miso (soybean paste), dạng loãng gọi là shoyu (soy sauce) A ozyzae còn được dùng trong công

nghiệp để sản xuất nhiều loại enzyme khác nhau (amylaza, proteaza, lipaza,

hemicellulaza, cellulaza, oxidoreductaza, phytaza, pectinesteraza) Nấm sợi A.

ozyzae có 2 hàng thể bình, khuẩn lạc có màu vàng chanh và không sản sinh

độc tố gây ung thư Bộ gen di truyền của A ozyzae hiện đã được phân tích vàbiết rất kĩ từ năm 2001

3.4.2 Đặc điểm hình thái nấm Monascus

Nấm Monascus thuộc giới nấm, ngành Ascomycota, lớp Ascomycetes, phân lớp Plectomycetes, họ Monascaceae Khuẩn lạc Monasucs mỏng, hệ sợi

ngắn, khi non có màu trắng, khi già có màu đỏ Màu đỏ của hệ sợi đạm dầnvới độ già của hệ sợi Chất màu được tạo thành trong hệ sợi dưới dạng tinhthể hình chữ nhật, có kích thước tương đối đều nhau

Nấm Monascus thuộc lớp nấm tỳi, cú phương thức sinh sản vô tính Chu

Trang 24

kì sinh sản nấm Monascus bắt đầu từ bào tử nang được giải phóng ra khỏi thể

quả và phát triển thành hình dạng sợi nấm Từ sợi nấm sẽ phân ra thành cỏcnhỏnh, mấu sau đó phát triển thành thể quả Trong thể quả chứa các bào tửnang, khi thể quả già các bào từ nang được giải phóng

Hình 4: Chu kì sinh sản của nấm Monascus anka.

Trong chu kỡ trờn: 1- Bào tử nang được giải phóng ra khỏi thể quả và bắtđầu phát triển thành dạng sợi nấm, 2- sợi nấm, 3, 4, 5, 6, 7- các giai đoạn hìnhthành thể quả, 8- thể quả hình tròn, 9- thể quả chứa các bào tử nang, 10- bào

tử dính

khuẩn lạc có hệ sợi phát triển khá dày đặc, rìa khuẩn lạc hình răng cưa, khicòn non có màu trắng, sau có màu vàng, màu cam, màu hồng phấn hoặc màu

Trang 25

đỏ, màu đậm dần với độ già của hệ sợi Khi quan sát dưới kính hiển vi hệ sợinấm có vách ngăn, thành hệ sợi nhẵn, cú cỏc mấu chồi phân nhánh, bên cạnh

hệ sợi cú cỏc bào tử đớnh cú dạng quả lê hay gần cầu Thể quả kín hình trònhay ovan, thể quả mọc đơn lẻ, rải rác suốt hệ sợi nấm, thành thể quả mỏng vàtrong suốt, bên trong thể quả cú cỏc bào tử nang Thể quả khi già bị vỡ, giảiphóng các bào tử nang, các bào tử này sẽ phát triển thành cá thể nấm mới.Chất màu được tạo thành trong hệ sợi dưới dạng tinh thể hình chữ nhật, hìnhtam giác hay hình vuông, các tinh thể này có kích thước tương đối đều nhau

Tính an toàn của nấm Monascus:

Nấm Monascus đã được sử dụng từ hàng trăm năm nay, đó cú hơn 50

phát minh sang chế trên toàn thế giới liên quan đến nghiên cứu nấm sợi

Monascus, ngoài hàm lượng protein có trong tế bào, nú cũn tạo ra một số hợp

chất trao đổi chất khác như các axit béo, các axit hữu cơ, các vitamin, cácenzyme chất điều vị và một số hợp chất khác Su và cộng sự đã tiến hành thí

nghiệm để kiểm tra tính an toàn của nấm Monascus trên động vật và trên người Với động vật, ụng tiờm Monascus vào ổ bụng và dạ dày với liều lượng 33,3g/kg trọng lượng cơ thể Đối với người, sử dụng Monascus với liều

lượng 8,7 g/kg thể trọng Sau 12 tuần cho thấy không phát hiện ra bất cứ biểuhiện nào của bệnh hay biểu hiện khác thường ảnh hưởng đến sức khỏe người

và vật thí nghiệm Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả : Blanc,

Ganroong và Heber về thử nghiệm tính an toàn của Monascus, kết quả của các công trình này đều chứng minh rằng nấm Monascus là an toàn cho con người và động vật [26] Nấm Monascus cũng được sử dụng để sản xuất thực

phẩm chức năng có tác dụng tăng cường sức khỏe, tăng tuần hoàn máu, giảmcholesterol, giảm mỡ máu, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, cao huyết áp và

Trang 26

một số bệnh nguy hiểm khác [26].

Nấm Monascus được nuôi cấy bằng cả hai phương pháp là nuôi bề mặt

và nuụi chỡm, theo phương pháp nuôi cấy bề mặt có triển vọng hơn do hệthống vận hành, thiết bị đơn giản, sử dụng cơ chất dễ kiếm và có giá trị kinh

tế cao Nuôi cấy bề mặt thường sử dụng: gạo, cám gạo, cám mỳ, bột ngô, bộtđậu tương…

3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm mốc

3.5.1 Dinh dưỡng của nấm mốc

3.5.1.1 Nguồn thức ăn cacbon

Nấm mốc có thế sử dụng nguồn thức ăn cacbon khác nhau và không cónhững đòi hỏi nghiêm ngặt đối với một loại thức ăn cacbon Nhiều loài nấmmốc còn có khả năng đồng hóa cả các hợp chất hữu cơ rất bền vững hoặc rấtđộc đối với nhiều sinh vật khỏc (cỏc hợp chất n-alcal, phenol, nhiều chấtkháng sinh…) Đối với nguồn thức ăn hữu cơ phức tạp như xilan, tinh bột,cellulose, kitin… trước hết nấm mốc phải sinh ra các enzyme để phân hủy cáchợp chất này thành các hợp chất đơn phân tử sau đó mới đồng hóa đượcchúng

3.5.1.2 Nguồn thức ăn Nitơ

Các loại nấm mốc khác nhau có thể có nhu cầu khác nhau đối với nguồnthức ăn nitơ Nấm mốc thường có khả năng sử dụng cả nguồn nitơ vô cơ vàhữu cơ Nhiều loài nấm mốc có khả năng đồng hóa cả muối amon và nitơrat

Nhiều loại thuộc chi Fusarium có khả năng đồng hóa nitơ trong khí NH3 Nhiều loại nấm mốc thuộc chi Aspergillus flavus, Trichoderma nigorum, có

khả năng đồng hóa trực tiếp nitơ phân tử Ngoài các nguồn nitơ vô cơ, nhiềuloại nấm mốc có thể sử dụng nguồn nitơ hữu cơ (protein, pepton, peptit, axitamin,…)

Trang 27

3.5.1.3 Các nguyên tố khoáng

Bằng các phương pháp phân tích quang phổ, người ta xác định được tất

cả các chất khoáng có trong tế bào nấm mốc Về các nguyên tố đại lượng, cóthể kể đến: S, P, K, Ca, Mg, Fe, chúng thường chiếm từ vài phần nghìn đếnvài phần trăm trọng lượng khí Các nguyên tố vi lượng có Mn, Mo, Zn,Cu,

Co, Ni, B Hàm lượng các nguyên tố khoáng trong tế bào nấm mốc còn thayđổi tùy thuộc vào điều kiện nuôi cấy

3.5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trỡnh nuôi mốc [16,17,18,19].

3.5.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ

Nhiệt độ đóng vai trò chủ yếu trong quá trình sinh trưởng của sợi nấm,

nó cũng tác động đến việc sinh sản bào tử và này mầm của chúng Mỗi loạinấm mốc có khoảng nhiệt độ sinh trưởng và phát triển nhất định Phần lớn

thậm chí -200C như Cladosporium herbarum, một số loài thuộc chi

Penicilium Ngược lại, loài Asp Flavus vẫn phát triển tốt ở 350C Một số ít

các loài nấm mốc được chia thành 5 nhúm: nhúm ưa núng, nhúm chịu nóng,nhóm ưa nhiệt trung bình, nhóm chịu lạnh, nhóm ưa lạnh Nhiệt độ tối thích

hay trên 450C nấm mốc sẽ phát triển chậm

3.5.2.2 Ảnh hưởng của độ ẩm

Mọi quá trình trao đổi chất của tế bào vi sinh vật đều xảy ra trong môitrường nước Tuy nhiên, nhu cầu về nước đối với từng loại, từng chủng vàthời kì phát triển khác nhau có khác nhau Trong những yếu tố tác động vào

sự phát triển của nấm mốc, độ ẩm có vai trò rất lớn Độ ẩm của môi trườngcũng như độ ẩm tương đối của không khí là yếu tố quan trọng quyết định sự

Trang 28

sinh trưởng của hệ sợi nấm và sự sản sinh bào tử.

3.5.2.3 Ảnh hưởng của độ thoáng khí

Nấm mốc hoàn toàn hiếu khí và chỉ phát triển trong điều kiện thoáng khí

Các loại như: Mucor và Trichoderma là những loại cần nhiều oxy Một lượng nhỏ khí cacbon là cần thiết cho bào tử Aspergillus nảy mầm, nhưng nếu nồng

độ này quá cao lại ức chế sự phát triển của chúng Khi nuôi cấy nấm mốcbằng phương pháp bề mặt cần chú ý tới độ dày khối môi trường để đảm bảo

độ thoáng khi cần thiết cho sự phát triển của nấm mốc

3.5.2.4 Ảnh hưởng của pH môi trường

Ph của môi trường cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm mốc Phần nhiều nấm mốc phát triển trong phạm vi pH từ 4-8 nhưng một số nấm mốc có khả năng chịu được những cơ chất có pH axit hơn hoặc kiềm hơn Tuy nhiên, khi dùng phương pháp nuôi cấy bề mặt, pH môi trường ít làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm mốc vì môi trường rắn có tính đệm cao

4 Ứng dụng của các VSV phân giải amylase, protein, xenllulose

Khẩu phần thức ăn của động vật thường có hàm lượng protein,xenluloza và hemixenluloza cao Trong khi đó động vật lại chỉ có khả năngtổng hợp rất hạn chế các enzyme cacbonhydrolaza phân giải được tinh bột vàdisaccarit Trong dịch tiêu hóa của động vật cũng không có hemixenluloza vàcác hợp chất phức tạp khác Để giúp cho động vật sử dụng triệt để thức ăn,nhiều nước trên thế giới như Trung Quụ́c, Nhọ–t bản, hàn Quốc đã sử dụngphổ biến các chế phẩm có chứa VSV có hoạt tính protenaza, amylaza,xenlulaza và hemixenlulaza để bổ sung trong quá trình chế biến, bảo quảnthức ăn cho gia súc, gia cầm nhằm năng cao giá trị dinh dưỡng và giá trị sửdụng thức ăn

Chất lượng của thức ăn lên men phụ thuộc rất nhiều vào các thành

Trang 29

phần đường dễ tan, chủng loại và số lượng VSV, thành phần nước chứa trongnguyên liệu, độ yếm khí trong quá trình lên men Công trình nghiên cứu củaNguyễn Bỏ Mựi, Cự Xuõn Dần (2000) đã chứng minh rằng: chồi, ngọn và ládứa ủ chua đã làm tăng tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ vật chất khô, protein Tỷ lệtiêu hóa của vỏ và bã dứa ép cao hơn chồi và lá dứa 6.6 -7.2%, hàm lượngchất béo bay hơi cũng cao hơn 11.8%.

Theo Madonald và cộng sự (1995), chất lượng thức ăn lên men kémkhi pH môi trường >5, hàm lượng acid butiric cao, acid lactic thấp (1.2 -2.2%) Muller (1978) đã sử dụng bã dứa lên men thay thế 50% thức ăn thôxanh trong khẩu phần của bò cho kết quả tăng trọng tốt, chi phí thức ăn giảm

7 -12% tác giả Olubajo (1981) đã tiến hành ủ chua hỗn hợp cỏ Ghine và bãdứa đã chứng tỏ thành phần bã dứa tham gia trong lô ủ càng tăng tỷ lệ pHcàng giảm (4.95- 4.34) và tỷ lệ tiờu hoỏ cũng tăng theo Tuy nhiên các tác giảtrên chỉ tiến hành ủ chua trên cỏ xanh bã dứa với muối mà chưa có sự thamgia của VSV Ngày nay với sự phát triển của công nghệ sinh học, sự tham giacủa VSV đã được ứng dụng nhiều trong chế biến thứuc ăn gia súc Các côngtrình nghiên cứu đều chứng tỏ lên men VSV để bảo quản các loại thức ăn phếphụ phẩm đã làm tăng giá trị dinh dưỡng của chúng, gia súc tiờu hoỏ tốt hơn

Rambalt M (1980) phân lập và nuôi cấy chủng Lactobacillus từ sắn để bảo

quản sắn tươi và ủ chua lá sắn làm giảm độc tố trong lá sắn và tăng mùi vịnguyên liệu ủ, gia súc ăn được nhiều, tiêu hóa tốt Các nhà nghiên cứu thuộctrường đại học UAM – Mehico và Viện nghiên cứu và phát triển Pháp (ORS –TOM) đã sử dụng các chủng vi nấm kết hợp với các chủng nấm men đã làmtăng khả năng đường hoá chất xơ và sử dụng tốt nguồn Nitơ vô cơ trong quátrình bảo quản các phụ phẩm nông nghiệp (bã chuối, bã sắn, bã mía, bã dứa,

củ cải đường….)

Tóm lại, việc chế biến và sử dụng tốt hơn các nguồn phụ phẩm nôngnghiệp phế thải của công nghiệp chế biến nông sản sẽ tạo thêm khối lượng

Ngày đăng: 28/02/2023, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w