Ở những thành phố mà chính quyền không đứng ra thành lập quỹ BHTN, thì chính quyền tài trợ cho các quỹ bảo hiểm tư nhân, quỹ công đoàn để tăng thêm mức trợ cấp cho người thất nghiệp và đ
Trang 1ĐỀ TÀI:
BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Trang 2PH L C Ụ LỤC Ụ LỤC
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 5
I SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 5
1 Lịch sử hình thái và phát triển của Bảo hiểm thất nghiệp 5
2 Kinh nghiệm triển khai bảo hiểm thất nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới 7
2.1 Bảo hiểm thất nghiệp tại các nước phát triển 7
2.2 Bảo hiểm thất nghiệp tại quốc gia đang phát triển 11
II LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHTN 13
1 Khái niệm và đặc điểm của BHTN 13
1.1 Khái niệm 13
1.2 Đặc điểm của BHTN 14
2 Nội dung cơ bản của BHTN 15
2.1 Các đối tượng của BHTN 15
2.2 Trợ cấp BHTN 16
2.3 Quỹ BHTN 18
3 Vai trò của BHTN 19
3.1 Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất việc làm 19
3.2 Phân phối lại thu nhập 19
3.3 Động viên người lao động hăng hái làm việc 20
3.4 Hình thành quỹ để phát triển sản xuất kinh doanh 20
3.5 Tạo điều kiện gắn bó giữa lợi ích của Nhà nước và người lao động 20
III BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 21
1 Nội dung cơ bản của BHTN ở Việt Nam 21
1.1 Về người lao động tham gia BHTN ( Điều 2,Chương 1) 21
1.2 Về người sử dụng lao động tham gia BHTN ( Điều 3, Chương 1 ) 21
1.3 Điều kiện hưởng BHTN ( Điều 15, Chương 3 ) 21
1.4 Mức trợ cấp thất nghiệp và thời gian hưởng trợ cấp ( Điều 16, Chương 3 ) 22
1.5 Vấn đề hỗ trợ học nghề ( Điều 17, Chương 3 ) 22
1.6 Vấn đề hỗ trợ việc làm ( Điều 18, Chương 3 ) 22
1.7 Thời điểm hưởng bảo hiểm thất nghiệp ( Điều 20, Chương 3 ) 23
1.8 Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp ( Điều 22, Chương 3 ) 23
1.9 Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp ( Điều 23, Chương 3 ) 23
1.10 Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ( Điều 25, Chương 4 ) 23
1.11 Việc đăng ký và thông báo về tìm việc làm với cơ quan lao động ( Điều 34, Chương 5 ) 24
2 Đánh giá về chế độ BHTN ở Việt Nam 24
3 Một số ý kiến hoàn thiện BHTN ở Việt Nam 26
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
8 Đặng Anh Duệ, Xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Thông tin khoa học Lao động và Xã hội, 4/2002 28
Trang 3BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường
ở hầu hết các quốc gia, bất kể chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Tình trạng thất nghiệp của người lao động không chỉ ảnh hưởng đến đời sống cá nhân người lao động mà còn cản trở sự tăng trưởng của cả nền kinh tế, gây nên rối loạn chính trị và sự bất ổn định trong toàn xã hội Vì thế, phần lớn các quốc gia đều chú trọng xây dựng hệ thống công cụ, chính sách hỗ trợ người lao động khi bị thất nghiệp để giúp
cân bằng kinh tế xã hội Trong đó, Bảo hiểm thất nghiệp được xem là công cụ hiệu quả
Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn những vấn đề (đối với Việt Nam) vẫn còn khá
mới mẻ này, em đã lựa chọn đề tài “ Bàn về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam ”
Với toàn bộ khả năng của mình, em đã cố gắng mang đến những thông tin cơ bản
và tổng quát nhất về Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, tuy nhiên không tránh khỏinhững thiếu sót ngoài mong muốn nên em hy vọng nhận được sự góp ý từ phía cô giáo đểhoàn thiện hơn kiến thức của mình
Trang 5BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
I SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1 Lịch sử hình thái và phát triển của Bảo hiểm thất nghiệp
BHTN xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ XIX ở Châu Âu dưới những hình thức sơ khai và chưa phải là do chính quyền quốc gia tổ chức.
Từ cuối thế kỷ XIX, BHTN đã xuất hiện, khởi đầu là nguồn tài chính của quỹ công đoàn Dần dần một số chủ doanh nghiệp vì lợi ích của chính họ để ổn định đội ngũ
công nhân lành nghề đã thành lập Quỹ trợ cấp mất việc, nghỉ việc tạm thời Số người
được hưởng các quỹ trợ cấp mất việc, nghỉ việc tạm thời chỉ đóng khung trong doanh nghiệp Về sau một số thành phố, chính quyền đứng ra thành lập quỹ BHTN với phương thức tự nguyện Với phương thức này, quỹ BHTN chỉ thu hút được những người lao độngtrong phạm vi thành phố đó Trên thực tế, đa số người đóng cho quỹ là những người có việc làm không ổn định, người có thu nhập thấp mới tham gia, dẫn đến quỹ thu không đủ
để chi Ở những thành phố mà chính quyền không đứng ra thành lập quỹ BHTN, thì chính quyền tài trợ cho các quỹ bảo hiểm tư nhân, quỹ công đoàn để tăng thêm mức trợ cấp cho người thất nghiệp và đảm bảo an toàn cho quỹ Để khắc phục tình trạng trên và muốn duy trì, phát triển quỹ BHTN để bảo vệ người lao động thì đòi hỏi khách quan là phải mở rộng BHTN ở phạm vi quốc gia
Chính phủ một số quốc gia bắt tay vào tổ chức, hình thành quỹ BHTN
Vào năm 1883, quỹ BHTN do chính quyền tổ chức đầu tiên đã xuất hiện ở Berne (Thụy Sỹ) nhằm bảo vệ cho tất cả công nhân, không phân biệt là thành viên công đoàn hay không Trong khi Thụy sỹ cho ra đời quỹ BHTN thì ở Bỉ và Pháp Chính quyền chủ trương viện trợ cho các quỹ công đoàn và giới chủ để trợ cấp cho những người lao động mất việc làm
Luật hóa việc tổ chức BHTN ở một số nước Châu Âu.
Trang 6Vào những năm đầu của thế kỷ XX, có 11 nước đã ban hành luật pháp quốc gia vềBHTN.
Sớm nhất phải kể đến Nauy và Đan Mạch - ban hành Đạo luật quốc gia về BHTN
tự nguyện có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước lần lượt vào các năm 1900 và 1910
Năm 1911 , Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc, tiếp sau đó là Italia – năm 1919 - cũng thực hiện theo hình thức này
Ngoài ra, các nước Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Áo, Cộng hòa liên bang Đức, Nam
Tư cũng tiếp nối với chủ trương bắt đầu bằng viện trợ của Nhà nước cho các quỹ BHTN
tự nguyện
Nhân rộng việc thực hiện BHTN trên toàn thế giới.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, làn sóng thất nghiệp đã thúc đẩy sự ra đời BHTN của một số quốc gia Trong những năm 30, do hậu quả từ cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới (1929-1933), nạn thất nghiệp đã tới mức trầm trọng khiến cho các quốc gia phải quan tâm đến người thất nghiệp một cách có tổ chức và hệ thống hơn Từ năm 1934,
có thêm một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN, chẳng hạn : ở Mỹ năm 1935,Canada vào năm 1939, thiết lập chế độ BHTN bắt buộc Ngoài ra còn có Thụy Điển và Tân Tây Lan thiết lập chế độ BHTN tự nguyện
Những năm đầu của thập kỷ 40, bốn nước Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Australia, Hy Lạp cũng đã ban hành trợ cấp thất nghiệp áp dụng chế độ bắt buộc
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II ,đặc biệt là sau khi có Công ước số102, năm
1952 của Tỏ chức lao động quốc tế (ILO) thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp
Tính đến năm 1955 đã có 29 nước thực hiện BHTN, trong số đó có 7 nước: Tiệp Khắc (cũ), Liên Xô (cũ), Ba Lan, Ireland, Iran mặc dù đã ban hành pháp luật quốc gia
về BHTN nhưng không áp dụng hoặc áp dụng một thời gian rồi bỏ Trong đó Ba Lan bỏ BHTN vì Nhà nước cho rằng họ đã đạt được sự toàn dụng nhân công không còn tình trạng thất nghiệp; 15 nước thực hiện BHTN bắt buộc (trong đó, riêng Thụy Sỹ có 23 bang
Trang 7thiết lập BHTN bắt buộc, còn 2 bang thiết lập BHTN tự nguyện); 3 nước (Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển) thực hiện BHTN tự nguyện; 4 nước (Pháp, Luxembourg, Tây Ban Nha, Australia) thiết lập chế độ trợ cấp bảo hiểm mất việc làm do Nhà nước tài trợ hoàn toàn.
Đến năm 1989 có thêm 8 nước thực hiện BHTN, đưa tổng số các nước trên thế giới thực hiện BHTN lên 37 nước, chủ yếu là các nước có nền kinh tế thị trường Trong
số 37 nước nói trên, có gần 30 nước có chế độ BHTN bắt buộc Tùy theo mỗi nước, chế
độ trợ cấp thất nghiệp được chi trả trong thời gian xác định từ 6 tháng đến 2 năm Tuy nhiên, khi người thất nghiệp hết hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp vẫn chưa có việc làm họ
có thể hưởng trợ cấp xã hội
BHTN được thực hiện phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triền, nhưng trong hai thập kỷ gần đây, BHTN cũng được áp dụng ở một số nước đang phát triên do yêu cầu của cải cách kinh tế, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Theo thống kê, đến 2009 đã có 78 nước thực hiện BHTN
2 Kinh nghiệm triển khai bảo hiểm thất nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới.
2.1 Bảo hiểm thất nghiệp tại các nước phát triển
Trên thế giới có lẽ từ “ Thất nghiệp” đã không còn xa lạ với bất cứ quốc gia nào, dù
là quốc gia phát triển, đang phát triển hay kém phát triển Để đảm bảo chi tiêu trước cảnh thất nghiệp là một thách thức đối với người lao động Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của riêng người lao động mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô Do đó, BHTN đã ra đời Lần đầu tiên xuất hiện vào thế kỉ XIX tại Đức , Italia, Thụy Sĩ và lan rộng ra Pháp ,Anh, Hà Lan,Mỹ …cho tới nay BHTN đã trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống An sinh xã hội của nhiều nước trong đó có Việt Nam
Hiện nay, tại các nước phát triển BHTN được thực hiện rộng rãi với những bộ luật quy định khá toàn vẹn và chặt chẽ Mỗi nước đều có quy định riêng và thực hiện đựa trên những nguyên tắc của mình Hệ thống bảo hiểm được thực hiện rộng khắp cả nước ,quản
Trang 8lý linh hoạt và nhiều loại hình bảo hiểm đáp ứng nhu cầu của con người Dưới đây là một
số mô hình BHTN tại các nước phát triển
2.1.1.Bảo hiểm thất nghiệp tại Đức:
Ra đời:
BHTN được bắt đầu thực hiện tại Đức vào năm 1919 và chính thức hóa bằng một
bộ luật vào năm 1927, là một cấu thành trong hệ thống BHXH của Đức bao gồm bảohiểm hưu trí, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm chăm sóc BHTN là mộtchương trình BHXH bắt buộc dựa trên sự đóng góp tài chính của người lao động và chủ
sử dụng lao động Năm 2003, tỷ lệ đóng góp BHTN là 6,5% lương trong đó người laođộng đóng 50%, chử sử dụng lao động đóng 50%
ST
T
Tiêu chí Bảo hiểm thất nghiệp tại Đức
1 Đối tượng hưởng BHTN - là người bị thất nghiệp tạm thời< 65 tuổi
- -đã đăng ký tại cơ quan việc làm địaphương
- đủ điều kiện về thời gian làm việc vàđóng bảo hiểm
- Chứng tỏ được bản thân có nỗ lực tìmviệc
2 Điều kiện hưởng BHTN - Có hợp đồng lao động > 12 tháng trong
một giai đoạn xem xét (3 năm cuối trướckhi đăng ký thất nghiệp) trừ trường hợpđặc biệt và đã đóng BHTN bắt buộc
Trang 9- Do đặc thù công việc làm dưới 1 năm cần
6 tháng làm việc + đã đóng BHTN bắtbuộc
3 Mức hưởng chế độ
BHTN
( thu nhập từ BHTN
không phải nộp thuế)
- 60% lương thực tế sau khi đã trừ đi cáckhoản đóng góp bắt buộc (thuế thu nhập,đóng góp BHXH, BHYT)
- TH có ít nhất một trẻ phụ thuộc là67%lương
- Được đóng BHYT trong quỹ y tế công,
và quỹ hưu trí bắt buộc trong thời gian
TN
4 Thời gian hưởng Chế độ - Không có thời gian chờ áp dụng trước khi
nhận phúc lợi cho người thất nghiệp
- TG hưởng phụ thuộc vào thời gian làmviệc có đóng bảo hiểm trước đó và tuổingười LĐ
5 Giai đoạn không đủ tiêu
chuẩn hưởng và mất
quyền hưởng
- Bị tước quyền hưởng chế độ trong vòng
12 tuần nếu bị chấm dứt hợp đồng do lỗi
vi phạm hợp đồng hoặc sai phạm trongcông viêc
- Thời hạn đình chỉ quyền hưởng chế độtương tự cũng được áp dụng nếu ngườithất nghiệp từ chối nhận công việc được
đề nghị bởi cơ quan việc làm hoặc từ chốitham gia các chương trình đào tạo
- Nếu người thất nghiệp đã từng bị tướcquyền hưởng chế độ trong 12 tuần và đã
Trang 10nhận thông báo bằng văn bản về vấn đềnày thì quyền hưởng chế độ sẽ vĩnh viễn
bị tước nếu đối tượng vi phạm một vấn đềtương tự
6 Sự đình chỉ chi trả chế
độ
- Bị ngừng chi trong thời gian người thất nghiệpnhận tiền trợ cấp từ các chế độ BHXH khác nhưchế độ ốm đau, lương hưu
2.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp tại Mỹ:
Ra đời
BHTN là chương trình nằm trong Luật Bảo hiểm xã hội của Hợp chủng quốcHoa Kỳ được thực hiện từ năm 1935, gồm có: hệ thống của Liên bang và Tiểu bang Hệthống Liên bang quy định chung, từ đó cấp Tiểu bang hướng dẫn, quản lý và thực hiệnchương trình của bang mình Việc quản lý và thực hiện chương trình BHTN ở các Tiểubang cũng khác nhau Một số Tiểu bang có mức hỗ trợ thất nghiệp khá cao, một số Tiểubang lại có mức thấp hơn
Có thể nói Mỹ là một trong những quốc gia có nhiều loại hình BHTN nhất trên thếgiới tiêu biểu với bẩy loại hình là : Bảo hiểm thất nghiêp trên diện rộng ,BHTN dành chonhân viên liên bang, BHTN dành cho cựu quân nhân,khoản lợi ích mở rộng dành cho cáckhu vực có tỉ lệ thất nghiệp cao, hỗ trợ thất nghiệp do thiên tai, phụ cấp ảnh hưởngthương mại, hỗ trọ cho hoạt động tự doanh
Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp
Trang 11Là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ Họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạngthất nghiệp Những người này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định so với khoản thu nhập cũ nhận trong những thời kì cụ thể.
Mục đích của bảo hiểm thất nghiệp
- Ngăn ngừa sự bất ổn định về kinh tế, xã hội; hỗ trợ, đào tạo nhằm giúp người lao động
có cơ hội trở lại thị trường lao động, tìm việc làm mới; trợ cấp thất nghiệp
- Thay thế một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc làm mà không phải lỗi của họ
Trang 12Có thể nhận thấy được vai trò và mức độ hiệu quả của BHTN đối với nền kinh tế
Mỹ đặc biệt là trong những giai đoạn khủng hoảng , tuy nhiên BHTN đã thật sự công bằng chưa ? Bởi mỗi bang đều có những nguồn luật điều chỉnh bang, khiến cho nhiều người dân không hài lòng Họ mong muốn có một mức trợ cấp thống nhất trên cả nước Thêm vào đó, phần lớn nguồn trợ cấp thất nghiệp là từ thuế Đối với nước đang phát triểnnhư Việt Nam nếu trông chờ vào thuế để trợ cấp thì có thể sẽ dẫn tới hậu quả xấu, không mong muốn
Chúng ta có thể tham khảo mô hình BHTN mới ở ChiLe Một quốc gia đang phát triển ở Nam Mỹ có nhiều sự tương đồng đối với VN hơn
2.2 Bảo hiểm thất nghiệp tại quốc gia đang phát triển
Bảo hiểm thất nghiệp ở ChiLe:
Chile đã xây dựng hệ thống BHTN từ năm 1937, là nước đầu tiên ở Tây bán cầucải cách hệ thống Bảo đảm xã hội và là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện cải cách theotài khoản đầu tư cá nhân Đó cũng là một con đường mới của một nước đầu tiên sử dụngtài khoản riêng trong hệ thống BHTN
Hệ thống BHTN chuyển đổi hiện nay của Chile bắt đầu từ tháng 10/2002, đượcxây dựng trên cơ sở sự sở hữu tài khoản cá nhân cho tình trạng ngừng việc và làm cơ sởcho việc chi trả
Chương trình BHTN mới sẽ được đóng góp như sau: Cơ quan quản lý BHTN sẽtrích từ thuế lương để người lao động đóng góp 0,6% tiền lương của họ vào tài khoảnriêng của người lao động, đồng thời chủ sử dụng lao động đóng 2,4 vào tài khoản riêng
và tài khoản chung (trong đó 1,6% vào tài khoản riêng của người lao động và 0,8% vàotài khoản chung) Mỗi tài khoản riêng sẽ đại diện cho một người lao động và tài khoảnnày sẽ không được rút ra, cho tới khi người lao động chủ của nó bị thất nghiệp hoặc vềhưu Người lao động có thể rút tiền ngay khi họ chấm dứt công việc hoặc bị cho nghỉ việc
từ công việc cuối cùng của họ từ nguồn tài khoản riêng Điều đó tạo cho người lao độnglinh hoạt trong việc chuyển đổi chỗ làm việc Điều kiện về thời gian đóng BHTN vẫnphải kéo dài đủ 12 tháng
Trang 13Thời gian chờ đợi để được nhận tiền thất nghiệp là một tháng Thời gian này đượcquy định, nhằm thực hiện một loạt các đặc trưng chỉ định nhằm thúc đẩy sự cần thiết tìmviệc làm mới Thời gian chờ đợi này được coi như thời gian”đồng chi trả” trong hoạtđộng bảo hiểm Việc chi trả tháng đầu tiên của người thất nghiệp hoàn toàn do người thấtnghiệp từ nguồn tiền riêng Một tháng chờ đợi này, người lao động phải tích cực thựchiện các kế hoạch tái hoà nhập việc làm vì BHTN không trả tiền.
Thời gian hưởng thất nghiệp kéo dài nhiều nhất là 5 tháng, tháng đầu sẽ chi trả50% tỷ lệ tiền lương (nhằm hạn chế sự kéo dài tối đa) Các tháng kế tiếp sẽ giảm đi mỗitháng là 5% cho tới 30% vào tháng thứ năm
Tài khoản BHTN là một hình thức tài chính của BHTN theo phương thức lập quỹ
Ở đây, người ta đề cập đến một hệ thống tài khoản cá nhân, mà ở đó người lao động đónggóp phần của mình vào tài khoản và cũng sẽ rút từ tài khoản này tiền thất nghiệp trongtrường hợp bị thất nghiệp Số dư tài khoản đã đóng góp theo kiểu tiết kiệm sẽ được chitrả toàn bộ vào cuối cuộc đời lao động của họ
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng lập ra một nguồn quỹ dự trữ cho những người laođộng nào, mà tài khoản tiết kiệm cá nhân của họ không đủ để chi trả khi thất nghiệp Hệthống BHTN mới ở Chile, thực chất là kế hoạch tiết kiệm bắt buộc, mà ở đó người laođộng nhận được lợi thế riêng do phương pháp tài chính Người lao động sẽ có lợi nếu họkhông khi nào bị thất nghiệp Đo tài chính của BHTN theo phương thức tiết kiệm cá nhânnên đã tạo động lực thúc đẩy cho người lao động có gắng sớm tìm được việc làm mới
Hệ thống BHTN mới dựa vào hệ thống tài chính lập quỹ có hiệu quả hơn hẳn sovới hệ thống tài chính “ tọa chi - tọa thu” trước đây Điều đó thể hiện rõ trong các nộidung quản lý tài chính của chương trình BHTN mới: việc thu và chi từ các tài khoản cánhân; cập nhật các thông tin thường xuyên, nếu người lao động chuyển đổi chủ sử dụnglao động; tình trạng tài khoản cá nhân theo mức độ đầu tư và sự theo dõi dòng tiền vào -
ra của quỹ chung
Bởi tất cả những lợi ích mà chính sách mới trên ,có thể nói đây là mô hình đáng đểcho chúng ta xem xét và học tập
Trang 14II LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHTN
1 Khái niệm và đặc điểm của BHTN
1.1 Khái niệm.
BHTN là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong trường hợp bị mất việc làm và đang có nhu cầu tìm việc, đồng thời bao gồm một số biện pháp giúp họ trở lại với thị trường lao động
BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, song nó có một số đặc điểm khác như: không có hợp đồng trước, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một, không có việc chuyển rủi ro của những người thất nghiệp sang những người khác cókhả năng thất nghiệp BHTN không có dự báo chính xác về số lượng, phạm vi và có thể
bị thiệt hại về kinh tế rất lớn, đặc biệt là trong những thời kì nền kinh tế bị khủng hoảng
tố tác động như sự dịch chuyển lao động trong cơ chế thị trường, do thay đổi
cơ cấu sản xuất, thay đổi công nghệ, do lực lượng lao động có tính luân chuyểnlớn khi các doanh nghiệp thiếu tính bền vững, ổn định sản xuất kinh doanh hoặc do bản thân người lao động, nhất là lao dộng nhập cư thường hay thay đổinơi làm việc và nơi cư trú
- BHTN không chỉ dừng ở việc thu và chi tiền bảo hiểm mà còn gắn liền với tìnhtrạng cung, cầu trên thị trường lao động, với các dòng di chuyển lao động