Các hệ thống thông tin quang thầy Nghiem Xuan Anh
Trang 1Hệ thống TTQ IMDD ra đời đầu tiên, đã và đang được sử dụng rộng rãi trong mạng quang tại Việt nam và nhiều nước khác. Tốc độ hiện nay đạt (2,5 ¸
10 Gb/s (STM4, STM16)
I.1 Nguyên lý hệ thống IMDD
Trang 22/26/2007 Optic Communication Systems 5
I.1.1. Phía Máy Phát
Phía phát thực hiện biến đổi tín hiệu điện đầu vào
thành tín hiệu quang tương ứng và phát tín hiệu
quang này vào sợi quang để thực hiện việc truyền
thông tin.
[Máy phát thực hiện điều chế nguồn quang (LED
hoặc LD) bằng dòng tín hiệu điện (digital hoặc
Méo (dãn xung) tín hiệu do tán sắc (tán sắc giữa các mode, tán sắc mode (tán sắc vận tốc nhóm), tán sắc dẫn sóng, tán sắc vật liệu, tán sắc phân cực mode vv Þ Bit rate limitted!.
phương vì nó biến đổi công suất quang thu được trực tiếp thành dòng điện (dòng photo) tại đầu ra của nó Þ
bộ thu kiểu này được gọi là bộ thu tách sóng trực tiếp
(DD). Các photodiode có thể là pin hoặc APD. Tách sóng trực tiếp được biểu hiện là ở máy thu quang, tín
hiệu được tách ra trực tiếp ở băng gốc mà không có bất kỳ xử lý hoặc biến đổi nào
Trang 32/26/2007 Optic Communication Systems 9
I.2. Tỷ số tín hiệu trên nhiễu SNR
Tỷ số tín hiệu/nhiễu (SNR) là tham số rất quan trọng
trong bộ tách sóng quang. Nó xác định chất lượng
của bộ thu quang tương tự và là yếu tố chủ yếu
quyết định độ nhạy của bộ thu quang số.
Sau khi tín hiệu quang lan truyền qua một cự ly dài,
công suất của nó rất thấp. Do đó cần có bộ thu
quang tốt, bộ tách sóng quang và các mạch điện
bé nhiÔu suÊt C«ng sãng
t¸ch
bé nhiÔu suÊt C«ng
photo dßng
tõ hiÖu tÝn suÊt
) /
4 ( ) (
2
2
2 + + +
) /
4 (
2 )
(
2
) (
2
2 + +
Trang 4eSNR chỉ đủ để đánh giá chất lượng tín hiệu thu
trong truyền dẫn analog có đáp ứng tiêu chuẩn đề
ra hay không, còn
Độ nhạy thu – sơ đồ tham chiếu
Trong thông tin quang số, độ nhạy thu luôn bị ràng
buộc bởi tỷ số lỗi bit BER. Độ nhạy được thể hiện
bằng một công suất quang tối thiểu có thể có thể đảm bảo tỷ số lỗi bit BER đã cho. (Thường được xác định tại một điểm tham chiếu trước bộ nối thu R)
Các thông số tại các điểm tham chiếu xác định có liên quan tới mục tiêu thiết kế đoạn truyền dẫn quang
có tỷ số lỗi bit BER.
BER thường nằm trong dải 10 6 ¸ 10 12
Trang 5mong muốn (bit 1 hoặc 0) trong khe thời gian của nó. Trong trường hợp không lỗi thì khi “1” được thu thì
đầu ra V out (t) phải cao hơn điện áp ngưỡng, và khi
“0” được thu thì V out (t) phải nhỏ hơn ngưỡng.
Trong thực tế, do tác động của các loại nhiễu khác nhau và sự giao thoa giữa các xung lân cận có thể
gây ra sự trệch khỏi giá trị trung bình của V out (t) và gây ra lỗi.
điều đó quyết định xem bit “1” hay “0” được phát
đến. Do đó, ta xét vấn đề này thông qua hệ thống
Trang 62/26/2007 Optic Communication Systems 21
BER (continued.)
Mật độ xác suất p(I)
BER (continued.)
Hình trên chỉ ra tín hiệu dao động nhận được bởi
mạch quyết định, mạch này lấy mẫu tại thời điểm
Mạch quyết định so sánh giá trị lấy mẫu với mức
ngưỡng I D và gọi nó là bit “1” nếu I> I D hoặc bit “0”
nếu I<I D .
BER (continued.)
Lỗi xảy ra khi I< I D cho bit “1” do nhiễu máy thu. Một lỗi cũng có thể xảy ra nếu I> I D cho bit “0”.
Cả hai kiểu lỗi trên có thể gộp lại bằng việc định nghĩa
xác suất lỗi bit như sau
Trong đó P(1/0) là xác suất quyết định nhầm bit “1” khi bit “0” được gửi đến. P(0/1) là xác suất quyết định nhầm bit “0” khi bit “1” được gửi đến.
p(0) và p(1) là xác suất nhận đúng các bit “0” và “1” tương ứng.
)
1 /
0 ( )
1 ( )
0 /
1 ( )
Nhiễu nhiệt i T và nhiễu bắn được xấp xỉ bằng phân bố
Gaussian, do đó tổng của chúng (giá trị được lấy mẫu I)
cũng là biến ngẫu nhiên Gaussian có phương sai là
2
)
1 /
0 ( )
0 /
1
( P
P BER = +
Trang 72/26/2007 Optic Communication Systems 25
BER (continued.)
Giá trị trung bình và phương sai của bit “1” và bit
“0” khác nhau do I p tương đương với I 1 hoặc I 0 , tùy
theo bit nhận được. Nếu s 1 2 và s 0 2 là các phương
sai tương ứng thì xác suất có điều kiện trên được
Phương trình trên cho thấy BER phụ thuộc vào
ngưỡng quyết định I D Trong thực tế, I D được tối ưu
nhằm tối thiểu BER. BER min. đạt được khi I D được
s
s
s s
(*)
(**)
Trang 8Bỏ qua thành phần dòng tối, phương sai nhiễu trở
Trang 9Nhận xét: Độ nhạy thu phụ thuộc vào các tham số
bộ thu. Đối với bộ thu quang PIN thì nhiễu nhiệt s T
thường là trội, và khi đó <P rec > có thể được viết dưới
dạng đơn giản như sau:
Ta thấy s T không chỉ phụ thuộc vào các tham số như
R L và F n mà còn phụ thuộc vào cả tốc độ bit thông
qua băng tần điện B e của bộ thu quang (B e =B/2). B
là tốc độ bit. Vì thế <P rec > tăng theo B 1/2 trong giới
hạn nhiễu nhiệt, và điều này có nghĩa là độ nhạy
rec
s
Trang 10B 1/2 nên độ nhạy của APD giảm nhanh hơn so với
Với bộ tách sóng lý tưởng, s 0 =0 vì nhiễu lượng tử triệt
tiêu khi không có công suất quang tới. Do đó, ngưỡng
quyết định có thể đặt gần mức 0. Khi đó, ngay cả 1
Trang 11Cải thiện được tỷ số tín hiệu trên nhiễu SNR ở đầu ra của mạch tiền khuếch đại, dẫn tới độ nhạy thu cao (upto 20 dB so với hệ thống IMDD), cho phép kéo dài
Trang 122/26/2007 Optic Communication Systems 45
II.1. Khái niệm về Thông tin quang
coherent
Hệ thống TT coherent dựa theo nguyên lý truyền
sóng ánh sáng mang tín hiệu kết hợp với một sóng
Đến đầu 1980s, khi công nghệ sợi quang và laser đạt
được những bước tiến nhảy vọt mới tạo đà cho các hệ
thống coherent phát triển. (Sợi quang đơn mode G.652
có suy hao thấp » 0.154 dB/km @ 1550nm. Laser bán
dẫn có độ ổn định tần số cao, độ rộng phổ hẹp làm cho
tán sắc gây dãn xung không đáng kể.)
Chỉ trong vòng 67 năm, hệ thống coherent đã được đưa
vào sử dụng trong các mạng viễn thông. Các hãng nổi
tiếng thế giới như AT&T, NTT, NEC vv… cho đây là
hướng mũi nhọn trong việc nâng cao khả năng truyền
Độ phân cực của ánh sáng được phải được giữ nguyên trạng trong quá trình truyền.
Trước khi tách sóng ở máy thu, tín hiệu được trộn với sóng dao động nội (laser diode). Như vậy ánh sáng đã được xử lý trước khi tới bộ tách sóng quang.
II.2. Cấu trúc của HTTTQ coherent
Trang 13Yêu cầu cả hai trường quang cần phải đồng hướng trên mặt của photodiode. Do trạng thái phân cực của tín hiệu dọc theo sợi bị thăng giáng nên cần phải sử dụng bộ điều khiển phân cực tín hiệu và dao động nội ở đầu cuối của tuyến sợi quang. Độ lệch giữa các trạng thái phân cực của tín hiệu và dao động nội có thể ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống.
Homodyne và Heterodyne Receivers
Nếu tần số của sóng dao động nội và tín hiệu giống nhau thì máy thu gọi là Homodyne, còn
nếu tần số của sóng dao động nội và tín hiệu khác nhau (Df= f IM ) thì máy thu gọi là Heterodyne.
Cấu trúc của laser dao động nội và laser ở phía phát
về cơ bản là giống nhau, tuy nhiên có một điểm khác là: trong laser dao động nội có khả năng điều chỉnh từng tần số phát trong một dải rộng để đảm bảo tần
số tín hiệu sau khi trộn luôn ổn định.
Bộ trộn + photodiode hoạt động như một bộ biến đổi tần thấp (heterodyne) hoặc tách pha (homodyne)
Trang 14Một phần dòng sau biến đổi O/E được sử dụng để
chốt trung tần tại một giá trị mong muốn thông qua
vòng điều khiển tần số tự động AFC.
II.3. Nguyên lý hoạt động
w s
w LO (w s w LO )
Priciples of operation …
Giả sử ta coi trường điện từ của tín hiệu đến từ phía phát là sóng phẳng có dạng.
A s là biên độ trường của tín hiệu quang, w s là tần số tín hiệu, f s (t) là pha của tín hiệu quang.
Để truyền thông tin, ta có thể sử dụng kỹ thuật điều biên, điều tần, hoặc điều pha sóng mang quang
FSK. Biên độ A s là hằng số và pha f s nhận giá trị w 1 t
hay w 2 t, trong đó w 1 và w 2 biểu thị các giá trị của tín hiệu nhị phân.
PSK. Thông tin được truyền đi qua sự thay đổi pha với sóng hình sin có , trong đó b là chỉ
Trang 152/26/2007 Optic Communication Systems 57
Receiver
Tại bộ thu quang, tín hiệu này trước tiên được trộn với
sóng quang phát ra từ bộ dao động nội. Tiếp theo,
Giả thiết cả trường E s và E LO có cùng phân cực. Bộ tách
sóng phía thu sẽ đáp ứng với cường độ quang |E s +E LO | 2
Do photodiode đáp ứng với cường độ quang nên
công suất thu được tại bộ tách sóng được cho bởi
2 )
Thông thường thì P LO lớn hơn rất nhiều P s . Khi w s¹w LO , tín hiệu quang sẽ được giải điều chế theo hai giai đoạn: Tần số sóng mang trước tiên được biến đổi thành trung tần f IF =w IF /2p (typ. 0.1 ¸ 5 GHz)
Homodyne and Heterodyne Detection
Sau đó tín hiệu được giải điều chế sang băng cơ sở. Không nhất thiết luôn phải sử dụng trung tần. Trong
bộ thu coherent thực tế, có hai kỹ thuật tách sóng
tuỳ thuộc vào w IF =0 hay w IF ¹ 0.
Nếu w IF =0 thì tách sóng được gọi là homodyne, còn Nếu w IF ¹ 0 thì tách sóng được gọi là heterodyne.
Sự cải thiện về độ nhạy thu trong tách sóng Coherent được thể hiện bằng các kỹ thuật này.
Tiêu chí đánh giá, phân tích thông qua việc so sánh
dòng photo trong tách sóng trực tiếp và Coherent.
Trang 16Do P LO >>P s nên tỷ số 4P LO /<P s > >> 1, dẫn tới sự tăng
công suất có thể vượt 20 dB. Bộ dao động nội đã đóng
tiếp không làm được do toàn bộ thông tin về pha tín hiệu đã bị mất !
Tách sóng homodyne là một kỹ thuật tiên tiến nhưng
nó cũng có vấn đề do tính nhạy cảm pha của nó. Yêu cầu phải có mạch khóa pha quang OPLL để khóa pha của bộ dao động nội với sóng mang tín hiệu.
Ngoài ra, có yêu cầu nghiêm ngặt đối với sự đồng tần giữa laser phát và laser dao động nội
Þ Điều này được khắc phục bằng tách sóng heterodyne!
II.3.2 Tách sóng Heterodyne
w IF ¹0 Không cần OPLL nên các bộ thu Heterodyne dễ thực hiện hơn bộ thu Homodyne.
Dòng photo thu được trong tách sóng Heterodyne là:
Ta quan tâm đến thành phần điều hòa vì dòng này sẽ được lọc ra nhờ bộ lọc. Thành phần này có mang thông tin và là:
Heterodyne có thể dùng điều biên, pha và tần số của sóng mang quang để mang thông tin
[ ( ) ( ) ( ) ] cos
2 ) (
I she = s LO wIF + f s - f LO
(*)
Trang 17hiệu (tỷ lệ với bình phương dòng điện). Do bản chất
của dòng I ac , công suất tín hiệu trung bình bị giảm đi
hệ số 2 khi I ac 2 được lấy trung bình qua cả chu kỳ tại
bộ được sử dụng. Điểm này làm cho tách sóng
heterodyne rất phù hợp cho thực hiện các hệ thống
s 2 của các biến động dòng đạt được bằng cách lấy tổng của hai thành phần, vì vậy
Sự khác biệt với các phân tích trước đây nằm ở sự
đóng góp của nhiễu bắn. Dòng I trong biểu thức
(*p.67) là dòng photo tổng được cho bởi bt (*p.61)
hoặc (*p.64) tùy thuộc vào tách sóng homodyne hay heterodyne được sử dụng.
Do thực tế P LO >>P s nên ta thế I trong (*p.67) bằng I=RP LO cho cả hai trường hợp.
SNR được xác định bằng cách chia công suất tín hiệu trung bình cho công suất nhiễu trung bình
Trang 182/26/2007 Optic Communication Systems 69
SNR Heterodyne
SNR của bộ thu heterodyne là
Trong trường hợp homodyne, SNR lớn hơn bởi hệ
số 2 nếu ta giả thiết f s =f LO trong biểu thức (*p.61)
Từ bt trên ta có thể thấy được ưu điểm của tách
sóng coherent. Do công suất quang dao động nội
So sánh SNR trong bt (*p.11) với (*p.70) cho thấy sự cải thiện SNR trong tách sóng heterodyne so với tách sóng trực tiếp như thế nào.
Hữu ích hơn nếu ta biểu diễn SNR theo số photon N p nhận được trong một bit đơn. Tại tốc độ bit B, công suất tín hiệu <P s > và B e trong (*p.70) quan hệ với N p theo <P s >=N p hnB. Điển hình, B e =B/2.
Trang 192/26/2007 Optic Communication Systems 73
II.5. Các dạng thức điều chế.
Ưu điểm quan trọng của sử dụng các kỹ thuật tách
sóng coherent là ở chỗ cả biên độ và pha của tín
Trong trường hợp điều chế ASK, biên độ A s được điều chế trong khi duy trì w 0 và f s là hằng số. Đối với điều chế
số nhị phân, A s nhận một trong hai giá trị cố định trong mỗi chu kỳ bit, tùy theo bit 1 hay 0 được truyền đi.
Trong phần lớn các tình huống thực tế, A s = 0 khi truyền các bit 0. Khi đó, ASK được gọi là OOK và giống với sơ
đồ điều chế thường được sử dụng cho các hệ thông TTQ
số noncoherent IM/DD
[ ( ) ] cos
) ( )
E s = s w + f s
Sự khác biệt giữa ASK cho IM/DD và ASK cho coherent
Thực hiện ASK cho các hệ thống coherent khác với trường hợp các hệ thống tách sóng trực tiếp ở một khía cạnh quan trọng.
IM/DD : luồng bit quang cho các hệ thống tách sóng trực tiếp có thể được tạo ra bằng việc điều chế trực tiếp LED hoặc laser diode
Coherent: cần điều chế ngoài.
Why need an external modulator?
Answer: Luôn có sự thay đổi về pha khi biên độ A s thay đổi do bởi dòng điều chế đặt vào laser bán dẫn
Trang 202/26/2007 Optic Communication Systems 77
ASK for coherent …
Với các hệ thống IM/DD những biến đổi pha không cố ý
như vậy không thấy được bởi bộ tách sóng (photodiode
chỉ đáp ứng với công suất quang) và không phải là mối
quan tâm chính ngoài sự mất mát công suất do tạo chirp.
Khác với IM/DD, đáp ứng của bộ tách sóng trong hệ
thống coherent phụ thuộc vào pha của tín hiệu thu được.
Thực hiện ASK cho hệ thống cohherent đòi hỏi f s duy trì
gần như không đổi. Điều này đạt được nhờ vận hành
laser bán dẫn liên tục bằng một dòng điện không đổi và
Điểm thú vị của PSK là cường độ quang duy trì
không đổi trong tất cả các bit và tín hiệu xem ra có
dạng liên tục CW.
Tách sóng coherent là cần thiết cho PSK vì mọi
thông tin sẽ bị mất nếu tín hiệu quang được tách
sóng trực tiếp mà không trộn nó với đầu ra của bộ
dao động nội.
PSK implementation
Thực hiện PSK đòi hỏi một bộ điều chế ngoài có khả năng làm thay đổi pha quang theo điện áp đặt vào.
Cơ chế vật lý được sử dụng bởi những bộ điều chế
như vậy được gọi là khúc xạ điện.
Sử dụng PSK đòi hỏi pha của sóng mang quang phải duy trì ổn định sao cho thông tin về pha có thể được trích ra tại máy thu mà không có sự nhầm lẫn. Yêu cầu này đặt một yêu cầu nghiêm ngặt lên dung sai về
độ rộng vạch phổ của laser phát và dao động nội. Yêu cầu này có thể được giảm bớt bằng cách sử dụng một biến thể của PSK gọi là DPSK.
DPSK
Trong trường hợp DPSK, thông tin được mã hóa sử dụng sự khác pha giữa hai bit lân cận. Chẳng hạn như, nếu f k đại điện cho pha của bit thứ k, độ lệch pha Df=f k f k1 bị thay đổi một lượng là p hoặc 0, tùy theo bit thứ k là bit 1 hay bit 0.
Ưu điểm của DPSK là tín hiệu phát có thể được giải điều chế thành công miễn là pha sóng mang duy trì tương đối ổn định qua một khoảng thời gian 2 bit. Loại điều chế này thường được sử dụng trong các
hệ thống thực tế vì không cần các bộ giải điều chế phức tạp mà vẫn cho chất lượng tốt