1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn lập và trình bày báo cáo tài chính tại công ty cổ phần bánh kẹo hải hà

146 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lập và trình bày báo cáo tài chính tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Tác giả Hà Thanh Hằng
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Đức Hiếu
Trường học Hanoi University of Science and Technology
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chuẩn mực quốc tế về kế toán số 01– IAS 1: “ BCTC cung cấp thông tin về tình trạng tài chính, kết quả hoạt động tài chính cũng như lưu chuyển tiền tệ của một DN và đó là các thông t

Trang 1

Qua thời gian nghiên cứu lý luận và thực tế, tôi đã hoàn thành luận văn thạc

sỹ kế toán với đề tài: “Lập và trình bày Báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần

bánh kẹo Hải Hà”

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng

nghiệp, , đặc biệt là PGS TS Phạm Đức Hiếu đã quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo,

hướng dẫn tận tình và đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trong quá trình thực hiện, dù đã cố gắng hết sức nhưng do khả năng nghiên cứu cũng như kinh nghiệm của tôi còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những hạn chế gặp phải Vì vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy,

Cô giáo, các nhà khoa học và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 13 tháng 6 năm 2016

Tác giả

Hà Thanh Hằng

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3

5 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu đề tài 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 5

1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của Báo cáo tài chính 5

1.1.1 Khái niệm Báo cáo tài chính 5

1.1.2 Phân loại báo cáo tài chính 7

1.1.3 Vai trò của báo cáo tài chính 9

1.2 Quy định của chuẩn mực kế toán về lập và trình bày báo cáo tài chính 11

1.2.1 Quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế 11

1.2.2 Quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam 14

1.2.3 So sánh chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán Quốc tế 19

1.2.4 Kinh nghiệm nghiên cứu lập và trình bày BCTC ở ngoài nước 25

1.3 Quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp 27

1.3.1 Công việc chuẩn bị trước khi lập báo cáo tài chính 27

1.3.2 Quy trình lập và trình bày Bảng cân đối kế toán 28

1.3.2.1 Nguyên tắc lập và trình bày Bảng cân đối kế toán 29

Trang 3

1.3.2.2 Cơ sở số liệu, quy trình và phương pháp lập, trình bày Bảng cân đối

kế toán 31

1.3.3 Quy trình lập và trình bày Báo cáo kết quả kinh doanh 33

1.3.3.1 Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo kết quả kinh doanh 33

1.3.3.2 Cơ sở số liệu, quy trình và phương pháp lập, trình bày Báo cáo kết quả kinh doanh 34

1.3.4 Quy trình lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 36

1.3.4.1 Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 36

1.3.4.2 Cơ sở số liệu, quy trình và phương pháp lập, trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 38

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp 41

1.4.1 Nhân tố bên ngoài 41

1.4.2 Nhân tố bên trong 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 44

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ 44

2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 45

2.1.1 Thông tin khái quát, quá trình hình thành, chức năng, nhiệm vụ của Công ty CP bánh kẹo Hải Hà 45

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty CP Bánh kẹo Hải Hà 49

2.1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty CP Bánh kẹo Hải Hà 51

2.2 Thực trạng lập và trình bày BCTC tại Công ty CP Bánh kẹo Hải Hà 56

2.2.1 Công tác chuẩn bị lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 56

2.2.2 Phân loại tài khoản và chuyển số dư đầu năm 61

2.2.3 Lập và trình bày Bảng cân đối kế toán tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 63

2.2.4 Lập và trình bày Báo cáo kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 69

Trang 4

2.2.5 Lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại Công ty Cổ phần Bánh

kẹo Hải Hà 76

2.3 Đánh giá thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 87

2.3.1 Ưu điểm 87

2.3.2 Những tồn tại 90

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 93

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 95

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ 96

3.1 Quan điểm và nguyên tắc hoàn thiện công tác lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 96

3.1.1 Quan điểm hoàn thiện công tác lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 96

3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện công tác lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 98

3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 101

3.3 Điều kiện thực hiện các đề xuất hoàn thiện lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà 106

3.3.1 Đối với Nhà nước 107

3.3.2 Đối với Công ty 109

3.4 Các hạn chế trong nghiên cứu 110

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 112

KẾT LUẬN CHUNG 113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

4 BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

3 Sơ đồ 1.03: Quy trình lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh

4 Sơ đồ 1.04: Quy trình lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 39

5 Sơ đồ 2.01: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty CP

6 Sơ đồ 2.02: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty CP

7 Sơ đồ 2.03: Trình tự ghi sổ theo hình thức Chứng từ ghi sổ tại

6 Sơ đồ 2.04: Quy trình ghi sổ theo hình thức kế toán máy 59

9 Sơ đồ 2.04: Trình tự lập báo cáo tài chính tổng hợp tại Công

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong việc quản lý kinh tế của các doanh nghiệp, kế toán là công tác quan trọng luôn được các doanh nghiệp quan tâm vì chúng gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Muốn quản lý tốt tài sản và nguồn vốn của mình, các nhà quản lý doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt một lượng thông tin kinh

tế cần thiết từ phía kế toán cung cấp Điều quan tâm đầu tiên của không chỉ doanh nghiệp mà cả của các nhà đầu tư, các đối tác, các nhà hoạch định chính sách là những thông tin thu thập được có trung thực, hợp lý và khách quan không Tất cả cơ bản được thể hiện trên BCTC

BCTC là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán BCTC là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn chủ

sở hữu cũng như tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp BCTC thể hiện khá toàn diện và đầy đủ vị thế tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó cho một thời

kỳ Thông qua BCTC, người ta có thể đánh giá về thực trạng cũng như triển vọng của doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra các quyết sách riêng cho mình cũng như cho doanh nghiệp của mình Như vậy, BCTC doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng Câu hỏi đặt ra là kế toán Lập và trình bày Báo cáo tài chính có đảm bảo tính tin cậy, trung thực, hợp lý của số liệu? có tuân theo đúng luật, chế độ và chuẩn mực kế toán Việt Nam? có đảm bảo tính kịp thời của thông tin tài chính được công bố theo yêu cầu của các bên liên quan? Vấn đề này còn những tồn tại cần nghiên cứu thấu đáo

Ta có thể thấy, ở nhiều doanh nghiệp, BCTC không đảm bảo đúng chức năng, vai trò của mình; các thông tin trên BCTC sai lệch do kế toán lập và trình bày BCTC không tuân thủ các quy định của chuẩn mực, gây mất lòng tin của các cơ quan chức năng, các nhà đầu tư và đối tác

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày một phát triển Các nhà đầu tư càng có nhiều cơ hội tìm kiếm các doanh nghiệp có tiềm năng để đầu tư hơn, và các doanh nghiệp cũng có không ít những cơ hội thu hút vốn Đặc biệt là sự tham gia vào thị trường chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài càng khiến các doanh nghiệp chạy đua để thu hút vốn từ nguồn đầu tư có triển vọng này Do vậy, việc

Trang 8

cuộc đua Đặc biệt, đối với những Tập đoàn, Công ty mẹ con, Công ty lớn do tính phức tạp trong quá trình lập và trình bày BCTC tổng hợp hoặc BCTC hợp nhất thì những yêu cầu đặt ra đối với BCTC vô cùng quan trọng

Tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà, đặc thù hoạt động kinh doanh là quy

mô lớn, không có công ty con mà có nhiều đơn vị trực thuộc: chi nhánh, nhà máy Bên cạnh đó, Công ty vẫn còn những tồn tại và hạn chế như: Cở sở số liệu để lập và trình bày BCTC không chắc chắn; Các thông tin trong báo cáo còn thiếu chính xác theo từng chỉ tiêu cụ thể; Biểu mẫu báo cáo còn có chỗ chưa phù hợp, chưa thuận tiện Nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin có chất lượng cao, chính xác, kịp thời, dễ hiểu, dễ sử dụng cho người sử dụng thông tin, tôi đã chọn đề tài “Lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu lập và trình bày báo cáo tài chính

Các vấn đề về lập và trình bày báo cáo tài chính đã được một số tác giả ở Việt Nam nghiên cứu Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu tại công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà Mỗi tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, từ đó, cung cấp cho người đọc cái nhìn đa chiều và cặn kẽ hơn về báo cáo tài chính

Trên tạp chí Kế toán và Kiểm toán số tháng 5/2015 của TS.Trần Thị Cẩm Thanh

có bài viết: “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” Bài viết đánh giá tổng hợp về mức độ hòa hợp giữa VAS

và IAS/IFRS trên hệ thống BCTC của các doanh nghiệp ở Việt Nam, đưa ra kết luận về sự hòa hợp, từ đó đề xuất giải pháp để hoàn thiện trong thời kỳ hội nhập Luận văn của tác giả Trần Thị Vân Anh (2011) – Trường Đại học Thương Mại

nghiên cứu về : “Lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc

Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội” Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề

liên quan đến công tác lâ ̣p và trình bày BCTC ta ̣i các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực Hà Nội như: Lý luận chung về BCTC; Thực trạng công tác lập và trình bày BCTC, những tồn tại và các giải pháp nhằm hoàn thiện lập và trình bày BCTC trong các Doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội

Luận văn của Thạc sỹ Hoa Phong Lan – Trường ĐH Thương Mại nghiên cứu về

“Kế toán lập, trình bày báo cáo tài chính tại Tổng công ty Sông Đà” Luận văn đã

Trang 9

trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó, luận văn đã khảo sát và đánh giá thực trạng kế toán lập và trình bày BCTC tại TCT Sông Đà theo hướng từ BCTC riêng, BCTC tổng hợp và BCTC hợp nhất Luận văn đã đánh giá khách quan ưu điểm cũng như đưa ra những tồn tại trong kế toán lập và trình bày BCTC tại TCT Sông Đà, từ đó trình bày các dự báo triển vọng về vấn đề nghiên cứu và đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện kế toán lập và trình bày BCTC tại TCT Sông Đà phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp trong hiện tại và xu thế phát triển trong tương lai Bên cạnh đó, luận văn cũng làm rõ những hạn chế nghiên cứu và xác định các vấn

đề cần tiếp tục nghiên cứu trong tương lai của luận văn

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về lập và trình bày báo cáo tài chính trong Doanh nghiệp

- Về mặt thực tiễn: Khảo sát, đánh giá thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà, đề xuất giải pháp hoàn thiện

4 Phương pha ́ p nghiên cứu

- Vể mặt lý luận: sử dụng tổng hợp các phương pháp như: duy vật biện chứng; duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá để từ đó đưa ra ý kiến của cá nhân

- Về mặt thực tiễn: áp dụng phương pháp khảo sát thực tế để xem xét đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong việc lập và trình bày Báo cáo tài chính tại

Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà; Các Báo cáo quản trị không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu lý luận, thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính của Công ty CP Bánh kẹo Hải Hà bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Số liệu minh họa cho đề tài là của năm 2014, 2015

Trang 10

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài làm rõ cơ sở lý luận về lập và trình bày Báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích, đề tài đánh giá những ưu điểm và những mặt còn tồn tại về lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

7 Kết cấu luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng kế toán lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty

Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện lập và trình bày báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

Trang 11

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của Báo cáo tài chính

1.1.1 Khái niệm Báo cáo tài chính

Có nhiều cách thức và khía cạnh khác nhau trong việc tiếp cận với báo cáo tài chính Chẳng hạn, khi xem xét dưới góc độ khoa học kế toán thì BCTC được xem là kết quả của phương pháp tổng hợp, cân đối Khi xem xét dưới góc độ các yếu tố của một hệ thống thông tin kế toán thì BCTC được xem là đầu ra của hệ thống này, được xử lý và cung cấp bởi quy trình kế toán tài chính Khi đề cập tới lợi ích của người sử dụng thì BCTC là nguồn cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho

việc ra quyết định kinh tế Do đó, có thể có các quan điểm khác nhau như:

Báo cáo tài chính cung cấp thông tin kinh tế tài chính đáng tin cậy về hoạt động của một thực thể kinh tế và phục vụ rộng rãi các đối tượng sử dụng thông tin này ở bên trong và bên ngoài của một thực thể kinh tế Còn báo cáo kế toán quản trị

là những báo cáo chi tiết hơn tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản theo từng đối tượng cụ thể, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Báo cáo kế toán quản trị cung cấp thông tin chi tiết theo từng đối tượng quản lý cụ thể phục vụ cho nhu cầu quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp

Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Nó là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính là những báo cáo mang tính bắt buộc, do Nhà nước quy định

Trang 12

Theo chuẩn mực quốc tế về kế toán số 01– IAS 1: “ BCTC cung cấp thông tin về tình trạng tài chính, kết quả hoạt động tài chính cũng như lưu chuyển tiền tệ của một DN và đó là các thông tin có ích cho việc ra quyết định kinh tế “

BCTC là loại báo cáo kế toán, phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định Như vậy, báo cáo tài chính không chỉ cung cấp những thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan kế hoạch và đầu tư…mà còn cung cấp những thông tin cho các nhà quản trị kinh doanh, giúp họ đánh giá, phân tích tình hình tài chính cũng

như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Theo viện công chứng Mỹ ( AICPA ) thì bản chất của BCTC được hiểu như sau: “ Hệ thống BCTC được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình của nhà quản lý, tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết quả đạt được trong kỳ báo cáo Hệ thống BCTC phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân mà trong đó những nguyên tắc kế toán và những đánh giá được áp dụng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện “

Tóm lại, qua những phân tích trên về BCTC có thể khẳng định bản chất của

báo cáo tài chính là sự kết hợp của những sự kiện xảy ra trong quá khứ với những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và những đánh giá nhằm chủ yếu cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng

Các thông tin hữu ích do BCTC cung cấp là các thông tin biểu hiện dưới hình thái giá trị về tình hình hiện có và sự biến động của tài sản và nguồn hình thành tài sản Chất lượng của thông tin được cung cấp bởi BCTC là rất quan trọng cho các đối tượng sử dụng Do đó, trình bày và công bố các thông tin tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc: Trình bày một cách trung thực và khách quan nhất về tình hình tài chính của một tổ chức nhằm phục vụ cho việc ra quyết định quản lý của nhà

Trang 13

quản lý bên trong cũng như bên ngoài tổ chức đó

1.1.2 Phân loại báo cáo tài chính

BCTC cung cấp thông tin tổng quát về nhiều mặt của hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp Mặt khác các doanh nghiệp đều có sự khác nhau về đặc điểm kinh doanh, về hình thức sở hữu, về quy mô tổ chức, về yêu cầu quản lý Do

đó để quản lý và sử dụng đúng đắn thông tin kế toán, Nhà nước cũng quy định nhiều loại BCTC khác nhau

Theo nội dung kinh tế của thông tin phản ánh trên BCTC, hệ thống BCTC

doanh nghiệp bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán: là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là BCTC tổng hợp, phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là BCTC tổng hợp, phản ánh việc hình thành và

sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp

- Thuyết minh BCTC: là BCTC mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể

Theo tính chất và yêu cầu quản lý, BCTC doanh nghiệp bao gồm:

- BCTC định kỳ: là hệ thống báo cáo được lập định kỳ theo yêu cầu quản lý của Nhà nước, của DN Theo quy định hiện hành, hệ thống BCTC định kỳ gồm BCTC năm, BCTC giữa niên độ dạng tóm lược và dạng đầy đủ

- BCTC bất thường: là hệ thống báo cáo được lập vào các thời điểm khi DN

có những sự kiện bất thường như chia tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình

Trang 14

thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản, thanh tra

Theo đặc điểm và tổ chức quản lý, BCTC doanh nghiệp bao gồm:

- Báo cáo tài chính riêng là những báo cáo tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán

theo các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh có hệ thống về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ ở văn phòng trụ sở chính của Tổng công ty

- Báo cáo tài chính tổng hợp thì cũng là những báo cáo tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh có hệ thống về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ ở văn phòng trụ sở chính của Tổng công ty và các chi nhánh, xí nghiệp trực thuộc Tổng công ty có vốn do Tổng công ty cấp

- BCTC hợp nhất được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy theo mục tiêu

nghiên cứu và cách đánh giá của từng đối tượng liên quan, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau

Nếu đứng trên góc độ của người lập báo cáo thì: Báo cáo tài chính hợp nhất

là báo cáo gồm các báo cáo tài chính hợp nhất về kết quả tài chính, tình hình tài chính và các luồng tiền của chủ thể kinh tế Nó phản ánh các nguồn lực kinh tế bị kiểm soát được nắm giữ trực tiếp bởi Công ty kiểm soát và được nắm giữ gián tiếp thông qua các chủ thể bị kiểm soát

Dưới góc độ của người nhận thông tin: Báo cáo tài chính hợp nhất là một báo cáo tổng thể tổng kết các thông tin tài chính của công ty kiểm soát và tất cả các chủ thể phụ thuộc của nó Qua đó thấy được ranh giới pháp lý giữa các đơn vị thành viên gần như bị xóa bỏ

Dưới góc độ của cơ quan quản lý (cơ quan nhà nước): Báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo tài chính của một tập đoàn được trình bày như báo cáo tài chính của một doanh nghiệp, báo cáo này được lập trên cơ sở hợp nhất báo cáo của công ty

mẹ và các công ty con

Trang 15

Như vậy, có thể hiểu:

Báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo phản ánh tổng hợp về thông tin tài chính của công ty kiểm soát và các chủ thể bị nó kiểm soát Nó được lập như thể các công

ty kiểm soát và các chủ thể bị nó kiểm soát là một đơn vị kinh tế duy nhất

Theo thời điểm lập báo cáo, hệ thống BCTC được chia thành:

- BCTC năm: là hệ thống BCTC được lập vào thời điểm cuối năm

- BCTC giữa niên độ: là hệ thống BCTC lập vào thời điểm giữa niên độ kế toán, có thể là cuối quý

1.1.3 Vai trò của báo cáo tài chính

Thông thường, vai trò của BCTC được xem xét thông qua mục đích và lợi ích mang lại của việc sử dụng thông tin của một số đối tượng chủ yếu

Theo IASB và FASB, các đối tượng sử dụng BCTC bao gồm nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác và một số đối tượng khác liên quan đến việc ra các quyết định kinh tế

Các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác cần thông tin về các nguồn lực của doanh nghiệp không chỉ để đánh giá lưu chuyển của dòng tiền thuần trong tương lai mà còn đánh giá hiệu quả quản lý đối với việc sử dụng các nguồn lực hiện hữu của doanh nghiệp Họ không thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin trực tiếp mà phải dựa vào BCTC cho nhiều thông tin tài chính mà họ cần Vì vậy, họ là những người sử dụng chính mà BCTC hướng tới

Các quyết định của nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng về việc mua bán hoặc nắm giữ các cổ phiếu và các công cụ nợ phụ thuộc vào thu nhập mà họ mong đợi từ việc đầu tư, ví dụ như cổ tức, các khoản thanh toán nợ gốc và lãi hoặc sự gia tăng giá trị thị trường Tuy nhiên, BCTC không thể cung cấp tất cả thông tin mà nhà đầu

tư, người cho vay và chủ nợ khác cần Người sử dụng cần phải xem xét thông tin cần thiết từ các nguồn khác, chẳng hạn điều kiện và triển vọng của nền kinh tế, sự kiện, môi trường chính trị, công nghệ, tương lai doanh nghiệp BCTC không được

Trang 16

thiết kế để trình bày thông tin về giá trị doanh nghiệp nhưng chúng cung cấp thông tin giúp nhà đầu tư, người cho vay và chủ nợ khác ước tính giá trị doanh nghiệp

Xét trong một quy trình kế toán, báo cáo tài chính là sản phẩm đầu ra, nhưng trong mô hình thông tin ra quyết định, báo cáo tài chính lại đóng vai trò là đầu vào quan trọng cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quản lý Có thể thấy vị trí của báo cáo tài chính trong quan hệ với hệ thống thông tin kế toán và mô hình ra quyết định qua mô hình sau:

Người ra quyết định

HÌNH

RA QUYẾT ĐỊNH

Thông

tin phi

tài chính

Báo cáo quản trị nội bộ

Người ra quyết định bên trong

Sơ đồ 1.01: Vị trí của báo cáo kế toán

Từ mô hình trên, ta có thể thấy, để xây dựng một hệ thống thông tin kế toán với mục đích cung cấp thông tin cho việc ra quyết định cần xuất phát từ hệ thống các báo cáo tài chính, vì hệ thống báo cáo tài chính thể hiện nhu cầu của người sử dụng thông tin cũng như các yêu cầu đối với các thông tin đó, là mục tiêu cần đạt tới của hệ thống kế toán Từ hệ thống báo cáo tài chính, các chỉ tiêu cụ thể trên báo cáo, kế toán sẽ xây dựng hệ thống tài khoản, sổ sách và quy trình kế toán phù hợp

Qua đó cho thấy, vai trò, vị trí của báo cáo tài chính là rất quan trọng Luật

kế toán quy định người lập, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn

vị ký và chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính Do vậy, việc tuân thủ chế độ báo cáo tài chính là yêu cầu cơ bản trong công tác chỉ đạo

Trang 17

tổ chức hạch toán kế toán của doanh nghiệp Việc lập, nộp báo cáo đúng hạn hết sức quan trọng trong việc cung cấp thông tin trong việc đưa ra quyết định tài chính

1.2 Quy định của chuẩn mực kế toán về lập và trình bày báo cáo tài chính

1.2.1 Quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế

Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính (Chuẩn mực số 1 - IAS 1) mô tả cơ sở cho việc trình bày các báo cáo tài chính Chuẩn mực này thiết lập khuôn khổ và trách nhiệm của việc trình bày các báo cáo tài chính, hướng dẫn cấu trúc và yêu cầu nội dung tối thiểu trên các báo cáo tài chính và được áp dụng cho tất cả các báo cáo tài chính trên cơ sở các chuẩn mực kế toán quốc tế

Mục đích đưa ra chuẩn mực này là để quy định cho việc trình bày các báo cáo tài chính phục vụ mục đích chung để đảm bảo tính so sánh Nội dung chuẩn mực kế toán quốc tế IAS1 đã đưa ra những quy định chung về việc trình bày các báo cáo tài chính

Thứ nhất, Báo cáo tài chính cần phải trình bày một cách khách quan tình

hình tài chính, hiệu năng tài chính và các luồng tiền mặt của doanh nghiệp Để báo cáo tài chính phản ánh được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, ban giám đốc cần lựa chọn và áp dụng các phương pháp kế toán gồm những nguyên tắc, cơ sở, quy ước, quy tắc và thông lệ cụ thể Việc áp dụng các phương pháp đó đảm bảo rằng báo cáo tài chính sẽ cung cấp được các thông tin:

- Thích hợp với nhu cầu ra quyết định của những người sử dụng

- Đủ độ tin cậy bằng cách: Trình bày trung thực các kết quả hoạt động, tình hình tài chính của doanh nghiệp; Phản ánh thực chất kinh tế của các sự kiện và các nghiệp vụ giao dịch mà không theo danh nghĩa pháp lý của chúng; Khách quan, không thân thiện; Thận trọng; Đầy đủ trong mọi điểm trọng yếu

Thứ hai, lập báo cáo tài chính theo phương pháp dồn tích, ngoại trừ các

thông tin liên quan đến các luồng tiền mặt Theo phương pháp kế toán dồn tích, các nghiệp vụ giao dịch và các sự kiện được hạch toán khi chúng phát sinh (chứ không theo thu, chi ngân quỹ) và được ghi nhận vào sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của các niên độ liên quan

Trang 18

Thứ ba, các khoản mục trong báo cáo tài chính cần được trình bày và phân

loại duy trì nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi:

- Có sự thay đổi quan trọng về tính chất của các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại cách trình bày trên báo cáo tài chính cho thấy cần phải thay đổi

để có thể trình bày một cách thích hợp các sự kiện, các nghiệp vụ giao dịch

- Sự thay đổi trong cách trình bày là do một chuẩn mực kế toán quốc tế hoặc một diễn giải của ủy ban thường trực về diễn giải các chuẩn mực áp đặt

Thứ tƣ, mọi yếu tố thông tin trọng yếu cần được trình bày một cách riêng rẽ

trong báo cáo tài chính Đối với các yếu tố không mang tính trọng yếu thì cần tập hợp chúng lại theo cùng tính chất hoặc cùng chức năng tương đương

Thứ năm, không được bù trừ các tài sản với các khoản nợ, ngoại trừ việc bù

trừ này được quy định hay cho phép bởi một chuẩn mực kế toán quốc tế

Thứ sáu, các thông tin trình bày trong báo cáo tài chính phải có tính chất so

sánh, nghĩa là các thông tin của niên độ trước đó cần trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính của niên độ hiện tại

Thứ bảy, cấu trúc và nội dung báo cáo tài chính:

- Báo cáo tài chính phải trình bày các thông tin sau: tên của doanh nghiệp báo cáo; báo cáo của doanh nghiệp hay tập đoàn; ngày báo cáo và kỳ báo cáo; đơn

vị tiền tệ báo cáo; mức độ chính xác được sử dụng trong việc trình bày các số liệu báo cáo tài chính

- Các báo cáo tài chính cần được lập tối thiểu mỗi năm một lần Trong những tình huống đặc biệt, doanh nghiệp có thể thay đổi ngày khoá sổ kế toán và lập báo cáo tài chính cho một niên độ dài hơn hoặc ngắn hơn một năm

- Báo cáo tài chính phải được công bố trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày báo cáo

- Chuẩn mực kế toán quốc tế không quy định thứ hoặc mẫu trình bày các báo cáo tài chính mà chỉ nêu danh sách các khoản mục cần được trình bày riêng rẽ trong báo cáo tài chính

- Bảng cân đối kế toán phải bao gồm các khoản mục hàng dọc trình bày các

số liệu bằng tiền sau đây: Tiền và các khoản tương đương tiền; Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn; Các khoản phải thu thương mại và phải thu khác; Hàng tồn kho;

Trang 19

Tài sản cố định hữu hình, vô hình; Các khỏan đầu tư tài chính dài hạn; Chi phí xây dựng cơ bản dở dang; Tài sản dài hạn khác; Vay ngắn hạn; Các khoản phải trả thuơng mại và phải trả ngắn hạn khác; Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước; Các khoản vay dài hạn và nợ phải trả dài hạn khác; Các khoản dự phòng; Phần sở hữu của cổ đông thiểu số; Vốn góp; Các khoản dự trữ; Lợi nhuận chưa phân phối

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm các khoản mục trình bày tối thiểu các số liệu bằng tiền sau đây:

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Các khoản giảm trừ doanh thu

Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Giá vốn hàng bán

Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu hoạt động tài chính

Chi phí tài chính

Chi phí lãi vay

Chi phí bán hàng

Chi phí quản lý doanh nghiệp

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

Thu nhập khác

Chi phí khác

Lợi nhuận khác

Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế

Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại

Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp

Lãi cơ bản trên cổ phiếu

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần trình bày các luồng tiền trong kỳ được phân loại theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính

Trang 20

+ Các luồng tiền từ các hoạt động kinh doanh chủ yếu bắt nguồn từ các hoạt động sinh lời cơ bản của doanh nghiệp, nhìn chung thường là kết quả của các giao dịch và sự kiện có tham gia vào việc xác định lãi hay lỗ ròng như tiền nhận từ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ; tiền trả cho những nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ; tiền trả cho người lao động…

+ Các luồng tiền từ hoạt động đầu tư thể hiện phạm vi mà các chi phí đã được thực hiện cho các nguồn dự định sẽ tạo ra lợi nhuận và các luồng tiền trong tương lai như tiền thu từ việc bán các tài sản cố định hữu hình và vô hình; trả tiền mua cổ phiếu và trái phiếu của các công ty khác…

+ Các luồng tiền từ hoạt động tài chính thường gồm: tiền ròng thu được từ việc phát hành cổ phiếu hay các công cụ về vốn khác; tiền trả cho các chủ sở hữu để mua hay thanh toán các cổ phiếu của doanh nghiệp; tiền ròng thu được từ việc phát hành trái phiếu, thương phiếu, nợ, tiền trả các khoản đã vay…

1.2.2 Quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam

Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm: Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính, kết cấu và nội dung chủ yếu của báo cáo tài chính

Tất cả các doanh nghiệp khi lập và trình bày báo cáo tài chính đều phải tuân thủ 6 nguyên tắc quy định tại chuẩn mực kế toán số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính

“: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu, tập hợp, bù trừ và có thể

so sánh được

Thứ nhất là nguyên tắc hoạt động liên tục, nguyên tắc này đòi hỏi khi lập và

trình bày báo cáo tài chính thì Giám đốc ( hoặc người đứng đầu ) doanh nghiệp cần phải đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Khi đánh giá nếu Giám đốc ( hoặc người đứng đầu ) doanh nghiệp

Trang 21

biết được những điều không chắc chắn đó cần được nêu rõ Nếu báo cáo tài chính không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục thì sự kiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập báo cáo tài chính và lý do khiến doanh nghiệp không được coi

là đang hoạt động liên tục

Để đánh giá khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp Giám đốc ( hoặc người đứng đầu ) doanh nghiệp cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dự tính được tối thiểu trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán

Thứ hai là nguyên tắc cơ sở dồn tích nguyên tắc này đòi hỏi doanh nghiệp

phải lập báo cáo tài chính theo cơ sở dồn tích, loại trừ các thông tin liên quan đến luồng tiền Theo cơ sở kế toán dồn tích, các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của các kỳ liên quan.Các khoản chi phí được ghi nhận và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho phép ghi nhận trên bảng cân đối kế toán những khoản mục không thỏa mãn định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả

Thứ ba là nguyên tắc nhất quán: nguyên tắc này đòi hỏi việc trình bày và

phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác Trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc có sự xem xét lại việc trình bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các sự kiện và giao dịch, hoặc một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày

Doanh nghiệp có thể trình bày báo cáo tài chính một cách khác khi mua sắm hoặc thanh lý lớn các tài sản, hoặc khi xem xét lại báo cáo tài chính Việc thay đổi cách trình bày báo cáo tài chính được thực hiện khi cấu trúc trình bày mới sẽ được duy trì lâu dài trong tương lai hoặc nếu lợi ích của cách trình bày mới được xác định

rõ rang Khi có sự thay đổi thì doanh nghiệp phải phân loại các thông tin mang tính

Trang 22

so sánh cho phù hợp với các quy định và phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong thuyết minh báo cáo tài chính

Thứ tƣ là nguyên tắc trọng yếu và tập hợp: theo nguyên tắc này thì từng

khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng

Khi trình bày báo cáo tài chính, một thông tin được coi là trọng yếu nếu không trình bày hoặc trình bày thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đáng kể đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các khoản mục được đánh giá trong tình huống cụ thể nếu các khoản mục này không được trình bày riêng biệt Để xác định một khoản mục hay một tập hợp các khoản mục là trọng yếu phải đánh giá tích chất và quy mô của chúng Tùy theo các tình huống cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoản mục có thể là nhân tố quyết định tính trọng yếu Ví dụ các tài sản riêng lẻ có cùng tính chất và chức năng được tập hợp vào một khoản mục, kể cả khi giá trị của khoản mục là rất lớn Tuy nhiên, các khoản mục quan trọng có tính chất hoặc chức năng khác nhau phải được trình bày một cách riêng rẽ

Nếu một khoản mục không mang tính trọng yếu, thì nó được tập hợp với các đầu mục có cùng tính chất hoặc chức năng trong báo cáo tài chính hoặc trình bày trong phần thuyết minh báo cáo tài chính Tuy nhiên, có những khoản mục không được coi là trọng yếu để có thể được trình bày riêng biệt trên báo cáo tài chính, nhưng lại được coi là trọng yếu để phải trình bày trong phần thuyết minh báo cáo tài chính Ví dụ các tài sản thuộc hàng tồn kho đối với doanh nghiệp sản xuất không có tính trọng yếu, thì chúng được tập hợp vào một khoản mục của “ Hàng tồn kho “ trên bảng cân đối kế toán Nhưng các loại tài sản hàng tồn kho lại cần được trình bày riêng biệt trên thuyết minh báo cáo tài chính theo từng loại như: nguyên vật

Trang 23

liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa, thành phẩm…nếu những thông tin này là cần thiết cho người sử dụng báo cáo tài chính

Theo nguyên tắc trọng yếu doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ các quy định về trình bày báo cáo tài chính của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các thông tin đó không có tính trọng yếu

Thứ năm: nguyên tắc bù trừ, nguyên tắc này đòi hỏi khi ghi nhận các giao

dịch kinh tế và các sự kiện để lập và trình bày báo cáo tài chính không được phép

bù trừ tài sản và nợ phải trả Do đó, doanh nghiệp phải trình bày riêng biệt tất cả các khoản mục tài sản và công nợ phải trả trên báo cáo tài chính Đối với các khoản mục doanh thu và thu nhập khác, chi phí khác chỉ được bù trừ khi các khoản này được quy định tại một chuẩn mực kế toán khác, hoặc các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quan phát sinh từ các giao dịch và các sự kiện giống nhau hoặc tương đương và không có tính trọng yếu Các tài sản và nợ phải trả, các khoản thu nhập và chi phí có tính trọng yếu phải được báo cáo riêng biệt Việc bù trừ các số liệu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hoặc bảng cân đối kế toán, ngoại trừ trường hợp việc bù trừ này phản ánh bản chất của giao dịch hoặc sự kiện, sẽ không cho phép người sử dụng hiểu được các giao dịch hoặc sự kiện được thực hiện và dự tính được các luồng tiền trong tương lai của doanh nghiệp Đối với các khoản mục được phép bù trừ, trên báo cáo tài chính chỉ trình bày số lãi hoặc lỗ thuần (sau khi bù trừ)

Thứ sáu là nguyên tắc có thể so sánh, theo nguyên tắc này các thông tin

bằng số liệu trong báo cáo tài chính nhằm để so sánh giữa các kỳ kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính của kỳ trước Các thông tin so sánh cần phải bao gồm các thông tin diễn giải bằng lời nếu điều này là cần thiết giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được báo cáo tài chính của kỳ hiện tại

Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính, thì phải phân loại lại các số liệu so sánh ( trừ khi việc này không thể thực hiện được ) nhằm đảm bảo khả năng so sánh được với kỳ hiện tại, và phải trình bày

Trang 24

tính chất, số liệu và lý do việc phân loại lại Nếu không thể thực hiện được phân loại lại các số liệu tương ứng mang tính so sánh thì doanh nghiệp cần phải nêu rõ lý do

và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại các số liệu được thực hiện

Trường hợp không thể phân loại lại các thông tin mang tính so sánh để so sánh với kỳ hiện tại, như trường hợp mà cách thức thu thập số liệu trong các kỳ trước đây không cho phép thực hiện việc phân loại lại để tạo những thông tin so sánh, thì doanh nghiệp cần phải trình bày các tính chất của các điều chính lẽ ra cần phải thực hiện đối với các thông tin số liệu mang tính so sánh Chuẩn mực “ Lãi, lỗ thuần trong kỳ, các sai sót cơ bản và thay đổi trong chính sách kế toán “ đưa ra quy định về các điều chỉnh cần thực hiện đối với các thông tin mang tính so sánh trong trường hợp các thay đổi về chính sách kế toán được áp dụng cho các kỳ trước

Riêng đối với các Tổng công ty có hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con cần lập bảng cân đối kế toán hợp nhất với mục đích là tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểm kết thúc năm tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh năm tài chính của tổng công ty như một doanh nghiệp độc lập không tính đến ranh giới pháp lý của các pháp nhân riêng biệt là công ty mẹ hay công ty con trong Tổng công ty, cũng như cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá thực trạng tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của tổng công ty trong năm tài chính đã qua và những dự đoán trong tương lai Thông tin của báo cáo tài chính hợp nhất là căn cứ quan trọng cho việc đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, hoặc đầu tư vào tổng công ty của chủ sở hữu, của các nhà đầu tư, của các chủ nợ hiện tại và tương lai…

Để thực hiện được các nguyên tắc trên thì khi lập và trình bày báo cáo tài chính kế toán phải tuân thủ một số yêu cầu cơ bản sau được quy định trong chuẩn mực kế toán số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính “

Trung thực và hợp lý, để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế

Trang 25

độ kế toán và các quy định liên quan hiện hành Bởi vậy, doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán nhằm cung cấp thông tin phù hợp đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực và chế độ

kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng, thông tin phải đáng tin cậy, phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng, thông tin trình bày phải khách quan, không thiên vị và tuân thủ nguyên tắc thận trọng, đầy

đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu

Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán: chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính Trường hợp không có chuẩn mực kế toán hướng dẫn riêng, khi xây dựng các phương pháp kế toán cụ thể, doanh nghiệp cần xem xét những yêu cầu và hướng dẫn của các chuẩn mực kế toán

đề cập đến những vấn đề tương tự và có liên quan, những khái niệm, tiêu chuẩn, điều kiện xác định và ghi nhận đối với các tài sản và nợ phải trả, thu nhập và chi phí được quy định trong chuẩn mực chung…

1.2.3 So sánh chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán Quốc tế về lập

và trình bày BCTC

Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, việc lập Báo cáo tài chính thống nhất theo các Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (“IFRS”) ngày càng nhận được sự ủng hộ của các nước và khu vực lãnh thổ trên thế giới Phần lớn các quốc gia có nền kinh tế phát triển đã chính thức áp dụng hoặc có lộ trình chuyển đổi sang áp dụng IFRS Tại Việt Nam, yêu cầu lập Báo cáo tài chính sang IFRS ngày càng trở nên phổ biến do yêu cầu từ phía công ty mẹ, các chủ nợ và sự tham gia vào thị trường vốn Quốc tế của nhiều tập đoàn kinh tế trong nước

Trang 26

Việt Nam đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam ( “ VAS “ ), các thông tư hướng dẫn áp dụng chuẩn mực và một số quy định chưa có hướng dẫn trong các chuẩn mực Hiện nay, Bộ Tài chính vẫn đang tiếp tục quá trình sửa đổi VAS để phù hợp với IFRS hiện hành và thông lệ quốc tế

Bảng so sánh chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam về lập và trình bày BCTC được tóm tắt như sau:

Khuôn khổ chung về BCTC và VAS 1 – Chuẩn mực chung

Khuôn khổ chung không được

gọi là một Chuẩn mực Kế toán

Quốc tế (IFRS)

Trong một số trường hợp, khi

có sự xung đột giữa các chuẩn

Khái

niệm vốn

và bảo

toàn vốn

Quy đinh chung đưa ra hai khái

nhiệm về vốn đó là khái niệm

về mặt tài chính và khái niệm

về mặt vật chất Hai khái niệm

này dẫn đến sự khác nhau khi

xác định lợi nhuận do có sự

khác nhau trong việc xử lý ảnh

hưởng của những thay đổi về

giá của các tài sản và các

khoản công nợ của đơn vị

Không đề cập đến vấn đề này

Trang 27

IAS 1 và VAS 21 – Trình bày báo cáo tài chính

Mục tiêu: Đưa ra khuôn khổ chung cho việc trình bày mục tiêu chung báo cáo tài chính bao gồm các hướng dẫn cho cấu trúc và nội dung tối thiểu

- Bảng cân đối kế toán

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thu nhập

toàn diện trong kỳ, có thể trình

bày kết quả hoạt động kinh

doanh trong 2 báo cáo: Báo cáo

kết quả hoạt động kinh doanh

và Báo cáo thu nhập toàn diện

hồi tố chính sách kế toán hoặc

thực hiện việc điều chỉnh hồi tố

Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu được trình bày ở phần thuyết minh báo cáo tài chính

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Trang 28

đối với một số khoản mục trên

báo cáo tài chính hoặc khi đơn

vị thực hiện phân loại lại các

khoản mục trên báo cáo tài

Đơn vị có thể trình bày riêng

biệt các tài sản và nợ phải trả

thành ngắn hạn và dài hạn

Trường hợp đơn vị không trình

bày riêng biệt các tài sản và

công nợ ngắn hạn và dài hạn,

thì các tài sản và nợ phải trả

được trình bày theo tính thanh

khoản giảm dần nếu việc trình

bày này cung cấp thông tin phù

hợp và đáng tin cậy hơn

Tài sản, nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn phải được trình bày thành các khoản mục riêng biệt trên bảng cân đối kế toán Trường hợp doanh nghiệp không thể phân loại được tài sản và nợ phải trả do đặc thù của hoạt động thì tài sản và nợ phải trả phải được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần

Đơn vị cần trình bày ngày đáo

hạn của cả tài sản và công nợ

để đánh giá tính thanh khoản

và khả năng thanh toán của đơn

Không đưa ra bảng cân đối kế

toán mẫu hoặc trình tự trình

bày các khoản mục

Bảng cân đối kế toán được lập phù hợp với quy định trong văn bản hướng dẫn thực hiện chuẩn mực này

Trình bày

Báo cáo

Kết quả

Đơn vị phải trình bày các

khoản mục thu nhập và chi phí

ghi nhận trong kỳ:

Chuẩn mực chỉ yêu cầu đơn vị trình bày BÁo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh riêng

Trang 29

- Trong 2 loại báo cáo: Báo cáo trình bày lỗ/lãi (Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh riêng); Báo cáo trình bày các khoản lỗ/lãi

và các khoản thu hập khác (báo cáo tổng hợp các khoản thu nhập)

- Bản sửa đổi của IAS 1 – Trình bày báo cáo tài chính yêu cầu đơn vị tập hợp các khoản mục trình bày trong báo cáo thu nhập toàn diện các khoản thu nhập dựa trên khả năng có thể phân loại sang lãi/lỗ trong kỳ (cụ thể bao gồm các khoản được phân loại và các khoản không được phân loại) và Bản sửa đổi cũng yêu cầu trình bày riêng khoản thuế liên quan đến các khoản mục trước thuế đã được trình bày (áp dụng cho cả lựa chọn trình bày Báo cáo

Trang 30

các khoản thu nhập trước hay sau thuế)

Đơn vị cần trình bày Báo cáo

kết quả hoạt động kinh doanh/

Báo cáo tổng hợp các khoản

thu nhập theo chức năng của

chi phí hoặc theo bản chất của

chi phí, tùy thuộc vào cách

trình bày nào cung cấp thông

tin hợp lý và đáng tin cậy hơn

Đơn vị cần trình bày Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chức năng của chi phí hoặc theo bản chất của chi phí trong trường hợp do tính chất ngành nghề kinh doanh mà đơn vị không thể trình bày các yếu tố thông tin trên Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh theo chức năng của chi phí

Thuyết

minh cổ

tức

Thông tin này có thể trình bày

trong thuyết minh báo cáo tài

chính hoặc trên báo cáo thay

đổi vốn chủ sở hữu

Đơn vị cần phải trình bày lãi trên

cổ phiếu, số cổ tức công bố hoặc

đề xuất cho kỳ của báo cáo tài chính

Thông tin này cần phải trình bày trong Thuyết minh báo cáo tài chính

Thay đổi

nguồn

vốn chủ

sở hữu

Đơn vị phải trình bày những

thông tin phản ánh sự thay đổi

Trang 31

- Số dư của khoản mục lãi/lỗ lũy kế vào thời điểm đầu và cuối niên độ, và những biến động trong niên độ

- Đối chiếu giữa giá trị ghi

sổ của mỗi loại vốn góp, thặng dự vốn cổ phần, các khoản dự phòng vào đầu niên độ và cuối niên độ và trình bày riêng biệt từng

sự biến động

1.2.4 Kinh nghiệm nghiên cứu lập và trình bày báo cáo tài chính ở ngoài nước:

1.2.4.1 Lập và trình bày báo cáo tài chính tại Pháp

Các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Pháp là những bản phúc trình về tình hình hoạt động của doanh nghiệp cho các cơ quan có thẩm quyền: Hội đồng quản trị, các cơ quan thuế, các cơ quan chủ quản ngành Báo cáo tài chính thường được lập định kỳ hàng quý, 6 tháng, 9 tháng, cuối năm tài chính hoặc bất thường khi cần có số liệu để kiểm tra

Theo chế độ kế toán Pháp, báo cáo tài chính có hai loại biểu mẫu chủ yếu là: Bảng tổng kết tài sản và bảng kết quả niên độ

 Bảng tổng kết tài sản là một tài liệu tổng hợp các thông tin về tài sản và nguồn tài trợ vào ngày cuối cùng của kỳ báo cáo Bảng tổng kết tài sản được chia làm hai phần:

- Bên trái phản ánh tài sản theo thứ tự tính toán thanh khoản tăng dần

- Phần bên phải phản ánh nguồn hình thành của tài sản theo trình tự tính tự chủ

về nguồn vốn giảm dần

Trang 32

Nguyên tắc chung để lập bảng tổng kết tài sản cần tính số dư cuối kỳ trên các tài khoản kế toán Các tài khoản kế toán có số dư được ghi vào bên tài sản của bảng tổng kết tài sản, còn các tài khoản có số dư có được ghi vào bên nguồn tài trợ của bảng tổng kết tài sản Tuy nhiên, có một số trường hợp như: các tài khoản khấu hao bất động sản và dự phòng giảm giá tài sản có số dư Có nhưng nó được dùng để điều chỉnh cho các tài sản nên những tài khoản này được phản ánh ở bên tài sản để tính giá trị còn lại hay giá trị thực của tài sản Tài khoản kết quả niên độ, trong trường hợp doanh nghiệp bị lỗ, tài khoản này sẽ có số dư bên Nợ, nhưng vẫn được phản ánh ở nguồn tài trợ bằng cách ghi số âm

 Bảng kết quả niên độ là báo cáo phản ảnh kết quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu lãi, lỗ Kết quả lãi, lỗ được xác định bằng cách so sánh hai yếu tố thu nhập và chi phí

Kết quả được xác định chung cho các hoạt động và xác định riêng cho từng hoạt động

Kết quả kinh doanh = Thu nhập kinh doanh – Chi phí kinh doanh

Kết quả tài chính = Thu nhập tài chính – Chi phí tài chính

Kết quả đặc biệt = Thu nhập đặc biệt – Chi phí đặc biệt

1.2.4.2 Lập và trình bày báo cáo tài chính tại Mỹ

Tại Mỹ kế toán được quy định bởi một tổ chức thuộc lĩnh vực kinh tế tư nhân

là “Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính - FASB” Bên cạnh đó, một cơ quan thuộc chính phủ có tác dụng củng cố chuẩn mực kế toán này là “Ủy ban chứng khoán ngoại hối – SEC” Ngoài ra, một tổ chức thuộc lĩnh vực kinh tế tư nhân khác cũng có trách nhiệm trong việc đặt ra chuẩn mực kế toán này là Viện kế toán viên công chứng – AICPA

Hệ thống kế toán ở Mỹ không có các yêu cầu mang tính luật pháp trong việc công bố các báo cáo tài chính đã được kiểm toán theo định kỳ Tại Mỹ, các công ty

cổ phần được thành lập theo luật của tiểu bang chứ không theo luật của liên bang Mỗi tiểu bang cso hệ thống luật riêng và nói chung hệ thống luật này chứa đựng ít nhất các yêu cầu về việc thu thập, lưu giữ các bản ghi kế toán và phát hành các báo

Trang 33

cáo tài chính định kỳ Do vậy, cuộc kiểm toán hàng năm và yêu cầu nộp báo cáo tài chính về liên bang SEC chỉ định SEC có quyền lực pháp lý đối với tất cả các công

ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán

Các báo cáo tài chính được giả định là trình bày trung thực về tình hình tài chính của công ty và kết quả kinh doanh của công ty trong năm phù hợp với GAAP (các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận – Generally accepted accounting principles) Hệ thống báo cáo tài chính tại Mỹ bao gồm:

- Báo cáo quản lý

- Báo cáo của kiểm toán viên độc lập

- Các báo cáo cơ bản (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và báo cáo về sự thay đổi của vốn chủ sở hữu)

- Thuyết minh báo cáo tài chính

- Báo cáo so sánh về tình hình kinh doanh trong 5 năm hoặc 10 năm

- Các dữ liệu theo quý khác

Các báo cáo tài chính hợp nhất khác được yêu cầu Các báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phải được lập định kỳ ba tháng một Các báo cáo này được tóm tắt, không cần thiết phải kiểm toán mà chỉ cần chữ

ký xác nhận tính chính xác của người quản lý

1.3 Quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính

1.3.1 Công việc chuẩn bị trước khi lập báo cáo tài chính

Thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp là những thông tin hữu ích phục vụ cho quản lý kinh tế, tài chính và đề ra các quyết định kinh tế của doanh nghiệp Vì vậy, các thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải phản ánh đầy đủ, chính xác toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của nó Các số liệu trong các báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở các số liệu trong các loại sổ kế toán Do đó, trước khi lập các báo cáo tài chính, kế toán doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các công việc sau đây:

- Kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa các tài khoản, sổ kế toán liên quan; giữa kế

Trang 34

toán tổng hợp và kế toán chi tiết; giữa sổ kế toán của doanh nghiệp với các đơn vị

có liên quan ( người bán, người mua, ngân hàng ) Thực tế, trong quá trình ghi chép hàng ngày kế toán phải kiểm tra, đối chiếu giữa số liệu chi tiết và số tổng cộng, giữa chứng từ với sổ sách nhằm đảm bảo cho việc ghi chép phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách chính xác Tuy nhiên, sự sai sót trong quá trình tính toán, xử lý số liệu và ghi chép sổ sách đều có thể vì khối lượng ghi chép của kế toán là rất lớn Do đó, vào cuối kỳ trước khi lập BCTC, kế toán cần kiểm tra toàn bộ số liệu ghi chép trong kỳ nhằm đảm bảo sự tin cậy của các chỉ tiêu kinh tế

sẽ được trình bày trên BCĐKT và BCKQHĐKD

- Tiến hành kiểm kê tài sản và lập biên bản kiểm kê để xác định số chênh lệch giữa thực tế và sổ sách, nếu có chênh lệch phải điều chỉnh sổ sách về thực tế trước khi lập báo cáo tài chính để số liệu trên báo cáo tài chính phản ánh đúng hiện thực về công ty

- Khóa sổ kế toán tại thời điểm lập BCTC là kết thúc việc ghi sổ sau một thời

kỳ nhất định, đảm bảo tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh trên các chứng từ hợp lệ, hợp pháp đều được phản ánh vào các sổ kế toán trong kỳ Khóa sổ

kế toán là công việc cộng số phát sinh bên Nợ, bên Có và tính số dư cuối kỳ của tài khoản trong sổ kế toán sau một kỳ kế toán BCTC chỉ được lập sau khi đã khóa sổ

kế toán

1.3.2 Quy trình lập và trình bày Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo tài chính hữu ích nhất đối với doanh nghiệp cũng như những nhóm người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện

có của doanh nghiệp cũng như nguồn hình thành nên tài sản ( nguồn vốn ) tại một thời điểm xác định Hơn thế nữa, bảng cân đối kế toán còn phải thể hiện được mối quan hệ cân đối vốn có của nó đó là tại một thời điểm xác định khi biểu hiện bằng thước đo tiền tệ thì tổng tài sản và tổng nguồn vốn luôn luôn bằng nhau ( phương trình kế toán cơ bản)

Trang 35

1.3.2.1 Nguyên tắc lập và trình bày Bảng cân đối kế toán

Theo quy định tại chuẩn mực số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính “ khi lập và trình bày bảng cân đối kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính, nhưng không được áp dụng “ Nguyên tắc bù trừ “ Ngoài ra, trên bảng cân đối kế toán, các khoản mục tài sản và nợ phải trả được trình bày riêng biệt thành ngắn hạn và dài hạn, tùy theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong

vòng 12 tháng, thì tài sản và nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo điều kiện sau:

- Tài sản và nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng 12 tháng tới

kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, được xếp vào loại ngắn hạn

- Tài sản và nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán sau 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, được xếp vào loại dài hạn

Thứ hai: Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường dài hơn

12 tháng, thì tài sản và nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo điều kiện sau:

- Tài sản và nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường, được xếp vào loại ngắn hạn

- Tài sản và nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong thời gian dài hơn một chu kỳ kinh doanh bình thường, được xếp vào loại dài hạn

Thứ ba: Đối với các doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào

chu kỳ kinh doanh để phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn, thì các tài sản và nợ phải trả được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần Việc trình bày các loại tài sản theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần có nghĩa là loại tài sản nào dễ chuyển đổi thành tiền nhất được xếp trước tiên và loại nào khó chuyển nhất được xếp cuối cùng

Mỗi loại tài sản hoặc một vài loại tài sản có cùng tính chất hoặc chức năng được trình bày thành chỉ tiêu riêng trong Bảng cân đối kế toán được gọi là “ khoản

Trang 36

mục “ của bảng cân đối kế toán Theo nguyên tắc trọng yếu và tập hợp thì từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng Tóm lại các khoản mục có cùng chức năng được tập hợp và được trình bày vào một khoản mục, nếu mỗi tài sản này không có tính trọng yếu, còn nếu có là trọng yếu thì phải trình bày mỗi tài sản này riêng một khoản mục Ngược lại các tài sản có tính chất, chức năng khác nhau thì dù giá trị của nó là nhỏ (không trọng yếu) thì phải được trình bày vào một khoản mục riêng Ví dụ máy móc, thiết bị có tính chất chức năng khác hàng tồn kho, thì hai loại tài sản này phải được trình bày vào hai khoản mục tài sản riêng, dù

là giá trị của hai loại tài sản này là không lớn Ngược lại, nguyên vật liệu và hàng hóa là hai loại tài sản có cùng tính chất và chức năng và việc trình bày riêng hai loại tài sản này là không cần thiết, thì mặc dù chúng có giá trị lớn thì chúng cũng có thể trình bày chung vào một khoản mục

Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, thì tài sản được trình bày thành các khoản mục sau:

Tài sản ngắn hạn, gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu

tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác

Tài sản dài hạn, gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn khác

Đối với các khoản nợ phải trả, theo quy định tại chuẩn mực số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính “ khoản mục này được trình bày ở phần “ nguồn vốn “ Các khoản nợ phải được trình bày theo các loại có cùng tính chất và đồng thời cùng thời hạn thanh toán là dài hạn hay ngắn hạn Cụ thể:

Nợ ngắn hạn, gồm: Vay và nợ ngắn hạn, phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, phải trả người lao động, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác

Trang 37

Nợ dài hạn, gồm: nợ phải trả người bán, phải trả dài hạn nội bộ, phải trả dài hạn khác, vay và nợ dài hạn, thuế thu nhập hoãn lại phải trả, dự phòng trợ cấp mất việc làm Như vậy, bảng cân đối kế toán phải thể hiện được tính chất cân đối của

nó đó là tổng tài sản phải bằng nguồn vốn Để thực hiện được điều này thì bảng cân đối kế toán phải trình bày được hai phần tài sản và nguồn vốn Các chỉ tiêu ở hai phần tài sản và nguồn vốn được tính dựa trên số dư cuối kỳ của các tài khoản này trên sổ kế toán tại thời điểm lập báo cáo ( Mẫu B01- DN Ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính )

1.3.2.2 Cơ sở số liệu, quy trình và phương pháp lập, trình bày Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán phản ánh tổng quát tình hình tài sản hiện có cũng như nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp và hơn thế nữa nó còn phải phản ánh được tính chất cân đối của kế toán ( phương trình kế toán cơ bản ) đó là tại một thời điểm xác định ( thời điểm lập báo cáo tài chính quý, năm ) khi biểu hiện bằng thước đo tiền tệ thì tổng tài sản và tổng nguồn vốn phải bằng nhau Chính vì vậy, kết cấu của bảng cân đối kế toán phải trình bày được hai chỉ tiêu cơ bản đó là phần tài sản và phần nguồn vốn

Để lập bảng cân đối kế toán , kế toán phải sử dụng rất nhiều số liệu, nhưng chủ yếu từ các nguồn số liệu sau đây:

a) Bảng cân đối kế toán cuối kỳ trước, năm trước

b) Sổ cái các tài khoản tổng hợp và các tài khoản phân tích

c) Bảng cân đối tài khoản

d) Các tài liệu có liên quan khác ( sổ chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết, bảng kê… )

Trang 38

Sơ đồ 1.02 : Quy trình lập Bảng cân đối kế toán

Để việc lập bảng cân đối kế toán được nhanh chóng, dễ dàng và chính xác, khi lập kế toán cần thực hiện theo các bước cơ bản sau:

Thứ nhất, phải hoàn tất ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết, tiến

hành khóa sổ kế toán, tính ra số dư cuối kỳ của các tài khoản tổng hợp và các tài khoản phân tích, kiểm tra đối chiếu số liệu kế toán giữa các sổ sách có liên quan, bảo đảm khớp đúng

Thứ hai, kiểm tra số liệu ghi trên cột “ Số cuối năm “ của Bảng cân đối kế toán

ngày cuối của năm trước Số liệu ở cột này sẽ được chuyển và cột “ Số đầu năm “ của bảng cân đối kế toán kỳ này

Thứ ba, phân loại toàn bộ tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp thành ngắn

hạn ( là những tài sản hay nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng 12 tháng hay trong một chu kỳ kinh doanh ) và dài hạn ( là những tài sản hay nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán ngoài 12 tháng hay ngoài một chu kỳ kinh doanh ) Trường hợp không thể phân biệt được giữa ngắn hạn và dài hạn thì các loại tài sản

và nỏ phải trả được xếp theo tính thanh toán giảm dần

Thứ tƣ, tuyệt đối không được bù trừ các khoản mục tài sản với nợ phải trả cũng

như tuyệt đối không được bù trừ số dư giữa hai bên Nợ và Có của các tài khoản

Kế toán tổng hợp kiểm tra, đối chiếu số liệu

Khóa sổ kế toán ( Theo thứ tự từ tài khoản loại 1 đến loại 4 )

Bảng cân đối phát sinh tổng hợp

Lấy số liệu để ghi vào các chỉ tiêu phần “Tài sản” và phần

“Nguồn vốn”, các chỉ tiêu ngoài BKĐKT

Trang 39

thanh toán như tài khoản 131, 331 mà phải căn cứ vào số dư chi tiết để ghi vào các chỉ tiêu có liên quan trên bảng cân đối kế toán

Thứ năm, căn cứ vào từng chỉ tiêu cụ thể trên bảng cân đối kế toán để thu thập

số liệu Nếu một chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán liên quan đến tài khoản nào thì căn cứ vào số dư của tài khoản đó ( tài khoản tổng hợp, tài khoản phân tích ) để phản ánh Số dư bên Nợ của tài khoản sẽ được ghi vào bên “ tài sản “ và số dư bên

có được ghi vào bên “ nguồn vốn “ Riêng đối với các tài khoản như hao mòn tài sản cố định và các khoản dự phòng mặc dù có số dư bên Có nhưng khi lên bảng cân đối kế toán vẫn được ghi vào bên “ tài sản “ nhưng được ghi dưới hình thức ghi số

âm Ngược lại, đối với những tài khoản như: chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, lợi nhuận chưa phân phối nếu có số dư Nợ thì khi lên bảng cân đối kế toán vẫn được ghi vào bên “nguồn vốn” và ghi dưới hình thức số âm ( ghi trong ngoặc đơn )

Đối với một số chỉ tiêu mang tính tổng hợp như hàng tồn kho, các khoản phải thu khác…do có liên quan đến nhiều tài khoản nên phải tiến hành tổng hợp số liệu

từ các tài khoản có liên quan để lấy số liệu ghi vào các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán

1.3.3 Quy trình lập và trình bày Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh tóm lược doanh thu, chi phí và kết quả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh (hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính) và hoạt động khác

1.3.3.1 Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo nằm trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Báo cáo kết quả kinh doanh thể hiện kết quả các hoạt động của một doanh nghiệp cụ thể trong một thời kỳ nhất định Báo cáo này phản ánh tổng quát các khoản doanh thu ( hay thu nhập ) phát sinh và các chi phí đã sử dụng để tạo

ra doanh thu ( hay thu nhập ) đó, và lãi hay lỗ thuần là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí Mặt khác, báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho người sử dụng sự đánh

Trang 40

giá về hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Báo cáo trình bày các nguồn tài chính tạo ra thu nhập và các khoản chi phí liên quan đến thu nhập đó Báo cáo so sánh các hao phí nguồn lực của doanh nghiệp đã bỏ ra với kết quả thực hiện qua một thời kỳ hoạt động kinh doanh và giúp cho người sử dụng

dự đoán được triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp Ngoài ra, báo cáo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần còn phải tính trên cả chỉ tiêu lợi tức trên cổ phần, để đánh giá khả năng sinh lời của công ty

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua tổng số lãi hoặc lỗ thuần trong một thời kỳ Báo cáo liệt kê các khoản doanh thu, chi phí sau đó đưa ra kết quả lãi hoặc lỗ thuần Doanh thu biểu thị

sự tăng vốn của doanh nghiệp do bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ Chi phí biểu thị giá trị sử dụng tài sản trong các hoạt động tạo doanh thu Lãi hay lỗ thuần, đánh giá hiệu quả tổng quát của hoạt động kinh doanh bao gồm cả sự biến đổi về vốn chủ

sở hữu trong một thời kỳ ( trừ các khoản đầu tư của chủ sở hữu hay phân chia cho các chủ sở hữu )

Như vậy báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chỉ ra các hướng và cung cấp các căn cứ để dự đoán mức độ thành công của một doanh nghiệp Chính vì vậy, việc trình bày các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải chính xác, đầy đủ và phải tuân thủ theo chuẩn mực chung

1.3.3.2 Cơ sở số liệu, quy trình và phương pháp lập, trình bày Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng quát về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Chính vì vậy, báo cáo kết quả kinh doanh cần phải lập nhanh chóng, chính xác và kịp thời và phải tuân thủ đúng các nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính được quy định tại chuẩn mực kế toán số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính “

Để lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì người lập phải dựa trên các nguồn số liệu sau:

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh quý trước, năm trước

Ngày đăng: 28/02/2023, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w