TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Lạm phát là vần đề vĩ mô luôn nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà làm chính sách cũng như dư luận. Đặc biệt ở những nước đang phát triển thì mục tiêu kiểm soát lạm phát lại càng được xem trọng vì một sự gia tăng quá nhanh của lạm phát sẽ nhấn chìm hết tất cả các nỗ lực phát triển kinh tế khác ở những quốc gia này. Một lý do khác cho việc luôn đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát lên hàng đầu chính là do những nước đang phát triển có nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào thế giới nói chung và các khu vực bên ngoài có nhiều hoạt động giao thương nói riêng. Chính vì nền kinh tế còn non trẻ, dễ bị tác động nên các chỉ báo kinh tế, đặc biệt là lạm phát thường rất biến động. Xuất phát từ nhận định trên chúng tôi cho rằng lạm phát các nước Châu Á đang phát triển cũng không ngoại lệ trong vấn đề sẽ chịu nhiều tác động từ các thay đổi của tình hình kinh tế thời giới. Đồng thời theo thống kê chúng tôi tìm thấy có một sự tương thích cao giữa sự gia tăng đột biến của lạm phát khu vực các quốc gia Châu Á đang phát triển với sự gia tăng của giá dầu và giá lương thực thế giới trong giai đoạn 2000-2012. Trên cơ sở đó, nhóm tiến hành thực hiện bài nghiên cứu “Ảnh hướng của cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới đến lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển” giai đoạn 2000-2012 với mong muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi phải chăng có một sự dẫn truyền mạnh từ giá dầu và giá lương thực thế giới vào giá cả hàng hóa tiêu dùng trong nước hay đây chỉ là một sự trùng khớp ngẫu nhiên trong thời kỳ kinh tế thế giới nhiều biến động.
Trang 2TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lạm phát là vần đề vĩ mô luôn nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà làm chính sách cũng như dư luận Đặc biệt ở những nước đang phát triển thì mục tiêu kiểm soát lạm phát lại càng được xem trọng vì một sự gia tăng quá nhanh của lạm phát sẽ nhấn chìm hết tất cả các nỗ lực phát triển kinh tế khác ở những quốc gia này Một lý
do khác cho việc luôn đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát lên hàng đầu chính là do những nước đang phát triển có nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào thế giới nói chung và các khu vực bên ngoài có nhiều hoạt động giao thương nói riêng Chính vì nền kinh tế còn non trẻ, dễ bị tác động nên các chỉ báo kinh tế, đặc biệt là lạm phát thường rất biến động Xuất phát từ nhận định trên chúng tôi cho rằng lạm phát các nước Châu Á đang phát triển cũng không ngoại lệ trong vấn đề sẽ chịu nhiều tác động từ các thay đổi của tình hình kinh tế thời giới Đồng thời theo thống kê chúng tôi tìm thấy có một sự tương thích cao giữa sự gia tăng đột biến của lạm phát khu vực các quốc gia Châu Á đang phát triển với sự gia tăng của giá dầu và giá lương thực thế giới trong giai đoạn 2000-2012 Trên cơ sở đó, nhóm tiến hành thực hiện
bài nghiên cứu “Ảnh hướng của cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới đến
lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển” giai đoạn 2000-2012 với mong
muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi phải chăng có một sự dẫn truyền mạnh từ giá dầu
và giá lương thực thế giới vào giá cả hàng hóa tiêu dùng trong nước hay đây chỉ là một sự trùng khớp ngẫu nhiên trong thời kỳ kinh tế thế giới nhiều biến động
Trang 32 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của bài nghiên cứu này hướng tới tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới có phải là nguồn gốc của lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển trong giai đoạn 2000-2012 hay không ?
2 Có sự dẫn truyền khác nhau nào của hai cú sốc này vào lạm phát lương thực và lạm phát phi lương thực hay không ?
3 Mức độ dẫn truyền của giá dầu và giá lương thực vào lạm phát trong nước phụ thuộc vào các yếu tố chế độ tỷ giá, khuôn khổ chính sách tiền
tệ và tỷ trọng lương thực trong CPI như thế nào ?
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phân tích sự tác động của hai cú sốc ngoại sinh, giá dầu và giá lương thực vào lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển, cũng như tìm đáp án cho các câu hỏi nghiên cứu trên sau đây chúng tôi đã tiến hành phân tích định lượng để đo lường
mức độ dẫn truyền của chúng Mô hình được sử dụng trong bài là mô hình hồi quy
véc tơ (VAR) với 7 biến: là lạm phát giá dầu (πoil) và lạm phát giá lương thực
thực(πCPI food) và lạm phát phi lương thực (πCPI non-food
), và thành phần cuối cùng
là lạm phát kỳ vọng ở mỗi giai đoạn được dựa trên thông tin sẵn có ở thời điểm t-1
Mẫu được quan sát trong bài bao gồm 10 nước trong khu vực các quốc gia Châu Á đang phát triển gồm: Brunei, Cambodia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam
Trang 4Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp ADF được thực hiện để kiểm tra tính dừng của các biến sau đó xử lý các biến không dừng bằng cách lấy sai phân để đảm bảo tất cả các biến của mô hình điều dừng nhằm tránh kết quả sai lệch do vấn đề hồi quy giả Các kiểm định đồng liên kết cũng được thực hiện để xem xét có hay không mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến Trường hợp các biến điều dừng và không
có đồng liên kết thì kết quả sẽ được ước lượng bằng mô hình VAR thông thường, còn trường hợp các biến đều dừng nhưng có xuất hiện đồng liên kết thì ước lượng của bài sẽ được thực hiện bằng mô hình VECM Độ lớn của độ trễ được kiểm tra bằng tiêu chuẩn Akaike Phân tích phương sai được áp dụng để đánh giá nguồn gốc của lạm phát và hàm phản ứng đẩy được lấy làm cơ sở để tính toán hệ số dẫn truyền
của các cú sốc cung thế giới vào giá cả trong nước
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung của đề tài này gồm 5 phần chính:
Phần 1: Giới thiệu
Phần 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây đã thực hiện về sự dẫn truyền của các cú sốc ngoại sinh vào giá cả trong nước
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu - Mô hình và dữ liệu
Phần 4: Phân tích các kết quả nghiên cứu chính của bài
Phần 5: Kết luận và rút ra một số hàm ý về mặt chính sách
Trang 55 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả của đề tài này đã tìm thấy một phát hiện mới rằng ở các nước xuất khẩu ròng như Việt Nam, Thái Lan, Malaysia thì nguyên nhân chính của sự gia tăng lạm phát chính là cú sốc cung của thế giới như gia dầu, giá lương thực Hàm ý rút ra từ kết luận này chỉ ra rằng biện pháp tốt nhất để kiểm soát lạm phát ở những quốc gia này không phải là chính sách thắt chặt tiền tệ vì nguồn gốc chủ yếu lạm phát ở những nước này không phải xuất phát từ cầu kéo mà là chi phí đẩy Chính vì thế thắt chặt tiền tệ sẽ không thể giải quyết được vấn đề mấu chốt trong sự gia tăng đột biến của lạm phát mà có thể sẽ làm cho tình hình càng tồi tệ hơn do lãi suất cao càng hạn chế sự tiếp cận vốn của các nhà sản xuất, làm tăng chi phí tài chính dẫn đến giá cả hàng hóa tiếp tục leo thang Mà thay vào đó cần phải tăng cường các biện phát kiểm soát giá cả cũng như các biện phát làm giảm chi phí đầu vào của việc sản xuất như các biện phát hành chính kiểm soát giá, tăng trợ cấp lương thực và nhiên liệu, giảm thuế nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu Đặc biệt trong dài hạn cần tăng cường đầu tư sản xuất hàng hóa để giảm sự phụ thuộc vào thị trường thế giới Đối với các nước còn lại thì đa phần nguồn gốc của lạm phát xuất phát từ sự dư thừa của tổng cầu và kỳ vọng lạm phát cao nên ở những nước này chính sách tiền tệ vẫn là một công cụ hiệu quả để kiểm soát lạm phát Qua phân tích trên có thể thấy rằng đóng góp quan trọng nhất của đề tài này là xác định được một cách chính xác nguồn gốc của lạm phát để giúp các cơ quan tiền tệ các nước tránh đưa ra các chính sách phản ứng sai lầm trong thời kỳ cực kỳ khó khăn của nền kinh tế hiện nay
Trang 66 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Vì lý do hạn chế về mặt số liệu này đề tài này chỉ xem xét được tác động của cú sốc giá dầu, giá lương thực và tỷ giá đến lạm phát CPI thông qua lạm phát CPI lương thực và CPI phi lương thực Mặt dù đã có xem xét đến tính phù hợp của hai biến này trong mô hình nhưng xét về mức độ phù hợp thì hai biến CPI-F và CPI-NF không thể thay thế hoàn toàn cho hai biến lạm phát chỉ số giá nhập khẩu (IPI) và lạm phát chỉ số giá sản xuất (PPI) trong cơ chế dẫn truyền các các cú sốc ngoại sinh vào lạm phát trong nước Chính vì vậy mà có thể dẫn đến những sai lệch trong kết quả đo lường Việc hoàn thiện về số liệu IPI và PPI là cần thiết để tiến hành đánh giá lại một lần nữa kết quả dẫn truyền từ giá dầu và giá lương thực vào lạm phát để kiểm tra liệu có sự khác biệt nào khi dùng CPI-F, CPI-NF và dùng IPI, PPI để đánh giá mức độ dẫn truyền của giá dầu và giá lương thực vào lạm phát ở các nước Châu
Á đang phát triển hay không ?
Trang 7Mục lục
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC HÌNH, VÀ BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC BẢNG x
1 Tóm tắt: 1
2 Giới thiệu 2
3 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 7
4 Phương pháp nghiên cứu – Mô hình và dữ liệu 10
4.1 Mô hình 10
4.2 Dữ liệu 14
4.3 Cách xử lý số liệu và phương pháp phân tích 16
5 Nội dung và kết quả nghiên cứu 17
5.1 Lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển giai đoạn 2000-2012 17
5.2 Nguyên nhân dẫn đến tăng giá lương thực và giá dầu 21
5.2.1 Yếu tố cấu trúc và tính chu kỳ 22
5.2.2 Yếu tố cung và cầu 23
5.2.3 Thị trường trong nước và quốc tế 23
5.3 Cơ sở đưa hai biến lạm phát CPI-F và lạm phát CPI-NF trong mô hình VAR 24 5.3.1 Thống kê mô tả hai biến lạm phát CPI-F và CPI-NF 26
5.3.2 Đánh giá mức độ dai dẳng của CPI-F và CPI-NF so với CPI 30
5.3.3 Đo lường mức độ dẫn truyền từ CPI-F vào CPI-NF 33
5.4 Kết quả ước lượng mô hình VAR 35
Trang 85.4.1 Nguồn gốc lạm phát: Phân tích phương sai (Variance decomposition
analysis) 35
5.4.2 Dẫn truyền của cú sốc giá dầu vào lạm phát 43
5.4.3 Dẫn truyền của cú sốc giá lương thực vào lạm phát 47
5.4.4 Dẫn truyền của cú sốc tỷ giá vào lạm phát 51
6 Kết luận 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i
CÁC TRANG WEB THAM KHẢO iv
PHỤ LỤC v
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPI Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng
CPI-F Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng lương thực trong nước
CPI-NF Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng hàng hóa phi lương thực EIA Tổ chức quản lý thông tin năng lương (Enegry Information Administration )
IFS Thống kê dữ liệu tài chính thế giới (International Financial Statistic)
IMF Quỹ tiền tệ thế giới (International Monetary Fund)
IPI Chỉ số giá nhập khẩu (Import Price Index)
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (Food and Argiculture Organization)
PPI Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index)
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, VÀ BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Lạm phát giá tiêu dùng ở các nước Châu Á đang phát triển giai đoạn
2000-2012 3
Hình 2.2: Biều đồ giá lương thực và giá dầu thế giới giai đoạn 2000-2012 4
Hình 5.1: Lạm phát CPI, lạm phát lương thực, phi lương thực – giai đoạn 2001-2012 (%) 18
Hình 5.2: Biến động của tỷ giá giai đoạn 1/2000 -12/2012 21
Hình 5.3: Trung bình lạm phát CPI-F và CPI-NF giai đoạn 2000-2012 26
Hình 5.4: Độ lệch chuẩn của lạm phát CPI-F và CPI-NF giai đoạn 2000-2012 27
Hình 5.5: Độ dốc của lạm phát CPI-F và CPI-NF giai đoạn 2000-2012 29
Hình 5.6:Độ lệch chuẩn của sự thay đổi lạm phát CPI-F và CPI-NF giai đoạn 2000-2012 30
Hình 5.7: Hàm phản ứng đẩy của lạm phát CPI-F và CPI-NF 34
Hình 5.8: Phân tích phương sai 40
Hình 5.9: Lỗ hổng sản lượng giai đoạn 2000-2012 41
Hình 5.10: Lãi suất danh nghĩa giai đoạn 2000-2012 43
Hình 5.11 : Hệ số dẫn truyền giá dầu thế giới vào lạm phát giai đoạn 2000-2012 46
Hình 5.12 : Hệ số dẫn truyền giá lương thực thế giới vào lạm phát giai đoạn 2000-2012 50
Hình 5.13: Hệ số dẫn truyền tỷ giá hối đoái vào lạm phát giai đoạn 2000 - 2012 54
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm về tỷ giá, chính sách tiền tệ và tỷ trọng lượng thực trong CPI ở các nước 6 Bảng 4.1: Tóm tắt nguồn thu thập dữ liệu 16 Bảng 5.1: Kết quả đo lường sự dai dẳng của lạm phát CPI, CPI-F và CPI-NF ở 10 quốc gia được quan sát, giai đoạn 2000-2012 32 Bảng 5.2: Thống kê mô tả sự dai dẳng lạm phát CPI, CPI-F và CPI-NF của mẫu giai đoạn 2000-2012 32 Bảng 5.3: Số liệu xuất khẩu ròng dầu ở 10 quốc gia được quan sát 38
Trang 121 Tóm tắt:
Bài nghiên cứu này kiểm tra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa giá dầu, giá lương thực và lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển Đồng thời đo lường mức độ dẫn truyền của hai cú sốc ngoại sinh này vào lạm phát CPI, lạm phát CPI lương thực và CPI phi lương thực cũng như sự phụ thuộc của mức độ dẫn truyền vào chế độ tỷ giá, chính sách tiền tệ và tỷ trọng lương thực trong CPI Kết quả trọng tâm tìm thấy rằng giá dầu và giá lương thực là nguồn gốc chính của lạm phát
ở các nước xuất khẩu và những nước có sự phụ thuộc cao vào nhập khẩu dầu Một phát hiện quan trọng khác là mức độ dẫn truyền của giá lương thực thì cao hơn hẳn
sự dẫn truyền của giá dầu vào lạm phát ở hầu hết các nước trong khu vực Ngoài ra cũng tìm thấy sự phụ thuộc của mức độ dẫn truyền vào tỷ trọng lương thực trong CPI, đồng thời chưa có bằng chứng mạnh về sự phụ thuộc của mức độ dẫn truyền vào chế độ tỷ giá và khuôn khổ chính sách tiền tệ
Trang 132 Giới thiệu
Lạm phát từ lâu được xem là một vấn đề đáng quan tâm ở hầu hết các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển và Châu Á cũng không ngoại lệ Lạm phát và tốc độ tăng trưởng là hai mục tiêu mà chính sách tiền tệ luôn khó có thế đạt được cùng một lúc Một chính sách tiền tệ mở rộng để kích thích tăng trưởng kinh tế sẽ đi kèm với tín dụng ưu đãi, lãi suất thấp, điều này có để làm tăng các khoản đầu cơ làm cho tổng cầu tăng lên nhanh nhưng không bền vững Trong khi đó, trong một thời gian ngắn mức cung của nền kinh tế không thể tăng lên kịp thời để đáp ứng cho sự gia tăng quá đôt ngột của tổng cầu Điều này làm cho cầu vượt quá cung và chính sự dư thừa trong tổng cầu này sẽ làm tăng áp lực gia tăng giá cả, kết quả là lạm phát tăng lên Ngược lại, một chính sách tiền tệ thắt chặt để kìm chế lạm phát sẽ đi kèm với
sự tổn thất do tạo nên những rào cản cho sự phát triển của nền kinh tế Chính vì vậy,
sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng luôn là vấn đề mà được hầu hết các cơ quan tiền tệ ở các nước cân nhắc
Tuy vậy, bằng chứng về sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng của khu vực các nước Châu Á đang phát triển gian đoạn 2005-2007 đã diễn ra mức lạm phát thấp từ 2-4%
đã làm cho các cơ quan tiền tệ của các nước này bị ru ngủ trong sự thành công của một chính sách tiền tệ có thể cân bằng giữa lạm phát và tăng trưởng Không lâu sau
đó, sự thành công này đã nhanh chóng bị sụp đổ, lạm phát tăng lên đồng loạt ở hầu hết các nước Châu Á đang phát triển (Hình 2.1) Tính trung bình trên toàn khu vực, lạm phát năm 2008 là 7,38%, so sánh với mức 3,72% năm 2005 và 4,153% năm
2006 Và mặc dù chính sách tiền tệ đã có nhiều biện pháp để kìm hãm lạm phát leo thang nhưng lạm phát của cả khu vực vẫn nằm ở mức 6,546% năm 2011 và 5,042% năm 2012 Lạm phát tăng cao đã nhấn chìm hết tất cả những nổ lực phát triển của Châu Á mặc dù mức tăng là khác nhau ở các nước
Trang 14Nguồn: Dữ liệu trực tuyến Thống kê tài chính thế giới (IFS), thu thập ngày 10/3/2013
Vậy một câu hỏi đặt ra, điều gì đã làm cho lạm phát ở cả khu vực tăng nhanh trong giai đoạn vừa qua ? Đây là một vấn đề đang còn mang nhiều tranh luận, tuy nhiên chúng tôi có thể tạm khái quát thành hai nguyên nhân chính như sau:
Một là, lạm phát ở khu vực là lạm phát do cầu kéo, cụ thể nguyên nhân là sự dư
thừa của tổng cầu và kỳ vọng lạm phát cao Một sự gia tăng quá mức của tổng cầu trong khi năng lực sản xuất của nền kinh tế không thể đáp ứng được sẽ làm tăng áp lực lên giá cả hàng hóa và làm cho giá tăng cao, dẫn đến lạm phát tăng lên Bên cạnh đó, kỳ vọng lạm phát cao cũng góp phần đẩy lạm phát tăng lên
Hai là, lạm phát của khu vực có nguyên nhân từ những yếu tố chi phí đẩy Nếu xét
về mặc chi phí thì ảnh hưởng các các cú sốc ngoại sinh như cú sốc giá dầu và giá lương thực cũng có thể làm lạm phát gia tăng Sự tăng lên đột biến của giá cả hàng hóa thế giới sẽ tác động đến giá tiêu dùng trong nước thông qua hai kênh trực tiếp
và gián tiếp Kênh trực tiếp được hiểu là giá cả hàng hóa thế giới tăng lên làm tăng giá nhập khẩu từ đó làm tăng giá của các hàng hóa nước ngoài được tiêu thụ trực
Trang 15tiếp ở thi trường nội địa Ngoài ra giá cả hàng hóa thế giới cũng sẽ tác động gián tiếp đến giá tiêu dùng trong nước thông qua giá sản xuất do chi phí đầu vào để làm nên thành phẩm tăng lên
Bằng chứng về sự tăng lên của giá lương thực và giá dầu thế giới đã cho thấy có nhiều sự tương đồng trong xu hướng biến động của giá hai mặt hàng này với lạm phát ở khu vực các nước Châu Á đang phát triển Trong giai đoạn 2006-2012, chỉ số giá lương thực đạt đỉnh tại hai thời điểm, tháng 4/2008 với mức 407,18, tăng gần 200% so với tháng 1/2006 (139,63), trung bình tăng 100%/1 năm và 9/2011 ở mức 356,84, tăng 192% so với 1/2006 Tương tự, chỉ số giá dầu thô thế giới cũng đạt đỉnh vào 8/2008 với mức 215,3, tăng 83,9% so với tháng 1/2006 (117,1) (Hình 2.2) Điều này hoàn toàn tương thích với sự tăng lên đột ngột của lạm phát khu vực vào năm 2008 và 2011
Trang 16Nguồn: Dữ liệu Giá hàng hóa cơ bản IMF ((IMF Primary Commodity Price tables, Actual Price Series)
Chú thích: Giá hàng hóa thế giới được tính theo danh mục gồm 5 loại lương thực chính là ngô (corn), đậu nành (soybean), lúa mì (wheat), gạo (rice) và đường (sugar)
Vậy phải chăng cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới là nguyên nhân chính gây
ra sự tăng lên của lạm phát trong giai đoạn vừa qua hay đây chỉ là sự trùng khớp ngẫu nhiên ? Xuất phát từ câu hỏi còn bỏ ngõ này, bài nghiên cứu này mong muốn tìm được câu trả lời từ các phân tích thực nghiệm để xác định xem có mối liên quan nào giữa giá dầu và giá lương thực với lạm phát ở khu vực hay không Trong phạm
vi của bài nghiên cứu này, do giới hạn về mặt số liệu nên chúng tôi chỉ xem xét sự ảnh hưởng của cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới đến lạm phát ở các 10 nước đang phát triển ở Châu Á, cụ thể: Brunei, Cambodia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam
Mục tiêu trọng tâm của bài nghiên cứu là tìm ra đâu là nguồn gốc của lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển trong thời gian qua Một mục tiêu khác của bài nghiên cứu là đo lường mức độ dẫn truyền của cú sốc giá lương thực và giá dầu thế giới vào giá cả hàng hóa trong nước Tuy nhiên mức độ dẫn truyền này là không giống nhau ở các nước Bảng 2.1 trình bày một số đặc điểm của các quốc gia được đưa vào mẫu quan sát theo thống kê của IMF, qua đó làm cơ sở để chúng tôi xem xét sự phụ thuộc của mức độ dẫn truyền vào ba yếu tố: chế độ tỷ giá, mục tiêu của chính sách tiền tệ và tầm quan trọng của lương thực trong CPI, được đại diện bằng
tỷ trọng lương thực trong rổ hàng hóa tính CPI Sở dĩ chúng tôi xem xét đến ba yếu
tố trên là do: cú sốc ngoại sinh như giá dầu, giá lương thực sẽ thông qua tỷ giá tác động vào giá cả hàng hóa trong nước và ứng với mỗi nước có một mục tiêu trọng tâm của chính sách tiền tệ khác nhau thì các biện pháp để hạn chế mức độ dẫn truyền của các cú sốc này vào giá cả nội địa sẽ bị giới hạn trong một phạm vi cụ thể nhằm đảm bảo vẫn thực hiện được mục tiêu trọng tâm này Ngoài ra, mỗi quốc gia
sẽ có một tỷ trọng lương thực trong CPI khác nhau, chính điều này sẽ làm cho mức
độ ảnh hưởng của giá lương thực thế giới đến CPI ở mỗi nước khác nhau hay mức
Trang 17độ dẫn truyền là khác nhau Thông qua việc phân tích sự khác nhau của mức độ dẫn truyền ở những nước có đặc điểm về chế độ tỷ giá, mục tiêu của chính của chính sách tiền tệ và tỷ trọng lương thực trong CPI khác nhau sẽ có thể là những gợi ý cho việc điều chỉnh chính sách để chính sách tiền tệ có những phản ứng phù hợp trong giai đoạn xảy ra các cú sốc về giá hàng hóa thế giới
Bảng 2.1: Đặc điểm về tỷ giá, chính sách tiền tệ và tỷ trọng lượng thực trong
CPI ở mẫu 10 quốc gia được quan sát
Nguồn : IMF De Facto Classification of Exchange rate Regime and Monetary policy Frameworks
Phần còn lại của bài nghiên cứu này được được sắp xếp như sau: Phần 3 trình bày tổng quan kết quả một số nghiên cứu trước đây về vấn đề ảnh hưởng của cú sốc ngoại sinh đến lạm phát Phần 4 nêu phương pháp thực nghiệm, mô hình, số liệu để
đo lường mức độ dẫn truyền của giá dầu, giá lương thực thế giới vào giá cả nội địạ
Khuôn khổ chính sách tiền tệ
Tỷ trọng lương thực trong CPI Brunei
Trung Quốc Hệ thống tỷ giá con rắn tiền tệ Neo tỷ giá theo đồng Đô La 0,30
Thả nổi có điều tiết
Singapore
Thả nổi có điều tiết
Thái Lan Thả nổi có điều tiết không công bố trước Khuôn khổ lạm phát mục tiêu 0,40
Việt Nam
Neo tỷ giá cố định truyền thống
Neo tỷ giá theo
Trang 18và cơ chế dẫn truyền Phần 5 là nội dung nghiên cứu và thảo luận về các kết quả chính của bài, đánh giá tầm quan trọng của hai cú sốc này trong việc giải thích sự tăng lên của lạm phát ở 10 nước được nghiên cứu trong thời gian qua Phần cuối cùng nên lên kết luận nổi bật và một số hàm ý chính sách từ bài nghiên cứu
3 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
Trong những năm gần đây, những ảnh hưởng từ sự tăng lên đột biến của giá lương thực và giá dầu thế giới đến nền kinh tế đã trở thành một vấn đề nóng, nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận và các nhà nghiên cứu Sau đây chúng tôi xin được tóm tắt một số kết quả nghiên cứu đã được thực hiện về tác động của hai cú sốc này đến lạm phát và một số chỉ tiêu kinh tế khác:
Theo bài nghiên cứu “Lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển: Cầu kéo hay chi phí đẩy ?” của Juthathip Jongwanich và Donghyun Park, 9/2008 thuộc bộ phận
nghiên cứu Ngân Hàng Phát Triển Châu Á tìm hiểu về nguồn gốc của lạm phát của khu vực cũng như mức độ dẫn truyền của cú sốc giá dầu, giá lương thực năm 2008 vào lạm phát tiêu dùng ở chín nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ đã tìm thấy những kết quả chính sau:
- Lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển chủ yếu có nguyên nhân là các yếu tố cầu kéo, cụ thể là sự dư thừa của tổng cầu và kỳ vọng lạm phát Các
cú sốc ngoại sinh như giá dầu và giá lương thực chỉ giải thích khoảng 30% lạm phát giá tiêu dùng của khu vực này Qua đó cho thấy rằng, lạm phát của khu vực này không hoàn toàn là do các nhân tố ngoại sinh nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan tiền tệ và vì vậy chính sách tiền tệ vẫn là một công
cụ mạnh trong cuộc chiến chống lạm phát ở các nước này
- Sự dẫn truyền của các cú sốc giá dầu và giá lương thực lớn hơn đáng kể đối với giá sản xuất hơn là giá tiêu dùng Sự tăng lên giá dầu và giá lương thực giải thích khoảng hơn 50% lạm phát giá sản xuất trong khi đối với giá tiêu dùng con số này chỉ dùng lại ở mức khiêm tốn là 30%
Trang 19Cũng đi sâu vào nghiên cứu đề tài về tầm ảnh hưởng của việc tăng lên đột biến trong giá dầu và giá lương thực trong năm 2008 đến lạm phát, Nobuledo Duma,
trong bài nghiên cứu “Sự dẫn truyền của cú sốc ngoại sinh đến lạm phát ở Sri Lanka” tháng 3/2008 tìm thấy rằng có một sự dẫn truyền không hoàn toàn từ các cú
sốc ngoại sinh, cụ thể cú sốc giá dầu và giá lương thực vào lạm phát ở Sri Lanka Hàm phản ứng đẩy và phân tích phương sai từ mô hình VAR đệ quy cho thấy rằng, mức độ dẫn truyền vào giá tiêu dùng tăng từ 10% trong kỳ thứ nhất của cú sốc đến 40% trong tháng kỳ thứ 6 Đồng thời kết quả nghiên cứu của ông cũng tìm thấy có một sự dẫn truyền cao hơn vào lạm phát chỉ số giá bán buôn hơn là sự dẫn truyền vào lạm phát giá tiêu dùng ở Sri Lanka
Bài nghiên cứu của Ngân hàng trung ương Châu Âu vào tháng 8/2010, “Dẫn truyền của giá lương thực vào khu vực đồng Euro” của Luca Onorante đã đưa ra kết luận
như sau: giá lương thực thế giới là nhân tố chính gây ra lạm phát ở khu vực các nước đồng Euro Mức độ dẫn truyền từ cú sốc giá hàng hóa thế giới vào giá nội địa nhanh nhất đối với thịt và tiếp theo sau đó là cà phê và hàng hóa tiêu dùng hàng ngày Ông cũng tìm thấy rằng, mức độ dẫn truyền thì cao hơn đối với giá sản xuất
so với giá tiêu dùng
Kết quả chính của bài nghiên cứu về sự ảnh hưởng của giá lương thực đến lạm phát
ở các nước đang phát triển Châu Á của Ngân hàng phát triển Châu Á 3/2011 “Lạm phát giá lương thực và sự phát triển của Châu Á” đã tìm thấy rằng sự tăng lên đột
biến của giá lương thực thế giới trong năm 2011, đặc biệt là gạo và lúa mì – hai mặt hàng chủ lực trong sản xuất và tiêu dùng ở các nước Châu Á đã làm lạm phát của khu vực 1/2011 tăng lên 10% Kết quả ước lượng cũng cho thấy rằng một sự gia tăng khoảng 30% giá lương thực toàn cầu trong năm 2011 sẽ làm cho GDP một số nước nhập khẩu thực phẩm giảm 0,6% Nếu kết hợp với sự tăng lên 30% giá dầu sẽ làm GDP giảm 1,5% so với trường hợp giá dầu và giá lương thực ổn định
Theo Eduardo Lora và Andrew Powell trong bài nghiên cứu “Cú sốc giá lương thực ảnh hưởng như thế nào để lạm phát ở khu vực Mỹ La-Tinh và vùng Caribbean ?”
Trang 208/2011 đo lường sự dẫn truyền của cú sốc giá lương thực và giá dầu năm 2011 vào
tỷ giá, lạm phát lương thực, lạm phát phi lương thực và lạm phát chỉ số giá tiêu dùng của khu vực Mỹ La-tinh và Caribbean đã chỉ ra rằng: sự gia tăng của giá lương thực thế giới làm lạm phát chỉ số giá tiêu dùng tăng lên khoảng 5% ở các nước Bolivia, Cộng hòa Đô-mi-ni-a, Guatemala và Honduras Ở một số nước có hệ thống tỷ giá thả nổi như Brazil, Colombia và Mexico, nội tệ có xu hướng tăng giá trị như một phản ứng lại với việc giá lương thực tăng cao và kết quả là làm giảm độ dẫn truyền từ giá lương thực và giá dầu thế giới vào giá cả trong nước Mức độ dẫn truyền của hai cú sốc này vào lạm phát phi lương thực thì nhỏ hơn nhiều so với lạm phát lương thực và lạm phát chỉ số giá tiêu dùng
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đây đã nêu, bài nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào phân tính sự ảnh hưởng của cú sốc giá dầu và giá lương thực trong suốt giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 ở 10 quốc gia Brunei, Cambodia, Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam với hai điểm nhấn là hai thời điểm giá dầu và giá lương thực đạt đỉnh vào năm 2008 và
2011 Trên cở sở kết hợp hai bài nghiên cứu của tác giả Juthathip Jongwanich, Donghyun Park, 9/2007 và Eduardo Lora, Andrew Powell, 8/2011 bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ đo lường mức độ dẫn truyền của cú sốc giá lương thực và giá dầu vào lạm phát ở nước này với cơ chế dẫn truyền thông qua các biến lỗ hổng sản lượng, tỷ giá, tỷ lệ lạm phát giá lương thực, lạm phát giá phi lương thực và cuối cùng là vào lạm phát chỉ số giá tiêu dùng Sự kết hợp này sẽ khắc phục được nhược điểm hạn chế số liệu về chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá sản xuất ở nhiều nước trong mẫu của bài nghiên cứu của tác giả Juthathip Jongwanich, Donghyun Park và khắc phục được việc bỏ qua các tác động quan trọng như sự tác động của giá dầu lên giá lương thực và sự tác động của hai biến này lên lỗ hổng sản lượng từ đó tác động đến tỷ giá ở bài nghiên cứu của tác giả Eduardo Lora và Andrew Powell Đồng thời điểm mới trong bài nghiên cứu của chúng tôi là có xem xét có sự khác nhau nào về mức độ tác động của hai cú sốc ngoại sinh này đến giá lương thực và giá hàng hóa phi lương thực hay không ? Bài nghiên cứu cũng quan tâm đến sự phụ
Trang 21thuộc của sự dẫn truyền vào đặc điểm của chế độ tỷ giá, khuôn khổ chính sách tiền
tệ và tỷ trong của lương thực trong CPI qua đó có thể khái quát được mức độ dẫn truyền ở những nhóm nước có đặc điểm giống nhau từ đó rút ra một số hàm ý về mặt chính sách phản ứng trong giai đoạn xảy ra cú sốc để có thể kiểm soát được mức độ dẫn truyền vào giá cả trong nước Một cách ngắn gọn bài nghiên cứu của chúng tôi hướng đến tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới có phải là nguồn gốc của lạm phát
ở các nước Châu Á đang phát triển trong giai đoạn 2000-2012 hay không ?
- Có sự dẫn truyền khác nhau nào của hai cú sốc này vào lạm phát lương thực
và lạm phát phi lương thực hay không ?
- Mức độ dẫn truyền của giá dầu và giá lương thực vào lạm phát trong nước phụ thuộc vào các yếu tố chế độ tỷ giá, khuôn khổ chính sách tiền tệ và tỷ trọng lương thực trong CPI như thế nào ?
4 Phương pháp nghiên cứu – Mô hình và dữ liệu
Để phân tích sự tác động của hai cú sốc ngoại sinh là giá dầu và giá lương thực vào lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển, cũng như tìm đáp án cho các câu hỏi nghiên cứu trên sau đây chúng tôi đã tiến hành phân tích định lượng để đo lường mức độ dẫn truyền của chúng Trong phần này sẽ trình bày tóm tắt mô hình được sử dụng để đưa ra kết quả cho các phân tích trên
Trang 22nó đã được nhiều nhà khoa học sử dụng trong bài nghiên cứu của mình trước đây,
cụ thể như sau:
để đo lường sự dẫn truyền của tỷ giá hối đoái và cú sốc ngoại sinh năm 2008
và lạm phát ở Nam Phi, Sri Lanka và nhiều nước đang phát triển khác với các biến giá dầu, lỗ hổng sản lượng, tỷ giá, chỉ số lạm phát giá nhập khẩu, chỉ số lạm phát giá bán buôn, chỉ số lạm phát giá tiêu dùng và cung tiền
- Sau đó vào tháng 9/2007, Juthathip Jongwanich và Donghyun Park đã dựa trên mô hình VAR của Duma (2006) ở trên để tiến hành đo lường sự dẫn truyền của các cú sốc ngoại sinh năm 2008 vào lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển Điểm mới trong mô hình của Juthathip Jongwanich và Donghyun Park có xem xét thêm biến lương thực trong quá trình dẫn truyền này
- Eduardo Lora và Andrew Powell trong bài nghiên cứu “Cú sốc giá lương thực ảnh hưởng như thế nào để lạm phát ở Mỹ La-Tinh và vùng Caribbean
?” cũng sử dụng mô hình VAR để xem xét sự tác động của giá dầu và giá
lương thực đến lạm phát ở khu vực này Tuy nhiên, trong bài này tác giả phân tích sự ảnh hưởng riêng biệt của giá dầu hoặc giá lương thực đến giá cả trong nước thay vì xem xét luôn sự dẫn truyền từ giá dầu lên giá lương thực trong cơ chế dẫn truyền đến lạm phát Ông tiến hành chạy mô hình VAR với
5 biến: giá dầu/hoặc giá lương thực, tỷ giá, CPI lương thực, CPI phi lương thực và CPI tổng thể Điểm mới của bài nghiên cứu này là thay vì phân tích
sự tác động của cú sốc lên giá cả trong nước theo theo 3 giai đoạn: nhập khẩu, sản xuất, tiêu dùng như các nhà nghiên cứu trước thì Eduardo Lora và Andrew Powell phân tích sự tác động này thông qua CPI lương thực là yếu
1 McCarthy (1999) kiểm tra mức độ dẫn truyền của tỷ giá và giá nhập khẩu vào giá cả sản xuất trong nước và lạm phát tiêu dùng ở chín nước đang phát triển, cụ thể là: Bỉ, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ từ Quý 1/1976 đến Quý 4/1998 Bhudia (2002) đo lường sự dẫn truyền của tỷ giá ở Nam Phi từ Quý 2/1976 đến quý 3/2000 Trong khi đó, Duma (2006) ước lượng sự dẫn truyền của sự gia tăng đột biến của giá dầu, giá nhập khẩu, và tỷ giá ở Sri Lamka từ 3/2003 đến 7/2007
Trang 23tố chịu tác động trực tiếp từ cú sốc sau đó xem xét mức độ ảnh hưởng của CPI lương thực vào CPI phi lương thực
Như đã trình bày ở phần tổng quan các nghiên cứu, trên cở sở kết hợp các bài nghiên cứu ở trên Mô hình trong bài này lấy mô hình VAR của Juthathip Jongwanich và Donghyun Park (2007) làm cơ sở nhưng do hạn chế về số liệu chỉ số lạm phát giá nhập khẩu và chỉ số lạm phát giá sản xuất ít được thống kê theo quý ở hầu hết các nước Châu Á đang phát triển nên hai biến lạm phát chỉ số giá nhập khẩu
và lạm phát chỉ số giá sản xuất được thay thế bằng lạm phát chỉ số giá lương thực
và lạm phát chỉ số giá phi lương thực Sở dĩ chúng tôi đề xuất sự thay thế này là dựa trên cơ sở mô hình VAR của Eduardo Lora và Andrew Powell (2011) đã đưa hai biến lạm phát CPI-F và CPI-NF vào đo lường mức độ dẫn truyền của cú sốc ngoại sinh vào lạm phát ở các nước Mỹ La-Tinh đã trình bày ở trên Tuy nhiên để làm gia tăng mức độ tin cậy của việc sử dụng hai biến lạm phát CPI-F và lạm phát CPI-NF chúng tôi sẽ tiến hành đánh giá mức độ phù hợp của hai biến này trong mô hình thông qua xác định mức độ dai dẳng cũng như liệu có sự dẫn truyền nào từ CPI-F
và CPI-NF ở mẫu 10 quốc gia được quan sát trong bài này hay không ? Nếu mức độ dai dẳng của hai biến này lớn đồng nghĩa với việc đây là hai cú sốc có tác động trong bài hạn chứ không phải nhất thời Đồng thời nếu tồn tại mối liên hệ dẫn truyền từ CPI-F vào CPI-NF sẽ khẳng định được mô hình VAR 7 biến áp dụng trong bài nghiên cứu này đảm bảo được cơ chế dẫn truyền theo trật tự Cholesky với mức độ nội sinh từ trên xuống Phần kiểm tra sự phù hợp của hai biến CPI-F và CPI-NF sẽ được trình bày cụ thể trong phần nội dung nghiên cứu Ngoài ra bài nghiên cứu này sẽ đưa ra có một cái nhìn mới về lạm phát lương thực, lạm phát phi lương thực Như vậy, mô hình VAR của chúng tôi sử dụng trong bài này gồm 7 biến sau: Hai thành phần đầu tiên là lạm phát giá dầu (πoil) và lạm phát giá lương thực (πfood), là tác động của cú sốc cung thế giới tới lạm phát (cái được đề cập ở đây
là lạm phát chi phí đẩy) Thành phần thứ ba là lỗ hổng sản lượng (y), được xem là
thứ tư Thành phần thứ năm và thứ sáu là tác động của các cú sốc đến hai thành
Trang 24phần của lạm phát tiêu dùng tổng thể (CPI) là lạm phát CPI lương thực(πCPI food) và lạm phát phi lương thực (πCPI non-food) Thành phần cuối cùng là lạm phát kỳ vọng ở mỗi giai đoạn được dựa trên thông tin sẵn có ở thời điểm t-1 Mô hình VAR với 7 biến thành phần trên có thể được biểu diễn như sau:
giá lương thực trong nước, giá phi lương thực trong nước và giá tiêu dùng và E là
sự kỳ vọng2
Cơ chế dẫn truyền của mô hình này để xác định nguồn gốc của lạm phát và sự dẫn truyền như sau: giả sử có một cú sốc ngoại sinh từ giá dầu thế giới Theo mô hình này, giá lương thực thế giới sẽ lập tức điều chỉnh (theo hàng quý) Sự thay đổi trong giá dầu và giá lương thực sẽ ảnh hưởng đến tổng cầu, trong khi đó tỷ giá sẽ phản ứng lại với sự gia tăng trong giá dầu, giá lương thực cũng như sự thay đổi trong tổng cầu Nói một cách khác, tỷ giá sẽ điều chỉnh như là kết quả của sự thay đổi trong vị thế cán cân thanh toán Sự thay đổi trong giá dầu thế giới, giá lương thực,
2 Thực tế, sự hình thành của kỳ vọng lạm phát có thể có hai thành phần hướng quá khứ và hướng tương lai (Mankiw et al.2003 và Ball 2000) Tuy nhiên, theo những nghiên cứu trước đây của McCarthy(1999), Bhundia(2002) và Duma(2008) tìm thấy rằng kì vọng trong quá khứ có thể giải thích tốt hơn giá cả trong nước ở cá nước Châu Á đang phát triển Ngoài ra, chúng ta cần nhận thấy rằng ở các nước Châu Á đang phát triển thường thiếu các chỉ báo tương lai đáng tin cậy, ví dụ như ở các nước công nghiệp với hệ thống tài chính phát triển
π oil = Et-1 (πoil) +
π food = Et-1 (πfood) + a1 +
yt = Et-1 (yt) + b1 + b2 +
∆e = Et-1 (∆e) + c1 + c2 + c3 +
π CPI food = Et-1(π CPI food
π CPI non-food = Et-1(πCPI non-food)+ e1 + e2 + e3 + e4 + e5 +
Trang 25cùng với sự thay đổi của tỷ giá sẽ ngay lập tức ảnh hưởng đến giá lương thực trong nước Điều này sẽ cho kết quả ngay lập tức tác động đến giá các hàng hóa phi lương thực và từ đó tác động giá tiêu dùng trong nước Ngoài ra sự thay đổi của tỷ giá còn
có thể tác động trực tiếp đến giá hàng hóa phi lương thực trong nước thông qua nhập khẩu từ đó tác động đến giá tiêu dùng Tiến trình này cũng được mô tả tương
tự cho một cú sốc giá lương thực, ngoại trừ việc sự thay đổi trong giá lương thực thế giới sẽ tác động đến giá dầu ở giai đoạn đầu Lưu ý rằng trong mô hình này, mức độ nội sinh sẽ tăng dần theo thứ tự từ trên xuống theo trật tự Cholesky trong hàm phản ứng đẩy Chính vì thế có thể có nhược điểm của cấu trúc đệ quy bởi vì giá có thể tác động ngược trở lại vào tổng cầu trong ¼ khoảng thời gian (tần số của
bộ dữ liệu) Bởi vậy, trật tự thay thế các biến cần được tính toán để kiểm tra độ mạnh của kết quả
Về mặt số liệu, mô hình được ước tính trong giai đoạn từ quý 1/2000 đến quý 4/2012 Trong đó nguồn thu thập dữ liệu được tóm tắt trong Bảng 4.1
Cách thu thập và xử lý các biến cụ thể được thực hiện như sau:
- Dữ liệu chỉ số giá dầu thô được lấy từ nguồn “IMF Primary Commodity Price tables” Trong đó giá dầu thô được tính từ trung bình giá dầu thô
Dubai, Anh và Miền tây Texas sau đó tính toán chỉ số giá dầu thô thế giới với năm gốc là 2005
- Chỉ số giá lương thực là chỉ số giá trung bình của năm loại lương thực chính: lúa mì, gạo và dầu thực vật, ngô, đường được tính bằng tổng của tỷ trọng nhân chỉ số giá của từng loại lương thực trên Trong đó, giá của năm loại
lương thực chính được lấy từ “IMF Primary Commodity Price tables”, cụ
thể giá lúa mì ở US Gulf Coast và giá gạo ở Bangkok, giá dầu thực vật ở Chicago, giá đường trên thị trường tự do và giá ngô ở Mexico được sử dụng đại diện như giá lúa mì, giá gạo, giá dầu thực vật, giá đường, giá ngô thế giới Còn tỷ trọng của năm loại lương thực này trong danh mục được thu
thập từ nguồn “Specifications for Commodity prices của IMF Primary
Trang 26Commodity Prices World”, sau đó tính toán lại tỷ trọng tương ứng sao cho
tổng tỷ trọng của năm loại lương thực này là 100%
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được lấy từ IFS của IMF là giá trị của tỷ giá
được tính theo cách niêm yết trực tiếp, sau đó được tính toán lại dưới dạng chỉ số với năm gốc là 2000
- Chỉ số CPI và CPI food được lấy từ dữ liệu FAO Statistic của Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc với năm gốc là năm 2000 theo tháng, sau đó tính CPI theo quý bằng trung bình các quý trong năm CPI non-food được tính theo công thức:
CPI non-food = (CPI – CPI food*P)/(1-P)
Với P: tỷ trọng lương thực trong rổ hàng hóa tính CPI
P có được thông qua dữ liệu trong bài nghiên cứu “Global food price inflation and developing Asia” vào tháng 3/2011 của ADB
- Biến y - lỗ hổng sản lượng chính là khoảng cách giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng Sản lượng thực tế là GDP thực trong khi sản lượng tiềm năng được đại diện bởi xu hướng của GDP thực, được tính từ Bộ lọc Hodrick – Prescott Một số phương pháp khác, như là cấp số nhân san bằng biến động và bộ lọc Kalman, cũng cho ra kết quả tương tự, nhưng bộ lọc Hodrick – Prescott được lựa chọn ở đây vì đưa ra sự giải thích, dự đoán và kiểm định chẩn đoán một cách tốt nhất Sản lượng tiềm năng là một biến ngoại sinh trong mô hình Vì thế, sự thay đổi trong lỗ hổng sản lượng sẽ hoàn toàn phản ảnh sự biến động của tổng cầu Như vậy, một sự gia tăng trong biến này hàm ý một sự gia tăng áp lực của tổng cầu Ngoài ra, giá trị của lỗ hổng sản lượng thì lớn hơn 1 phản ánh sự dư thừa của tổng cầu GDP
thực của Việt Nam thu thập từ datastream, GDP thực của các nước còn lại lấy từ IFS
Trang 27Bảng 4.1: Tóm tắt nguồn thu thập dữ liệu
lấy từ datastream
Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp ADF được thực hiện để kiểm tra tính dừng của các biến sau đó xử lý các biến không dừng bằng cách lấy sai phân để đảm bảo tất cả các biến của mô hình đều dừng nhằm tránh kết quả sai lệch do vấn đề hồi quy giả Các kiểm định đồng liên kết cũng được thực hiện để xem xét có hay không mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến Trường hợp các biến điều dừng và không
có đồng liên kết thì kết quả sẽ được ước lượng bằng mô hình VAR thông thường, còn trường hợp các biến đều dừng nhưng có xuất hiện đồng liên kết thì ước lượng của bài sẽ được thực hiện bằng mô hình VECM Độ lớn của độ trễ được kiểm tra bằng tiêu chuẩn Akaike
Để đảm bảo các biến được chọn đều giải thích được biến động của lạm phát Kiểm định Granger được thực hiện giữa từng biến với CPI Kết quả kiểm định cho thấy 7
Trang 28biến được lựa chọn đều có tác động giải thích cho lạm phát ở mẫu 10 quốc gia được quan sát (Kết quả kiểm định: Phụ lục 5)
Tầm quan trọng của mối liên hệ giữa các biến trong việc xác định nguồn gốc của lạm phát được tính toán thông qua phân tích phương sai (variance decomposition analysis) để phân biệt sự biến động trong các biến nội sinh (lạm phát giá tiêu dùng, lạm phát giá lương thực và lạm phát giá phi lương thực) do thành phần các cú sốc trong mô hình VAR gây ra Mức độ dẫn truyền được đo lường bằng hàm phản ứng đẩy Hàm phản ứng đẩy theo dõi các tác động phức tạp của các biến lên lạm phát giá tiêu dùng trong thời gian mà cú sốc tác động Vì vậy hệ số dẫn truyền của giá dầu (giá lương thực) có được bằng cách chia mức độ phản ứng của mỗi chỉ số giá khác đã tích lũy sau j tháng cho giá dầu (giá lương thực) đã phản ứng tích lũy sau j tháng với cú sốc giá dầu (giá lương thực)
5 Nội dung và kết quả nghiên cứu
Lạm phát chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát lương thực và phi lương thực đo lường ở các nước Châu Á đang phát triển đã tăng lên một cách đáng kể từ đầu năm 2007 Hình 5.1 biểu diễn lạm phát ở 10 nước thuộc mẫu nghiên cứu Nhìn chung, lạm phát
ở 10 nước này có những điểm chung như sau:
- Lạm phát CPI, lạm phát lương thực và lạm phát phi lương thực có xu hướng biến động cùng nhau (trừ quý 2 và quý 3 năm 2005)
- Ở hầu hết các nước lạm phát phi lương thực cao hơn lạm phát CPI tổng thể
và hai chỉ tiêu lạm phát này cùng cao hơn lạm phát lương thực
- Lạm phát ở 10 nước này đều đạt đỉnh cao nhất vào năm 2008 và kể tiếp là đỉnh vào năm 2011
Ở Việt Nam, sau một thời gian dài lạm phát được duy trì ở mức thấp từ 5-6% suốt giai đoạn Quý 1/2000 đến Quý 2/2007 thì chỉ số này đã nhanh chóng tăng lên đột ngột là đạt mức 45,57% vào Quý 2/2008, tăng gần 80% mỗi năm trong giai đoạn 8 năm Và 3 năm sau đó lạm phát vẫn còn là một con số khá cao treo lơ lững ở mức 16,88% vào cuối năm 2010 Lạm phát giá tiêu dùng tăng gần 25% từ năm này qua
Trang 29năm khác từ đầu năm 2008, trong khi ở Trung Quốc lạm phát giá tiêu dùng tăng vọt gần 9% trong quý thứ 2 của năm 2008, từ lạm phát nhỏ hơn 2% năm 2006 (tăng lên 4,5 lần), sau đó tiếp tục đạt mức kỷ lục 11,44% vào quý 2/2011 Điều đặc biệt là giá hàng hóa phi lương đều tăng nhanh hơn giá tiêu dùng và giá lương thực ở hầu hết các nước trong khu vực Điều này đặc biệt đúng ở Thái Lan, nơi mà lạm phát giá phi lương thực đã tăng đến đạt đến 22,29% trong quý 4 năm 2011, so sánh với 3,78% trong đầu năm 2006 Trong khi đó, lạm phát lương thực, lạm phát CPI tổng thể chỉ dừng lại ở mức 0,42% và 13,88%
Hình 5.1: Lạm phát giá tiêu dùng, lạm phát lương thực và phi lương thực – giai đoạn 2001-2012 (%)
Trang 31Nguồn: FAO Statistic
Sự tăng đột biến trong lạm phát ở Châu Á hầu như hoàn toàn trùng khớp với sự gia tăng đột biến trong giá cả hàng hóa (Hình 2.2) Giá dầu thô Brent được ghi nhận một mức cao kỷ lục 140$/1 thùng vào năm 2008, tăng từ dưới 60$/1 thùng ở đầu năm 2007 hay chỉ số dầu thô lấy năm 2005 làm năm gốc đạt 249,66 vào 12/2008, so sánh với 100,52 tháng 1/2007 (tăng 74%/1 năm) Và chỉ số này duy trỳ ở mức cao khoảng 200 điểm liên tiếp từ năm 2008 cho đến 2012 Sự tăng lên của giá dầu chủ yếu dựa trên nguyên tắc cơ bản cung và cầu (ADB 2008b) Sự tăng lên của nhu cầu trên phạm vi toàn cầu và việc nguồn cung của thế giới không có khả năng đáp ứng
đã tạo ra áp lực làm cho giá dầu không ngừng tăng lên Kết quả của việc cắt giảm năng suất dư thừa trong giai đoạn trước cũng dẫn đến sự biến động trong giá lớn hơn bằng cách khuếch đại những tác động nhỏ nhất của nhu cầu và các cú sốc cung Cuối cùng đầu cơ có thể làm tăng thêm mức độ trầm trọng sự tăng giá trong ngắn hạn và do đó góp phần làm tăng biến động giá
Giá lương thực tăng mạnh kể từ năm 2007, đặc biệt là giá gạo, dầu thực vật, và lúa
mì Nó tăng lên tương ứng 62%, 94% và 107% trong quý 1 năm 2008, so sánh với 39% trong giá lương thực chung Giá ngô, một sản phẩm thay thế cho lúa mì cũng tăng lên 30% trong khi đó, giá của những loại dầu ăn khác (dầu đậu nành, dầu dừa) thì tăng lên khoảng 90% Nguyên nhân của sự tăng nhanh trong giá cả của các loại lương thực chủ yếu thì phức tạp, đặc biệt ở Trung Quốc và Ấn độ đã đặt ra các chính sách tăng áp lực lên giá của rất nhiều mặt hàng thực phẩm Một sự suy giảm trong việc duy trì giá của đồng đô là Mỹ từ năm 2004 đã làm tăng thêm áp lực tăng giá các mặt hàng tính trên đồng đô la - đặc biệt là giá dầu mỏ - điều này đã thúc đẩy việc tìm kiếm lợi nhuận xung quanh việc chống lại sự suy yếu của đồng đô la dẫn đến tăng đầu cơ Sự kết hợp giữa giá dầu cao và nhiệm vụ tăng cường sản xuất các sản phẩm năng lượng sinh học thay thế đối với xăng và diesel đã hình thành giá liên kết giữa thức ăn dự trữ (như ngô và dầu thực vật) và giá năng lượng Đầu cơ tài
chính phát sinh do lãi suất thấp đã thúc đẩy sự tăng giá hàng hóa
Trang 32Một yếu tố khác làm hạn chế mức độ ảnh hưởng của sự tăng lên trong giá dầu và giá lương thực đến lạm phát ở nhiều quốc gia được xem xét ở đây là việc tỷ giá hối đoái danh nghĩa duy giảm như một biểu hiện của sự giảm giá đồng Đô la Mỹ Hình 5.2 thể hiện sự biến động của tỷ giá cho thấy rằng ở Brunei, Singapore, Trung Quốc
tỷ giá danh nghĩa có xu hướng biến động cùng nhau và trong giai đoạn 5 năm từ năm 2005 đến 2010 tỷ giá đã giảm xuống 20% Điều tương tự xuất hiện ở Thái Lan, Malaysia khi xét đến thời điểm 4/2008 tỷ giá danh nghĩa ở hai nước này đã giảm 18% so với thời điểm 7/2006 Riêng Việt Nam và Ấn Độ tỷ giá có nhiều biến động
và tăng nhẹ vào năm 2008
Hình 5.2: Biến động của tỷ giá - giai đoạn 1/2000 -12/2012
Nguồn: Thống kê từ IFS
Chú ý: Tỷ giá ở đây được hiểu là chỉ số tỷ giá lấy năm 2000 làm năm gốc Và tỷ giá trong hình vẽ này cũng như trong toàn bài là tỷ giá niêm yết theo kiểu trực tiếp
Giá dầu và giá lương thực thế giới trong giai đoan 2006-2012 có nhiều biến động và liên tiếp hai lần đạt mức cao kỷ lục vào năm 2008 và 2011 Sở dĩ có sự dao động mạnh trong giá cả của hai mặt hàng quan trọng này là do lương thực và năng lượng
là hai mặt hàng rất nhạy cảm với độ bất ổn của nền kinh tế Đồng thời đây là hai loại hàng hóa đặc biệt quan trọng trong sản xuất, tiêu dùng và rất cần cho sự phát
Trang 33triển nên khi có một sự bất ổn nhỏ trong nền kinh tế thế giới thì nó sẽ được khuếch đại đáng kể lên sự biến động của giá dầu và giá lương thực Giai đoạn 2006-2012 là giai đoạn đầy bất ổn và khó khăn của kinh tế toàn cầu khi phải trải qua cuộc suy thoái năm 2008 và thời kỳ hậu suy thoái khắc phục những hậu của khủng hoảng Thêm vào đó, kết hợp với sự không ổn định về mặt chính trị ở các nước sản xuất dầu mỏ và thiên tai đã làm cho giá dầu va giá lương thực không ngừng biến động Sau đây chúng tôi sẽ tổng kết ba nguyên nhân của hiện tượng tăng giá dầu và giá lương thực trong giai đoạn vừa qua
5.2.1 Yếu tố cấu trúc và tính chu kỳ
Yếu tố cấu trúc là một trong những cơ sở giải thích những gì đã xảy ra với giá lương thực thế giới trong những năm gần đây Theo nghiên cứu của ADB(2008b)
đã tìm thấy rằng giá cổ phiếu về gạo và các loại ngũ cốc khác trên toàn thế giới giảm mạnh biểu thị một sự thật rằng tăng trưởng sản xuất đã giảm xuống dưới mức tăng trưởng tiêu thụ trong nhiều năm Mức sản xuất gạo và lúa mì giảm sút, năm
2008 vào khoảng 200 triệu tấn, so với 350 triệu tấn năm 2000, giảm khoảng 43% (USDA2008) Vào năm 2008, việc tăng giá gạo trên thị trường thương mại quốc tế không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu thụ mà còn phản ánh nỗ lực làm tăng giá của nhóm cổ phiếu này và tạo một áp lực lớn trong quan hệ cung-cầu Thị trường gạo thế giới không vững chắc là do tính không đối xứng giữa phần lớn các quốc gia tiêu thụ và số ít các nước sản xuất để xuất khẩu
Một yếu tố khác thuộc về mặt cấu trúc là sự khan hiếm dầu ngày càng tăng do sự trì trệ nguồn cung cấp từ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và sự suy giảm
đối mặt với sự suy thoái G3 và suy thoái theo chu kỳ dự kiến trong sự phát triển thế giới năm 2008, giá dầu tiếp tục đạt những mức cao mới Mối quan hệ chặt chẽ giữa giá dầu và giá lương thực đã góp phần đẩy giá lương thực tăng cao
Các yếu tố mang tính chu kỳ cũng có những ảnh hưởng không tốt đối với xu hướng giá lương thực Thời tiết bất lợi gồm có hạn hán làm thất bại vụ thu hoạch lúa mì tại
Úc năm 2007 và lũ lụt ở Nam Á gây thiệt hại sản xuất và dịch rầy nâu phá hoại ở
Trang 34Việt Nam Cuộc khủng hoảng thị trường tài chính năm 2008 cũng tạo ra một hiệu ứng theo chu kỳ làm cho các nhà đầu tư chuyển sang đầu tư vào những mặt hàng với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao như vốn chủ sở hữu, trái phiếu và các công cụ thị trường tiền tệ hơn là đầu tư vào những mặt hàng lợi nhuận thấp như các sản phẩm sản xuất cũng là nguyên nhân làm giảm sản lượng cung ứng của lương thực và các mặt hàng sản xuất khác
5.2.2 Yếu tố cung và cầu
Yếu tố tổng cầu được xem là yếu tố quan trọng nhất trong việc giải thích sự gia tăng giá lương thực những năm 2008 và 2011 và có thể coi là một sự ủng hộ quan điểm cho rằng yếu tố cấu trúc chiếm ưu thế hơn yếu tố theo chu kỳ Trong những cơ sở ủng hộ tầm quan trọng của tổng cầu là sự tăng trưởng dân số thế giới và sự tăng trưởng thu nhập mạnh mẽ ở các nền kinh tế mới nổi trên toàn cầu là hai cơ sở rõ ràng nhất để khẳng định sự gia tăng của tổng cầu Yếu tố thứ ba là vấn đề liên quan đến việc thay đổi chế độ ăn uống sang các thực phẩm chất lượng cao như thịt và các sản phẩm từ sữa Sản xuất thịt và các sản phẩm từ sữa đòi hỏi một lượng lớn ngũ cốc ở dạng thức ăn chăn nuôi Để sản xuất 1kg thịt bò, có thể mất tới 7 kg ngũ cốc,
do đó lượng calo chuyển hóa thành nhiều protein hơn (theo ADB 2008) Một yếu tố nhu cầu theo cấu trúc quan trọng khác là việc sử dụng các loại hạt lương thực để sản xuất ethanol thay thế cho dầu Nhu cầu nhiên liệu sinh học đang tăng lên dẫn đến hạt ngũ cốc, đậu tương, đường, dầu thực vật được chuyển thành thức ăn chăn nuôi
Về phía cung, đô thị hóa và cạnh tranh nhu cầu đất thương mại trái ngược với mục đích nông nghiệp là một yếu tố quan trọng, cũng như là sự khan hiếm nước sạch cho nông nghiệp ngày càng tăng Mô hình trồng trọt đi từ thực phẩm đến nhiên liệu sinh học cũng có thể làm giảm nguồn cung sẵn có của đất dành cho thực phẩm Sự xao nhãng trong đầu tư về nông nghiệp, công nghệ, cơ sở hạ tầng và mở rộng các chương trình được xem là lý do để đổ lỗi cho sự phát triển trì trệ trong nguồn cung
về gạo (IRRI 2008) Sự gia tăng chi phí đầu vào liên quan đến giá nhiên liệu cao kỷ lục và chi phí gia tăng năng lượng cho máy bơm thủy lợi cũng là những nhân tố gây tăng giá
5.2.3 Thị trường trong nước và quốc tế
Trang 35Phản ứng ngắn hạn của chính phủ bằng cách hạn chế xuất khẩu và sử dụng các biện pháp hành chính trong nỗ lực kiểm soát giá để đối phó với sự tăng lên đột biến của giá hàng hóa thế giới ở một số quốc gia có thể là không phù hợp Để bảo vệ người tiêu dùng, thuế nhập khẩu được giảm đi tạm thời tại các quốc gia nhập khẩu ròng Trợ giá cũng được áp dụng rộng rãi đối với thực phẩm chủ yếu như gạo và ngăn chặn giá lương thực cao
Gánh nặng của trợ giá lúa gạo, lúa mì và năng lượng thì trở nên nặng nề hơn là kết quả của sự tăng đột biến về giá trong năm 2008 Tại Philipines, nhà nhập khẩu hàng đầu về gạo trên thế giới trong năm 2007, chi phí tài chính của trợ cấp gạo trong năm
2008 ước tính là 32,8 tỷ peso với một mức giá mua 29.4/kg so với giá bán 17.25/kg Indonesia có ngân sách trong năm 2008 tăng trợ cấp lương thực lên Rp19.8 nghìn tỷ
từ Rp 7.2 nghìn tỷ, tăng 1.4 tỷ $ hay 3% trong tổng chi tiêu của chính phủ
có độ tin cậy Nội dung trọng tâm của phần này là thực hiện một số đo lường nhằm mục đích xem xét cơ sở của việc đưa hai biến lạm phát CPI-F và CPI-NF vào mô hình VAR ước lượng mức độ dẫn truyền của cú sốc giá dầu và giá lương thưc vào lạm phát thay thế cho hai biến IPI và PPI Cơ sở để xem xét mức độ thích hợp của hai biến này bao gồm ba nội dung chính sau:
Một là thực hiện thống kê mô tả của hai biến lạm phát CPI-F và CPI-NF để xem xét mức độ biến động cũng như độ lệch chuẩn và độ dốc của hai biến này ở mẫu 10 quốc gia được quan sát trong bài Qua đó có sự so sánh về mức độ biến động và độ
Trang 36dốc của hai biến để xem biến nào biến động nhiều hơn và xem xét trong giai đoạn giá dầu và giá lương thực biến động mạnh thì hai biến này có biến động mạnh tương ứng không ? Đồng thời trong phần phân tích cơ sở của việc thay thế biến này thì mẫu của chúng tôi sẽ được sắp xếp theo thứ tự GDP/người giảm dần từ trái qua phải nhằm xem xét liệu có sự liên quan nào giữa biến động của CPI-F và CPI-NF với thu nhập trung bình ở các nước hay không ?
Cơ sở thứ hai để đánh giá mức độ hợp lý của hai biến CPI-F và CPI-NF trong mô hình là độ dai dẳng của lạm phát hai chỉ số giá này Lý do cho việc lựa chọn độ dai dẳng làm cơ sở đánh giá sự phù hợp của các biến trong mô hình là một biến được đưa vào mô hình như một nhân tố tác động đến lạm phát chỉ khi nó là một cú sốc trung – dài hạn Các cú sốc không thường xuyên, diễn ra trong ngắn hạn thì nên được bỏ qua trong việc xác định lạm phát Ngay cả khi những cú sốc này là lớn nhưng nếu chúng chỉ xuất hiện tạm thời và biến mất nhanh thì những ảnh hưởng của chúng đến lạm phát trong ngắn hạn sẽ không quan trọng Ngược lại những cú sốc dai dẳng sẽ có ảnh hưởng trong dài hạn, và có khả năng rất lớn gây ra kỳ vọng lạm phát cao sẽ là đối tượng là chính sách tiền tệ hướng đến để điều tiết Chính vì vậy chúng tôi tiến hình đo lường sự dai dẳng của lạm phát CPI, CPI-F và CPI-NF để xem xét, nếu lạm phát CPI-F và CPI-NF đều có sự dai dẳng cao thì nó cũng chính là nhân tố ảnh hưởng lớn đến lạm phát và cần thiết được đưa vào mô hình để ước lượng sự dẫn truyền của các cú sốc ngoại sinh vào CPI tổng thể
Cơ sở cuối cùng nhưng rất quan trọng đó là có hay không sự dẫn truyền giữa hai biến CPI-F và CPI-NF ở mẫu 10 quốc gia được quan sát trong đề tài này Để hai biến này được đưa vào mô hình thì phải chắc chắn có sự dẫn truyền giữa chúng Đồng thời chúng tôi cũng tiến hành đánh giá độ lớn của hệ số dẫn truyền từ CPI-F vào CPI-NF và sự dẫn truyền ngược lại từ CPI-NF vào CPI-F Qua đó sẽ xác định xem thứ tự của hai biến này trong mô hình VAR theo trật tự Cholesky theo mức độ nội sinh tăng dần từ trên xuống đã phù hợp hay chưa ? Nếu như mức độ dẫn truyền
từ CPI-F vào CPI-NF là lớn hơn chiều dẫn truyền ngược lại thì thứ tự hai biến này
Trang 37trong mô hình được trính bày ở phần 3 – Phương pháp nghiên cứu là hoàn toàn hợp
lý
5.3.1 Thống kê mô tả hai biến lạm phát CPI-F và CPI-NF
Việc xem xét sự biến động của các cú sốc giá lương thực và giá phi lương thực cũng rất quan trọng trong việc đánh giá sự tác động của chúng đến lạm phát Những
cú sốc về lạm phát giá lương thực càng lớn và càng thường xuyên thì nó sẽ càng tác động mạnh đến lạm phát nói chung và lạm phát phi lương thực nói riêng Ngược lại
sự biến động của chúng là nhỏ thì mức độ ảnh hưởng đến lạm phát tổng thể sẽ không đáng kể
Hình 5.3 biểu diễn mức lạm phát lương thực, phi lương thực trung bình hàng năm
và sự khác biệt giữa chúng ở 10 quốc gia được xem xét trong bài cho thấy rằng có một sự tương quan giữa độ lớn của lạm phát lương thực và lạm phát phi lương thực Những quốc gia có lạm phát lương thực cao thì lạm phát phi lương thực cũng cao hơn tương ứng Điều này cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ giữa CPI-F và CPI-NF
về độ lớn Đồng thời hình vẽ này cũng chỉ ra rằng lạm phát lương thực có xu hướng thấp hơn lạm phát phi lương thực ở những nước có thu thập cao và lạm phát lương thực cao hơn lạm phát phi lương thực ở những quốc gia có thu nhập thấp Cụ thể
Trang 38xem xét trong phạm vi 10 quốc gia được quan sát trong bài ta thấy rằng lạm phát CPI-F nhỏ hơn lạm phát CPI-NF ở nhóm mẫu 5 quốc gia có GDP/người cao như Singappore, Brunei, Malaysia, Trung Quốc và Thái Lan Còn nhóm 5 quốc gia có GDP/người thấp Philippines, Ấn Độ, Cambodia, Việt Nam (ngoại trừ Indonesia) thì lạm phát CPI-F cao hơn CPI-NF Hay nói đúng hơn những nước có thu nhập thấp thì giá lương thực trung bình tăng nhanh hơn giá phi lương thực
Giá lương thực trung bình cao hàm ý rằng giá lương thực sẽ tăng lên tương đối so với giá phi lương thực theo thời gian Ở những nước càng nghèo thì tốc độ này lại càng cao do khi tiền lương tăng lên thì người tiêu dùng ở những nước này có xu hướng tiêu dùng nhiều lương thực hơn và đẩy giá lương thực tăng lên tương đối so với các hàng hóa khác Khoảng cách này sẽ được thu hẹp dần ở những nước có thu nhập cao hơn bởi vì ở những nước này thì thị hiếu tiêu dùng đã thay đổi và có xu hướng gia tăng tiêu dùng những hàng hóa xa sỉ phẩm thay vì hàng hóa thiết yếu như lương thực khi thu nhập tăng lên Sự khác nhau về mức độ chênh lệch giữa tốc độ tăng của giá lương thực và giá phi lương thực ở những nước nghèo và những nước giàu cũng có thể xuất phát từ các nguyên nhân khác như khả năng trao đổi hàng hóa với khu vực bên ngoài sẽ tác động đến nguồn cung trong nước hay năng suất lao động nông nghiệp
Trang 39Hình 5.4 cho thấy sự biến động của lạm phát lương thực và phi lương thực ở các quốc gia trong mẫu Một lần nữa mẫu được sắp xếp theo thứ tự GDP/người giảm dần từ trái sang phải cho thấy lạm phát giá lương thực biến động ít hơn giá phi lương thực ở cả 10 quốc gia được quan sát Sự chênh lệch độ lệch chuẩn giữa lạm phát CPI-NF và CPI-F tăng dần ở những quốc gia có thu nhập càng thấp Sở dĩ có điều này là do các nước có thu nhập thấp hầu hết là những quốc gia có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nên so với các hàng hóa phi lương thực thì lương thực có sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài thấp hơn Chính vì vậy, giá lương thực hầu như
ít biến động và giá phi lương thực thì biến động mạnh hơn nên làm tăng sự khác biệt trong độ lệch của chúng Tuy nhiên, thì sự biến động lớn trong giá hàng hóa phi lương thực cũng có thể là kết quả của sự kết hợp giữa tác động của giá hàng hóa thế giới và sự tác động của giá lương thực trong nước vào hàng hóa phi lương thực Một đặc điểm nữa về lạm phát CPI-F và CPI-NF đáng được quan tâm là độ dốc của đường xu hướng Hình 5.5 biểu diễn độ dốc của lạm phát lương thực và lạm phát phi lương thực giai đoạn 2000-2012 cho thấy rằng độ dốc CPI-F dương và có khuynh hướng dốc lên nhẹ về phía phải Điều này có nghĩa là lạm phát CPI-F trung bình luôn tăng trong giai đoạn 2000-2012 và tăng mạnh hơn ở những nước có thu nhập thấp hơn Hay nói cách khác thì đối với những nước nghèo việc kiểm soát giá lương thực càng trở nên khó khăn hơn CPI-NF thì có xu hướng ngược lại, đường
xu hướng của lạm phát CPI-NF có khuynh hướng dốc xuống về phía bên phải và hệ
số góc dương ở nhóm 5 quốc gia có thu nhập cao, hệ số góc âm ở nhóm 5 quốc gia
có thu nhập thấp trong mẫu
Trang 40Cuối cùng, sự thay đổi của lạm phát cũng được xem xét Độ lệch chuẩn của sự thay đổi trong lạm phát được biểu diễn ở hình 5.6 Kết quả được tìm thấy cũng gần như tương tự như kết quả của độ lệch lạm phát ở hình 5.4 Sự biến động trong sự thay đổi của lạm phát phi lương thực thì lớn hơn lạm phát lương thực Điều này phù hợp với kết quả trong bài nghiên cứu của Jame P.Wash (2011) cũng tìm thấy rằng ở hầu hết các nước đang phát triển thì giá hàng hóa phi lương thực thường biến động nhiều hơn giá lương thực Đồng thời kết quả này cũng có thể ủng hộ phần nào cho quan điểm có sự tác động mạnh từ CPI-F vào CPI-NF và chính sự cộng hưởng giữa
sự ảnh hưởng của các cú sốc giá hàng hóa thế giới với giá lương thực trong nước đã gây ra sự biến động lớn đến lạm phát CPI-NF như vậy
Tóm lại, thống kê mô tả cho thấy rằng giá hàng hóa phi lương thực trung bình tăng nhanh hơn tương đối so với giá lương thực điều này phần nào ủng hộ cho quan điểm có sự tác động giữa lạm phát lương thực trong nước vào lạm phát phi lương thực và sự cộng hưởng giữa mức độ tác động của các cú sốc cung thế giới, cú sốc lương thực trong nước đã làm cho lạm phát phi lương thực càng biến động mạnh hơn Lạm phát giá lương thực có độ dốc dương tăng dần ở những nước có thu nhập càng thấp Lạm phát giá phi lương thực thì cho kết quả ngược lại, độ dốc giảm dần